Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ý thức hệ Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang

 

Báo Người đô thị đăng ảnh hai ông Phan Huy Lê – Vũ Minh Giang và giật tít: Phải đặt lợi ích quốc gia lên trên ý thức hệ.

Thật khó tin được một vị Giáo sư Sử học đương kiêm Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam – GS.TSKH Vũ Minh Giang – lại mơ hồ về nhận thức lịch sử đến mức này:

“Đừng tin rằng ai đó cùng ý thức hệ với mình thì họ sẽ bảo vệ mình. Không có chuyện đó. Bằng chứng là, tất cả các triều đại phong kiến phương Bắc đánh ta, thực hiện những hành vi cực kỳ dã man trên đất nước chúng ta, thì họ đều chung ý thức hệ Nho giáo với chúng ta” (Người đô thị số 72 (5-2018). Trg.19).

Mục tiêu của ông Vũ Minh Giang là đề cao quốc gia lên trên ý thức hệ. Đó là quan điểm của riêng ông. Chúng tôi tôn trọng điều đó. Nhưng thiển nghĩ, phàm là một nhà khoa học, khi đưa ra một luận điểm thì phải được thuyết phục bằng những luận cứ có cơ sở khoa học, có tính khoa học vững chắc. Luận cứ các triều đại phương Bắc với nước ta cùng chung hệ ý thức Nho giáo mà họ vẫn đánh chiếm nước ta, thực hiện những hành vi cực kỳ dã man… để chứng minh rằng cùng ý thức hệ nhưng quyền lợi khác nhau, không thể bảo vệ nhau, quyền lợi quốc gia như vậy là cao hơn ý thức hệ thì thật là đơn giản đến ngây thơ. Khi nói đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và vấn đề Nho giáo thì một sử gia nghiêm túc phải thấy rõ những vấn đề sau:

- Nho giáo vào Việt Nam không phải qua trao đổi, giao lưu văn hóa mà bằng con đường xâm lược, ăn cướp. Nho giáo theo đó chỉ là công cụ của kẻ xâm lược. Rất rõ ràng là các triều đại phương Bắc đã xem Việt Nam là dân man di mọi rợ, họ có quyền “giáo hóa” bằng cách trực tiếp dùng quyền lực thống trị. Họ đã đánh chiếm Việt Nam từ trước khi đưa chữ Hán vào Việt Nam. Chúng ta gọi là chữ Hán hay chữ Nho là do thứ chữ này được áp đặt vào Việt Nam từ thời nhà Hán. Mã Viện đã đàn áp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào đầu Công nguyên. Cùng với Mã Viện hay sau Mã Viện là Sỹ Nhiếp là người trực tiếp dạy chữ Hán cho người Việt. Nay vẫn còn đền thờ Nam Giao học tổ ở Bắc Ninh là đền thờ Sỹ Nhiếp.

- Tại Trung Quốc, Nho giáo cũng chỉ là công cụ của các triều đại phong kiến. Nho giáo đến đời Hán đã biến chất bởi Đổng Trọng Thư chủ trương độc tôn Nho thuật. Nó chỉ đề cao trật tự xã hội, thiêng liêng hóa trật tự thông thường trong gia đình và xã hội, thành đạo lý tối cao Tam cương – Ngũ thường, đến mức phản nhân văn: Vua xử chết mà không chết là bất trung. Cha xử cho con phải chết mà con không chịu chết là bất hiếu, v.v… Nho giáo đến đời Hán truyền vào nước ta đã cách xa Nho giáo nguyên thủy, đến khoảng nửa thiên niên kỷ. Vì Khổng Tử là đồng thời với Thích Ca Mâu Ni và Chúa Giê-su. Theo Đoàn Trung Còn thì Khổng Tử ra đời trước Công nguyên 600 năm (Tứ thư. NXB Thuận Hóa – 2013. Trg.5).

Ở đây cần phải thấy các triều đại phương Bắc bao giờ cũng lợi dụng Nho giáo, không phải Nho giáo chân chính mà Khổng Tử từng mong ước: Tứ hải giai huynh đệ hay như câu mở đầu thiên Đại học: Đại học chi đạo tại minh minh đức tại tân dân tại chỉ ư chí thiện… Rồi tu thân là để tề gia, trị quốc, làm cho thiên hạ bình trị… (Tứ thư. Sđd. Trg.5).

