Tản văn

Xôn xao tháng bảy…

 

Mưa vừa ào xuống một trận, gột đi đôi phần những bức bối oi ả ngày hè, để mẹ tôi bắt đầu vun vén bao thứ cho tháng 7 khi mùa gặt đã xong, rơm rạ vun thành đống và cơm mới trong nồi còn thơm vị mồ hôi. Dù biết ngày mai có thể sẽ nắng hơn và cơn mưa thì lâu không ghé lại. Nhưng ruộng đồng lại cất lên tiếng gọi, mẹ đãi lúa giống, ủ phân tro, xới lại góc vườn cỏ rậm. Bố lo đan lại rào giậu, khơi lại con mương nhỏ trước nhà, lát lại mảnh sân đã bong tróc xi măng. Thằng cháu nhỏ bắc ghế ngó mẻ chuối phơi khô. Ngó đống bánh đa chưa kịp giòn, ngó sang mẹt tép tôm còn thiếu vài mẻ nắng. Bố mẹ nó đi làm xa, thằng nhỏ ở nhà lẽo đẽo theo bà qua hết mùa lúa đến mùa cà, hết mùa vải chín ngoài cây thì đến mùa kẹo lạc, bánh tro. Đêm đến nằm nghe bà ru còn rơm rớm thèm vòng tay của mẹ. Canh khuya vắng đứa cháu thảng thốt giữa cơn ác mộng, là bà vòng tay vỗ về đến sáng vẫn còn thương. Chỉ có cụ bà là hay ngồi lặng im, người ở đây mà lòng dạ hướng về Trường Sơn hùng vĩ. Cụ ông nằm lại ở đấy cùng đồng đội, mấy chục năm qua đi tìm hoài vẫn không thấy phần mộ ở đâu? Tháng 7 về hương khói khắp nơi nơi. Trên ban thờ là tấm hình cụ ông đã bạc màu năm tháng. Chỉ có nụ cười là mấy chục năm vẫn còn tươi tắn đến nhói buốt tim gan người ở lại. Giờ ngồi nhìn những đám mây trắng xốp bay qua vườn nhà trong một chiều đầy gió, cụ bà tưởng như ông cũng theo về…

So-606--Anh-minh-hoa---Xon-xao-thang-bay---Anh-1

Giữa lưng chừng tháng 7 là sự đợi chờ. Lúa gieo xong rồi chờ một mùa vụ mới. Thương từ cái nắng đầu ngày cho đến cái oi nồng khi đêm tối. Biết 10 hạt gieo xuống đất rồi liệu có nảy lên 5? Rồi thương đến dáng mẹ gầy, chiều nào cũng thấp thỏm trên đồng chờ kênh mương khơi về từng con nước, lòng cứ tự hỏi sao thời tiết mỗi ngày lại càng thêm khắc nghiệt? Ở đâu phá rừng, chặt cây thì không biết, chứ những người nông dân như mẹ cả đời này lúc nào cũng hiền hòa với trời đất, thiên nhiên. Mà cánh đồng trước nhà thì nắng hút đến cạn khô. Cây cối trong vườn héo rũ từng chiếc lá. Mẹ bỗng thương thằng cháu nhỏ, đến thế hệ của chúng thì còn phải gánh chịu sự đổi thay khắc nghiệt đến nhường nào?! Nên ông dạy cháu biết trồng một mầm cây trước khi dạy biết trèo lên hái quả. Biết yêu thương vạn vật xung quanh mình và nâng niu từng sự sống. Để một tháng 7 nào đó của mấy chục năm sau, cháu con mình không phải ngửa mặt lên trời thốt lên tiếng “Than ôi!” khổ cực. Điện mùa này thỉnh thoảng lại bị cắt bất ngờ. Ngày thì nhờ vào bóng cây, đêm mong từng cơn gió. Đứa cháu nhỏ lăn qua lăn lại, thỉnh thoảng hỏi “Bà ơi, bao giờ bố mẹ cháu mới về?”. Bà không dám hứa điều gì vì cũng không biết chắc được ngày mai, chỉ hiểu rằng cuộc mưu sinh này còn dài đằng đẵng. Rồi cháu sẽ lớn lên, sẽ hiểu được vì sao có những khi rất muốn mà không thể bên nhau. Có những người cả đời chỉ biết yêu thương bằng hai từ “xa cách”. Cơm cháu ăn, sách cháu đọc, áo quần mà cháu mặc, đều là sự chắt chiu thương nhớ đến tận cùng. Lời ru của bà cũng nặng phù sa, cũng có cánh cò, cũng gù bông lúa. Đủ bao la để ôm cháu vào lòng bao bọc qua những mùa thơ ấu. Đủ êm đềm nuôi nấng, đủ thương yêu vá víu những khoảng cách xa vời…

Rồi thì giữa đêm cơn mưa cũng ập đến bất ngờ. Lộp độp rơi trên mái tôn, đánh thức từng cơn gió. Cụ bà lại trở giấc thắp thêm lên ban thờ những que nhang ấm. Chiến tranh đã qua lâu lắm rồi, người sống cũng đã già chỉ có người nằm xuống là trẻ mãi với non sông. Ai cũng biết cụ bà vẫn chờ mong một ngày nào đó không xa sẽ được gặp lại người chồng hơn nửa đời xa cách. Những hò hẹn thời trẻ hẳn vẫn còn nguyên trong ký ức. Cụ bà đã giữ cho riêng mình qua hết tháng 7 này lại đến tháng 7 kia. Trường Sơn nơi cụ ông nằm thật ra cũng đâu quá xa xôi. Vì nghìn cây lá vẫn hát xôn xao trong lòng bà giữa những đêm không ngủ…

Vũ Thị Huyền Trang
(Tỉnh Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 606

Ý Kiến bạn đọc