Truyện ngắn

Xóm Cây Cồng

Xóm có cái tên Phú Phong rất mượt nhưng ngoại trừ người tại chỗ thì không ai còn nhớ cái tên ấy. Đôi khi đọc trên giấy tờ xóm Phú Phong, người xóm còn ngơ ngác nói chi người ngoài, phải nói xóm Cây Cồng hoặc xóm Cồng người ta mới nhận ra.

Ở vùng nửa quê nửa chợ, đất cát ít, hết mùa ruộng rẫy thì dân xóm trở qua nghề xe lôi xe kéo, vất vả quanh năm. Một số có gốc gác từ xưa, đời cha ông đã tới lập nghiệp, số còn lại là dân ngụ cư vốn liếng không nhiều để ở chợ, ruộng vườn không có để ở quê nên chọn xóm này nương thân. Ở quê tới vụ thì đi vào cấy gặt, không thì ra chợ khiêng vác, bán buôn vặt vãnh kiếm sống. Vùng đất giao thoa trong buổi giao thời, người cũng trong cảnh đó.

Mien-yen-tinh---Tran-Van-Quan
Miền yên tĩnh – Khắc gỗ – HS Trần Văn Quân

Tên xóm Cồng có từ xa xưa, mà cái xóm cũng lắm cồng thật. Chưa ở đâu có cả hàng trăm cây cồng đứng dọc cả đoạn đường chính xuyên qua xóm đường bệ vươn tỏa phủ bóng một góc trời. Nghe đâu từ khi lập đường, người trong xóm thuở ấy đã trồng, cách khoảng đều đặn chục thước một cây. Loại cây dân giả, do dân gian trồng, không phải để tỉa cành lấy củi, xẻ thân làm gỗ mà trồng cho có bóng mát, cho vui làng đẹp xóm, thế thôi! Những người già nhất trong xóm bảo rằng từ nhỏ mình đã chạy chơi đuổi bắt dưới bóng hàng cồng. Con đường xóm mấy tuổi thì tuổi hàng cồng cũng chừng ấy. Người đi kẻ ở, cửa nhà đất cát bao lần thay chủ nhưng hàng cồng của xóm vẫn nguyên, cứ lớn thêm cao thêm, xanh mướt.

Là cây đặc sản vùng sông nước, trồng ra đấy, chẳng phải nhọc công chăm sóc, cây tự lớn như thổi. Rễ bạ ăn lan mặt đất nhưng nhờ bám dựa vào nhau mà cồng vẫn thẳng thớm, không lệch đổ. Mọc lên một đoạn thật cao cồng mới chia cành, cành nhánh vươn lên tắp tít tỏa tán lá sum suê phủ kín cả khoảng trời. Có chỗ cành nhánh bên này bên nọ ràng chéo chằng chịt như vịn nhau, khoác giữ, bíu chặt nhau từ trên không làm thành một vòm xanh chạy dài hun hút. Dưới thì gốc nào gốc nấy bạnh ra, rễ đan bấu, bám chít vào nhau từ trong đất, bò lan lên cả mặt đường. Xe qua đoạn đường xóm lóc xóc như vượt dốc dằn.

Cả hàng trăm cây, thân nào thân nấy to tướng ba người ôm. Đoạn đường xóm rợp bóng quanh năm. Và có cây thì sao thiếu chim? Chim sẻ, chim cu, chàng làng, sáo sậu, bồ chao… về trú ngụ, tha rác làm tổ trên các cành nhỏ chóc ngóc. Buổi sáng buổi chiều cả một dàn hợp xướng đa thanh âm từ các loài chim rộn ràng vui tai biết mấy. Người ta tới đây không chỉ để ngắm cồng, mà còn ngắm chim và nghe tiếng hót.