Rất dễ hiểu là hiện nay, tác phẩm của Khổng Tử như Tứ thư, Kinh dịch, Kinh thi… đang được xuất bản rất nhiều ở Việt Nam. Thế giới có Hội Khổng học. Có một người Việt Nam là UVBCH, GS. Phương Lựu.

Qua các thời đại, Nho giáo Việt Nam chân chính đã tiếp thu được tinh hoa Nho giáo nguyên thủy và vì vậy mà chính là các nhà Nho Việt Nam đã đứng lên chống lại quân xâm lược phương Bắc. Chúng tôi chưa rõ thân thế bà Triệu Thị Trinh nhưng lời nói khí phách của bà là lời nói ở một trình độ học vấn rất cao: Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân giặc Ngô, há chịu làm tỳ thiếp cho người…

Rồi tiếp đến là Lý Thái Tổ (Chiếu dời đô), Lý Thường Kiệt (Lộ Bố văn, Nam quốc sơn hà…), Nguyễn Trãi (Cáo Bình Ngô), Ngô Thì Nhậm thời Tây Sơn – Nguyễn Huệ cho đến các nhà văn thân yêu nước thời nhà Nguyễn mà tiêu biểu là Nguyễn Đình Chiểu và Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh…

Vì vậy, cần phân biệt Nho giáo chân chính với sự lợi dụng Nho giáo.

- Cần thấy rõ Nho giáo vào Việt Nam từ Tống Nho, là Nho giáo phản động. Cụ Phan Châu Trinh đã nói rõ trong Pháp – Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam – 1911 (Xem Tác phẩm chính luận của Phan Châu Trinh. NXB Trẻ – 2018).

Vì vậy, xin GS. Vũ Minh Giang đừng nói chung chung về Ý thức hệ và ý thức hệ Nho giáo.

Ý thức hệ và lợi ích quốc gia có tính lịch sử của nó. Bỏ qua vấn đề này, là phản khoa học, phản lịch sử. Có thể phác qua:

- Ý thức hệ phong kiến và lợi ích quốc gia: Ở đây lợi ích quốc gia là lợi ích của ý thức hệ, của vương triều. Hai khái niệm được đồng nhất với nhau.

Tính quy luật ở đây là khi nào ý thức hệ (vương triều, triều đại) thống nhất với lợi ích quốc gia, đại diện cho lợi ích quốc gia thì đạt được sức mạnh tối ưu. Đó là vào thời kỳ khai sáng cho đến cực thịnh của mỗi triều đại, cũng rất rõ trong lịch sử Việt Nam, rất rõ ở thời Nguyễn Mạt, từ Tự Đức đến Bảo Đại.

Nếu vận dụng luận điểm của ông Vũ Minh Giang vào giai đoạn lịch sử này rõ ràng là rất khiên cưỡng.

- Ý thức hệ tư sản và lợi ích quốc gia: Vì giai cấp tư sản và ý thức hệ tư sản ở Việt Nam ra đời trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp nên vấn đề không đơn giản như ông Vũ Minh Giang tưởng. Nên tách ra làm hai bộ phận.

- Ý thức hệ của giai cấp tư sản Pháp là lợi ích của giai cấp đó, không phải lợi ích quốc gia. Hành động xâm lược, cướp bóc trắng trợn, tàn bạo đối với các nước thuộc địa để làm giầu cho giai cấp tư sản là chính. Trong khi đó ở chính nước Pháp (chính quốc) vẫn sa lầy trong bất công xã hội và hậu quả kéo dài cho đến ngày nay. Trong sự giầu có của nước Pháp, có một nguồn quan trọng là cướp bóc, khai thác thuộc địa. Luận điểm của ông Vũ Minh Giang nếu vận dụng vào đây cũng rất vô duyên.

- Ý thức hệ của giai cấp vô sản Việt Nam: Có thể chia ra hai bộ phận:

+ Giai cấp, bộ phận tư sản mại bản mà quyền lợi của họ gắn với thực dân đế quốc. Bộ phận này sẵn sàng bán đứng quốc gia cho ngoại bang để giữ lấy địa vị kinh tế.

Các ngụy quyền hiện đại do Pháp – Mỹ dựng lên như Bảo Đại – Ngô Đình Diệm – Phan Huy Quát (anh ruột của GS. Phan Huy Lê) – Nguyễn Văn Thiệu… là rất rõ ràng. Các đại gia của giai cấp này như cô Tư Hồng, Bạch Thái Bưởi, Hoàng Kim Quy… cũng là rất rõ ràng.

+ Giai cấp (bộ phận tư sản dân tộc):

Cũng rất dễ hiểu. Đây là bộ phận có lòng yêu nước, có tinh thần dân tộc, có lương tri, vì họ vẫn còn gắn bó với quê hương, họ tộc. Và họ đã đi theo cách mạng, có đóng góp to lớn. Như gia đình của cụ Trịnh Văn Bô ở Hà Nội hay gia đình bác sĩ Phùng Văn Cung ở miền Nam thời chống Mỹ.

Nói chung, vì giai cấp tư sản ở Việt Nam sinh sau đẻ muộn, yếu ớt, lệ thuộc về kinh tế, không nắm quyền chính trị. Trong lịch sử ngắn ngủi, ở Việt Nam chưa có một nền văn hóa tư sản, chưa có hệ tư tưởng tư sản như các quốc gia châu Âu. Nên cũng không thể vận dụng luận điểm của ông Vũ Minh Giang vào đây được.

- Ý thức hệ Mác-xít – Tư tưởng Hồ Chí Minh và lợi ích quốc gia:

Đây là phạm trù hoàn toàn mới trong lịch sử chính trị và văn hóa Việt Nam. Nhờ có cẩm nang là chủ nghĩa Mác – Lênin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn. Mục tiêu trước hết, nhất quán, thủy chung của Hồ Chí Minh là dân tộc, là quốc gia, là nhân dân: Ham muốn tột bậc, cuối cùng của Người là Dân tộc độc lập – Đất nước thống nhất. Nhân dân được Tự do – Hạnh phúc. Ai cũng có cơm ăn áo mặc. Ai cũng được học hành. Nhờ ý thức hệ này mà Tổ quốc được tái sinh. Dân tộc được phục hưng. Đang Đổi mới – Hội nhập và Phát triển.

Tính lịch sử ở đây là: chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh, ý thức hệ Hồ Chí Minh mới giữ vững được Độc lập – Tự do, mới bảo vệ được quốc gia. Ý thức hệ Hồ Chí Minh không phải đứng cao hơn hay đồng đẳng với lợi ích quốc gia mà là thống nhất hữu cơ với lợi ích quốc gia, là bộ phận tiên tiến, đầu não, lãnh đạo quốc gia. Mục tiêu của ý thức hệ Hồ Chí Minh là Quốc gia – Dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào ngoài lợi ích của Nhân dân, của Đất nước. Đây là vấn đề hoàn toàn mới mà chỉ ở thời đại này mới có được trong lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc.

Như thế, tách rời ý thức hệ với lợi ích quốc gia trong thời đại Hồ Chí Minh rõ ràng là phản khoa học phản lịch sử trong thời điểm hiện tại, là phản chính trị. Là xóa nhòa, làm mất uy tín, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, là một bước để phủ định thời đại Hồ Chí Minh và đưa “lợi ích quốc gia” trở lại quỹ đạo tư sản, tức là một quốc gia mà quyền lợi nằm trong tay giai cấp hữu sản, không phải trong tay toàn thể nhân dân lao động. Làm được điều đó thì giai cấp của Phan Huy Quát hay Ngô Đình Diệm hay Bảo Đại sẽ nhiệt liệt đón mừng.

Về hòa hợp dân tộc, ông Vũ Minh Giang rất mỵ dân và rất thiếu tri thức thực tiễn.

Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương đoàn kết dân tộc, hòa hợp dân tộc ngay từ khi vận động cách mạng, khi đã giành được chính quyền, trong cả hai cuộc kháng chiến.