Mùa xuân, cồng cũng trổ hoa nhưng bị tán lá che kín, chỉ thấy khi làn gió đổi mùa lay cành, những sợi hoa tím hồng nhạt tung tả xuống phủ từng lớp, đi như bước trên nhung. Rồi đậu trái, trái xanh lẫn trong lá, trái già khô đen quăn quéo lại. Những trận mưa đầu mùa hất tung trái rơi túa xua xuống vỡ đầy mặt đất, lúc ấy trời sang thu. Không như những loài cây lá lớn, lá cồng nhỏ, từ chiều tắt nắng đã bắt đầu khép ngủ. Khi những cành non đã đâm chồi nảy lộc, những cánh lá nhạt đã xòe ra, lá già mới rụng. Lá già chờ đợi để che đỡ lá non nên chậm rời cây, nhờ thế mà ngay cả khi đông về, cành nhánh vẫn không trơ trụi. Một trận gió qua, những mảnh lá mỏng như những đồng tiền bé xíu rắc tua rủa xuống phủ kín lớp rễ đan chéo ngoằn ngoèo trên mặt đất.

Cái xóm dân giả nghèo nàn mà cả xứ đều biết tiếng cũng nhờ cồng. Xóm Cồng xanh nổi vượt lên giữa một vùng xanh, từ xa đã thấy. Khách có dịp ngang qua xóm không ai không ngừng lại nghỉ ngơi trầm trồ một lát. Dân trong sâu ra chợ thì xóm Cồng là mốc chính trên khoảng đường dài, đi không nghỉ thì về cũng phải dừng. Có khách thì có quán, vài nhà rỗi việc đồng áng cũng dọn cái bàn với vài ba cái ghế tuềnh toàng dưới gốc cồng cho khách ngồi nghỉ uống chén nước, có khi cũng sai sắp nhỏ bày ít rau đậu, bắp khoai cây nhà lá vườn bán mua đổi chác thu nhập chút đỉnh. Có khách dừng trước nhà cũng như nhà có khách, vui là vậy. Nhọc nhằn đường xa như vơi hẳn và còn thú gì bằng ngả lưng dưới bóng cồng mát rượi, nghe tiếng chim sẻ ríu rít, tiếng đôi bồ chao liến thoắng hoặc tiếng cu gù khi gần khi xa đậu trên những cành cao… Thỉnh thoảng, nam thanh nữ tú ngoài chợ cũng kéo nhau từng đoàn vào quây quần múa hát, bày trò chơi, đuổi bắt hồn nhiên như trẻ con rồi kéo nhau về. Dân trong sâu ra chợ, đi thôi chứ về bao giờ cũng trông tới xóm Cồng mà dừng để uống ly nước, hút điếu thuốc nghỉ chân. Nhờ hàng cồng mà dân trong sâu không biết tự lúc nào trở nên thân thiết với dân xóm Cồng. Ngang nhà là kêu í ới, chợ xong, gấp gì cũng ghé rôm rả năm điều mười chuyện, thân tình như thể bà con. Xả hơi một chặp lại tất tả về. Xóm Cồng nghèo thế mà có khi nào thiếu khách đâu.

Anh-minh-hoa-2

Dân xóm, nhất là cánh đàn ông, rỗi việc một chút đã ra hàng cồng uống nước, đánh cờ, tán gẫu. Thôi thì đủ, từ chuyện cày bừa giống má thời tiết đến chuyện đắt chuyện ế, giá cả thị trường rồi chuyện quốc gia, rồi chuyện quốc tế… Nói rồi bình, bình thật cũng lắm, bình phiếm thiếu chi, trăn trở sinh kế, ưu tư chuyện đời biết bao nhưng tiếng nói tiếng cười dưới hàng cồng vẫn đều đặn sinh sôi. Cứ lạng một vòng, ghé gốc này một chút, xề gốc kia một chút là hay đủ thứ chuyện, cảm được mạch sống tinh thần đang chảy trong lòng người dân xóm. Cánh đàn ông như ghiền, mỗi ngày không ghé hàng cồng thì cảm thấy thiếu gì đó, vài hôm không ghé đã thấy mình bỡ ngỡ lạc hậu. Đi đâu xa, hướng về nhà thì hàng cồng đã hiển hiện trong tâm trí. Người xa xóm, tới đâu thấy bóng cồng đã liên tưởng về và tự hào hãnh diện sao bằng được hàng cồng xóm mình.

Thích nhất vẫn là lũ trẻ, không chiều nào chúng không tụ tập đuổi bắt trốn tìm, bám đuổi nhau chạy quanh gốc cồng rồi đột ngột vù qua gốc khác, núp thụt, ló qua ló lại đứa nào đứa nấy nhanh như sóc. Hàng cồng như một khu rừng, một thế giới thiên nhiên thu nhỏ tràn đầu cây lá, chim chóc, hang hốc, thân thuộc nhưng gợi biết bao điều bí mật, bao điều tò mò của tuổi thơ. Chúng rình bắt những chú tắc kè con từ trên cao rơi lạc xuống đem về nuôi cho bắt muỗi, bắt thằn lằn. Hàng cồng là một khu rừng lý tưởng cho tắc kè sinh sôi, ngày thì chim chóc ngự trị nhưng đêm về, bọn tắc kè chiếm lĩnh. Chúng ở tít trên cao nên những tay săn thiện nghệ cũng khó lòng đánh bắt. Đêm về, tiếng tắc kè… kè… kè liên tục từ đầu đến cuối hàng cây. Hình như cả hàng vạn con, đêm càng khuya, tiếng tắc kè càng vọng rõ rộn động cả một vùng âm u. Có pha đèn pin lên cao sẽ gặp những con mắt đỏ kè, thoáng cái chúng lẫn mất và tiếng tắc kè… kè… lại liên hồi báo động.

Người ta thường bảo đất lành chim đậu, chim chọn nơi đã đành mà người lành cũng tìm tới. Xóm giữa chợ và quê đáng lẽ là nơi trú chân của tệ nạn thế mà tuyệt nhiên không thấy, không nghe giật dọc trộm cướp, không có chuyện gây sự đón đường. Nghiện ngập hoang đàng là chuyện ở đâu đâu. Đêm hôm, phấp phỏng ở đoạn đường nào nhưng đến hàng cồng, đến xóm Cồng là tìm được nơi yên ổn, lỡ độ đường ghé xóm Cồng là có chỗ trú chân. Dân siêng tụ tập nhưng sống hiền hòa, ai cũng tránh chuyện so kè, xích mích to tiếng. Người người hợp quần, không biết tự lúc nào bản tính thuần phác nhún nhường đã hằn sâu trong máu thịt. Hình như cứ tới xóm Cồng, ngó thấy hàng cồng thì cái tâm con người thuần phác lại, trong trẻo ra… Xóm nghèo, cuộc sống chật vật nhưng người không muốn rời, cực chẳng đã phải rời xa thì vẫn mang hàng cồng trong tâm tưởng, đau đáu có ngày trở lại. Người xóm đi xa, có dịp về là có dịp thăm ngắm hàng cồng cho đỡ nhớ, ghé láng giềng cũng như người thân, nay nhà này kéo, mai nhà kia mời, tâm sự dăm ba bữa vẫn chưa thỏa tình.

Tin giải tỏa hàng cồng để mở lộ lớn gây chấn động lớn, làm bàng hoàng người dân xóm. Tin lan nhanh như điện, mọi người không ai bảo ai đều tụ về hàng cồng. Thực khó tưởng tượng nổi hai hàng cồng cổ thụ cả trăm tuổi đã in hằn trong tâm trí bao thế hệ người dân xóm, chính cồng làm nên cái xóm này mà nay mai sẽ bị cưa trụi, bị đào trục hết gốc. Ông cụ Móm gầy guộc càng hốc hác thất thần. Cụ không nói được lời, bần thần thao thức chẳng thiết ăn ngủ. Mấy ngày liền cụ tha thẩn mân mê ngắm ngó hết cây này qua cây nọ. Thế hệ cụ ít có dịp đi xa, chỉ quẩn quanh với ruộng rẫy, với cái xóm nhỏ hiền hòa, nhỏ sống với cồng, lớn lên với cồng và bây giờ già cả cũng quanh quẩn bạn với cồng. Nghĩ dại, sau này có trăm tuổi hồn cũng tìm về vương vấn nương dựa trên hàng cồng. Các thế hệ trước đều ra đi chỉ còn chúng ở lại, tưởng vĩnh hằng dè đâu giờ chúng lại đi trước mình. Nghĩ đến đó, cụ thở dài nghẹn lại, thương lắm!