Nhờ vậy mà công cuộc giải phóng dân tộc mới được thành công.

Đương nhiên có một bộ phận dân tộc chưa ý thức được tính sống còn của hòa hợp dân tộc. Hoặc do họ chủ động trở lại phản dân tộc do gắn quyền lợi với ngoại bang như Bảo Đại – Ngô Đình Diệm – Phan Huy Quát – Nguyễn Văn Thiệu… Hoặc do bị cưỡng ép, do sinh kế, do bị tuyên truyền sai lệch như đồng bào Công giáo miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp định Giơnevơ, và nhiều lý do khác. Nhưng sau chiến tranh đại bộ phận bà con đã trở về với dân tộc. Nếu không hòa hợp dân tộc làm sao nước Việt Nam mới ra khỏi cuộc chiến tranh 30 năm có thể đứng vững và đương đầu thắng lợi với những biến cố khủng khiếp ở các cuộc chiến tranh biên giới Tây – Nam và phía Bắc trong nhiều năm, ngay từ sau 1975 cho đến sau 1979?

Chúng tôi đã có thời gian công tác, sinh hoạt với bà con khu Đa Kao, quận 1, TP. Hồ Chí Minh ngay từ sau giải phóng. Bà con đã nhận ra sự thực lịch sử và an tâm hòa nhập vào cuộc sống mới. Những gia đình có chồng con có chức sắc trong Ngụy quân – Ngụy quyền được đưa đi cải tạo. Bà con tự nguyện chấp nhận. Những người khác trong gia đình, các bà mẹ, bà vợ, anh chị em mọi lứa tuổi đều tham gia sinh hoạt xã hội rất tự nguyện. Cuộc bầu cử Quốc hội thống nhất năm 1976 diễn ra rất tốt đẹp là do chủ trương hòa hợp và thực tế hòa hợp. Thân nhân các chức sắc Ngụy quân – Ngụy quyền không bị tước quyền công dân. Họ rất phấn khởi tham gia ngày bầu cử ở khu phố mà cơ quan chúng tôi cư trú.

Đương nhiên có những bộ phận vẫn giữ lòng thù hận với cách mạng, chống cách mạng điên cuồng cả ở trong và ngoài nước, thì không thể hòa hợp một chiều được. Và vấn đề ở đây cũng không đơn giản. Vì nhận thức của mỗi con người, dù chung máu mủ, vẫn không phải một sớm một chiều. Ông Vũ Minh Giang nên biết, nhân vật Lý Tống trộm máy bay từ Thái Lan bay về rải truyền đơn ở TP. Hồ Chí Minh lại có anh là Giáo sư Văn học ở Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Mai Văn Hạnh chính là em ruột cố họa sĩ Mai Văn Hiến. Và một thời, trước ngày 22-10-2011, Phan Huy Quát đối lập với em mình là Phan Huy Lê về ý thức hệ… Cho nên, với những người bảo thủ, ngoan cố, quyết chống Cộng đến giọt máu cuối cùng, thì ông Vũ Minh Giang cũng nên biết bảo vệ giọt máu của mình. Ở đây có thể lấy tấm gương của luật sư Hoàng Duy Hùng hiện đang cư trú ở Hoa Kỳ làm ví dụ. Từ chống phá Nhà nước Việt Nam điên cuồng đến khi hiểu ra, lại ủng hộ cuồng nhiệt, dám chấp nhận, thậm chí hy sinh nhiều quyền lợi, khi công khai ủng hộ Nhà nước Việt Nam. Hay nhà văn Thu Tứ, con trai nhà văn Võ Phiến, đã trở về với dân tộc, với văn hóa dân tộc. Ông thường xuyên có bài trên Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh và tạp chí Hồn Việt…

Nhiều thực tiễn rất hay mà thầy trò các ông Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang lại ngoảnh mặt đi, thật tiếc lắm thay! Có lẽ ông Vũ Minh Giang chưa thuộc bài của thầy. Nên đọc lại GS. Trần Văn Giàu về lịch sử tư tưởng và ý thức hệ ở Việt Nam.

Hà Nội, tháng 12-2020

Nguyễn Ngọc Quang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 627

Ý Kiến bạn đọc