Ngược với thái độ trầm ngâm của ông cụ, Tư Hía và mấy ông bạn thì bực dọc gay gắt. Bảo rằng ngay cả dân xóm cũng chỉ lượm ba nhánh khô, không ai nỡ mé nhánh tươi, không dám làm đau cành đau nhánh cồng mà nay đốn hạ hết. Chiến tranh mấy chục năm, người chết, nhà cửa cũng hư nhưng cồng vẫn còn, xóm vẫn còn. Nghe đâu rừng trên nguồn còn không giữ được, bị triệt phá hàng loạt, đi một vòng rộng ra trong vùng hỏi có nơi nào còn cổ thụ, không bán trước cũng bán sau, hỏi thử nơi nào hàng cồng cả trăm cây cổ thụ còn nguyên vẹn như xóm ta. Chặt hết, đào hết liệu có còn cái xóm Cồng này không? Cái cảm giác chưng hửng, ngạc nhiên đến cay đắng làm cho mọi người rối lên, thẫn thờ, nín lặng nhìn nhau lắc đầu.

Bà vợ Tư Hía cũng như người ta, tranh thủ bắc cái bàn, vài cái ghế dựa gốc cồng trước ngõ bán giải khát, đèo thêm ít rau cải bánh trái bán buôn lặt vặt. Nghe chuyện, vợ Hía luống cuống hốt hoảng. Bấy lâu dựa gốc cồng mà thêm đồng ra đồng vào, người qua người lại ghé thêm vui nhà vui cửa, nay mở đường lớn, xe qua cái vù, ai ở đó mà dừng. Có người bảo thì cũng là cơ hội buôn bán làm ăn lớn, vợ Hía gạt đi bảo rằng buôn bán lớn đâu ngoài phố ngoài chợ, người ta giàu, vốn lớn lại quen nghề quen mối, mình rảnh công chuyện mới bày bán mấy ly trà đá, ba thứ cây nhà lá vườn kiểu dân nghèo mua bán đổi chác với nhau. Không mở đường chỗ khác lại bày mở ở chỗ người ta đang ăn yên ở yên. Phá hết cồng, mở lộ rồi không biết xoay xở thêm làm sao cho đủ tiền chợ, tiền áo quần tập vở cho sắp nhỏ nữa đây.

Không khí gia đình Tư Hía nặng trịch. Cha mẹ cảu nhảu bất an nhưng thằng Tâm và con Hương cứ tỉnh bơ, phấn chấn nữa là đàng khác. Chúng nghĩ rồi thì nhà ra đường lớn thành phố xá như người ta chứ không thì muôn đời muôn kiếp, đi đâu cũng mang cái tên dân xóm Cồng quê kệch. Cồng nhiều cũng chỉ ngó coi, có ăn được nó đâu, bao đời khoe ngó cồng mà còng lưng muốn gập. Chúng nghĩ đến chuyện mở quán dựng tiệm khi có đường lớn, cần thì khuyên cha mẹ bán ít đất ruộng, không thì sang một phần mặt tiền là có vốn lớn, lên nhà lên cửa, sắm sửa xe cộ mấy hồi. Nghĩ thôi mà đã rạo rực xôn xao trong lòng.

Niềm vui của anh chị lan cả sang thằng Cu Tí. Nghe đường rộng, xe qua lại nhiều, nó cũng mơ. Nó hình dung những chiếc xe cần cẩu cắt cây, những xe đào xe xúc xe ủi xe hủ lô làm đường… Nó mơ thấy con đường lớn trải nhựa đen thui như những con đường phố chợ… Bỗng nó hụt hẫng khi sực nhớ, nhỡ người ta phá hết hàng cồng thì còn đâu để sớm sớm chiều chiều chơi trò cút bắt, rình nhắp tắc kè hoặc lượm chim non về nuôi. Thế nhưng, bạn nó bảo con đường ngang qua xóm Cồng còn lớn hơn cả đường phố chợ, nghe háo hức quá, trông sao tới ngày mở đường, nó sẽ xin nhảy lên ngồi trên xe ủi hoặc xe hủ lô cứ thế chạy tới ủi cho bằng, cán cho đằm cho phẳng.

Nhiều người cũng bàn ra tán vào rằng sao không mở con đường nơi khác để giữ lại hàng cồng. Nhưng rồi ai cũng thấy là đường hẹp phải mở, lẽ đâu con đường từ phố chợ về đến xóm Cồng thì phải chuyển hướng uốn cong lại, mà nếu uốn thì rồi nó chạy vào đâu, lại cũng đi qua xóm Cồng và ăn vào đất hàng trăm nhà. Hàng cồng nằm trên đường cũ đất công mở còn khó nay lại ăn vào đất riêng thì rắc rối đến cỡ nào. Ai đời con đường đang thẳng, đến xóm mình lại bắt chạy cong chạy queo, ra chuyện ngược đời. Hơn nữa, mở đường là chuyện quốc gia, đâu phải chỉ vì cái xóm Cồng nhỏ bé này mà cản trở đại sự. Có người xẵng giọng bảo đã nói mở lộ, giải tỏa thì làm quách đi, chịu đau một lần cho xong, cho dứt chứ làm kiểu nhợm nhợm năm này năm nọ như kéo dài cơn bệnh thì chắc dân xóm mình nhức nhối nỗi cồng mà chết. Bàn tán đã nhiều, bài bác cũng đủ, xôn xao tiếc nuối lắm nhưng ai cũng nhận ra thời thế phải vậy thôi, chẳng ai cản trở gì.

Ngày mở đường đến.

Hôm ấy, hình như mọi người xóm Cồng đều ở nhà, thức dậy sớm hơn mọi bữa và thấp thỏm chờ đợi. Nhiều người đi đi lại lại từ đằng này đến đằng kia đường ngắm nghía, hình như người ta muốn lưu dấu ấn cuối cùng của hình ảnh hàng cồng trong tâm trí kẻo rồi nó không còn nữa. Người ta mân mê lớp da cồng sần sùi như từ biệt người sắp đi xa. Những chiếc xe cần cẩu từ ngoài phố ầm ì lấp ló, ầm ầm xuất hiện rồi dừng lại trước hàng cồng, tắt máy. Không biết chuẩn bị từ lúc nào, cụ Móm và các bô lão khăn đóng áo thụng chỉnh tề, sai bày biện mấy thức lễ vật. Các cụ run run bước tới, kính cẩn bái lạy, miệng lâm râm khấn vái. Sau các cụ, những người trong đội xe cũng nhập vào van vái xin phép được cưa đốn. Không khí lặng như tờ, nhiều tiếng thở dài thút thít rồi im bặt. Hàng cồng bỗng ù ù gió, các cành cây xô vào nhau xào xạc, chấp chới lay động rồi rũ xuống. Thường ngày, bừng sáng chim chóc đã ríu rít hót ca, bay lượn, nhảy nhót chuyền từ cành này sang cành khác thế mà giờ tịnh không một tiếng động. Tàn cây nhang, các cụ lẳng lặng lui về. Đội trưởng cần cẩu ra lệnh nổ máy xe, công nhân chuẩn bị. Tiếng xe cần cẩu nổ máy rồ ga ầm ầm, cẩu đưa mấy người thợ lên cao. Thợ tròng dây níu cột các nhánh, mọi người chăm chú nhìn theo. Máy cưa được giật nổ rít cắt rào rào, cành cây gãy rắc đổ ụp xuống. Nhiều người quay mặt đi. Tiếng máy cưa lại rít lên xé vào cành khác. Tiếng gãy “rắc”, tiếng rơi “soạp soạp”. Hàng loạt cành nhánh đứt gục lỏng chỏng đầy đường. Chẳng mấy chốc mà cây cồng đầu tiên đã trụi lủi nhánh cành, trơ thân. Xe lại cẩu nhóm thợ vươn qua tàng kế xén tiếp, một nhóm thợ khác dùng cưa máy lớn xoay vòng thân cồng cắt đến tận gốc. Tiếng rít xé, tiếng cây đổ vật ầm ầm chấn động cả vùng đất. Chỉ còn lại mấy đứa trẻ con hiếu kỳ nhòm ngó còn dân xóm Cồng đã tản hết, cửa nhà nào nhà nấy đóng im ỉm.

Phải mất hơn cả tháng mới đốn hạ hết hàng cồng. Cành nhánh vương vãi chồng chất được dọn dẹp ra xa chỉ còn trơ các thân cồng bị tiện từng khúc trầy trụa vật vã bên đường. Người ta đo vòng, đếm thớ té ra cồng đã già trăm tuổi. Lớp vỏ lớp giác mỏng tênh, lớp lõi nâu sậm càng vào trong càng thâm đen. Cồng vườn mà già thế này gỗ cứng còn hơn sắt, không thua gì cồng rừng. Hèn chi máy xoẹt đến đâu khói tóe đến đấy, lưỡi cưa chùng lại, phải thay năm lần bảy lượt mới tiện nổi.

Đến khi xe xúc xe ủi tràn vào đào banh mọi thứ, khoét những hố lớn như hố bom để trục kéo, lôi bật các gốc lên thì con đường tan tác như một bãi chiến trường. Các gốc cồng bị nạy trốc lên như những quái vật nằm chơ vơ, nhánh rễ đâm ngược lên trời.

Dân xóm là chủ sở hữu hàng cồng. Cành nhánh giao cho các gia đình thu dọn làm chất đốt. Trên trăm thân cồng được đem bán đấu giá, số tiền thu được dành để chi cho việc xây dựng ngôi đình.

Bàn bạc tên đình, có người bảo nên lấy đúng địa danh Phú Phong mà đặt, tên Phú Phong nghe mượt mà, đã giàu lại sang trọng, điều mà dân xóm hằng mong mỏi. Thế nhưng, bàn tiếp thêm nữa thì mọi người đều gạt đi. Bảo rằng cái tên Phú Phong chỉ trên giấy trên tờ còn cái xóm này gắn với cồng cả hàng bao thế hệ, nhờ cồng mà có tiếng tăm, được mọi người nhớ đến, biết đến cả trăm năm nay. Bây giờ, cũng nhờ cồng mà có tiền xây được đình, nỡ nào không lấy cồng đặt tên. Mọi người đều tán đồng, đình được gọi tên Đình Cồng. Có người bàn thêm rằng Đình Cồng không có cồng không được, phải chọn hai cây cồng non thật tốt đem trồng trước sân cho thật trang trọng. Ai cũng cho là phải.

Đình khởi dựng nửa năm thì tất công. Ngày khánh thành, hai chữ Đình Cồng được trang trọng gắn lên bảng lớn cửa tam quan. Cả xóm hội tụ múa hát. Và lạ thật, không biết bầy chim sẻ biệt tăm đâu gần cả năm từ ngày hàng cồng bị đốn hạ bỗng về nườm nượp, chui vào chui ra gọi nhau ríu rít. Mọi người phấn khởi bảo đất lành chim đậu, chim tìm về hội tụ là tin báo điềm lành của xóm Cồng rồi.

Có thể nói cụ Móm là người theo sát nhất việc xây đình. Không ngày nào cụ không tới, hết ngắm hướng thì coi thước tấc, quanh quẩn bên các nhóm thợ xem xét từng lát bay, mạch gạch, vỉa hồ, khuyến khích động viên mọi người làm việc. Kính lão đắc thọ, trong buổi khánh thành, mọi người mời cụ nói. Cụ từ chối bảo rằng già cả rồi, cái tai nghe đã thuận, không dám nhiều điều. Thế nhưng, ai cũng kèo nài mời cho được. Cụ đành nhỏ nhẹ rằng xưa nay, xóm nhờ có cồng mà có tên, nhờ cồng tạo dựng thiên nhiên độc đáo. Nay thiên nhiên xưa không còn, đình dẫu có khang trang, có nơi tụ họp nhưng so với nơi khác thì sao cho bằng. Có phần vỏ phải lo phần ruột, có phần xác cũng phải tính phần hồn, phải có hội đình thế nào cho hay, dân tình thế nào cho đẹp. Mọi người ngẫm nghĩ đồng lòng và tán dương: Hội đình phải hay, dân tình phải đẹp!

Và bây giờ, có dịp theo con đường nhựa thênh thang ngang qua xóm Cồng, ai cũng nhìn thấy ngôi đình khang trang rộng mở đêm ngày, trước sân có hai cây cồng xanh mướt. Có người thắc mắc sao lại có cái tên Đình Cồng ngộ thế? Bảo là bởi đình có hai cây cồng. Thế sao gọi xóm ấy là xóm Cồng? Người hiểu chuyện kể rằng xưa đây vốn là xứ sở của cây cồng, một vùng cồng xanh tươi che chở xóm dân hiền hòa… Mà nè, ra giêng là Đình Cồng khai hội mấy ngày đấy, người người tấp nập, đủ thứ trò chơi, hát hò dân giả, thú vị lắm!

Bút Nguyên Tử
(Quận 9, TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 388

Ý Kiến bạn đọc