Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Xem những bức tranh thế giới bằng ngôn từ của Lã Nguyên

PGS.TS Lã Nguyên có bài viết “Tố Hữu – lá cờ đầu của văn học xã hội chủ nghĩa” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 4 năm 2015. Ở đó nhà phê bình này vận dụng lý thuyết về “ngôn ngữ thế giới quan” để chỉ ra mấy “bức tranh thế giới bằng ngôn từ” mà Tố Hữu “vẽ” nên trong thơ ông và qua đó về “đặc trưng của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Thực ra đó là những “bức tranh” chính Lã Nguyên vẽ ra (hay bôi bác ra!) chứ Tố Hữu đâu biết gì đến thứ lý luận ông PGS.TS này thồ về.

Muốn hiểu những “bức tranh” này cần lướt qua tí chút lý luận đã được nhà phê bình thồ về là “Ngôn ngữ thế giới quan”, cách ông hiểu theo sách của A. A. Gvozdeva. Đó là “hệ thống kí hiệu, là cấu trúc biểu nghĩa của một cộng đồng ngôn ngữ được sử dụng để kiến tạo bức tranh thế giới qua lăng kính giá trị của nó trong giao tiếp”. Đó là bức tranh thế giới bằng ngôn từ (1). Ông cũng nói đến công trình nghiên cứu của ông chỉ ra hiện nay người Việt dùng “ngôn ngữ thương trường” để dựng nên bức tranh thế giới giống như một thương trường. Rồi ông vận dụng vào thơ Tố Hữu xếp loại thành các “ngôn ngữ nhà binh”, “ngôn ngữ dòng tộc”, “ngôn ngữ hội hè”.

Nghe những trình bày thứ lý thuyết văn học tân kỳ, chúng tôi không thể không vạch ra cái “điệu đà”, “cao đạo” và cả cái ngộ nhận về chất “sáng tạo” ở những “khái niệm” này. Thật ra ngôn ngữ học thế giới người ta đã nói đến sự phân nhóm của một cộng đồng ngôn ngữ phản ánh sự phân nhóm trong cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ đó. Có những nhóm phương ngữ phân theo địa vực. Có những nhóm ngôn ngữ nghê phân theo nghề nghiệp. Có cả những nhóm biệt ngữ, tiếng lóng (2). Cùng với những cách phân loại trên, còn có sự phân loại ngôn ngữ sử dụng các lĩnh vực hoạt động như: ngôn ngữ quân sự, ngôn ngữ bóng đá… Sự phân loại này liên quan đến một qui luật trong ngôn ngữ. Đó là tùy vào sự nổi trội của một hoạt động nào đó những từ ngữ và cách nói năng trong hoạt động đó sẽ tràn sang các lĩnh vực khác (theo cơ chế ẩn dụ). Ví như thời kháng chiến chống Pháp, ngôn ngữ quân sự đã tràn sang nhiều lĩnh vực (chẳng hạn trong tình yêu, hôn nhân, người ta cũng nói “tấn công đối tượng”…) và nay là “ngôn ngữ thương trường”, “ngôn ngữ bóng đá”…

Hiểu biết những kiến thức ngôn ngữ như thế dễ thấy rằng chẳng nên thồ về những lý luận văn học mô phỏng ngôn ngữ học không làm tươi màu hơn bức tranh ngôn ngữ, mà trái lại còn làm rối nhiễu những người ít có điều kiện tiếp cận vấn đề tử tế.

Cái vốn ngôn ngữ cả lý thuyết lẫn thực hành càng bộc lộ rõ hơn trong những “phát kiến” cụ thể về những “bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ” của tác giả. Trước hết là cái “bức tranh thế giới” bằng loại “ngôn ngữ thế giới quan” được gọi là Ngôn ngữ nhà binh. Bằng cảm thức ngôn ngữ thông thường của người Việt ai cũng thấy thái độ xấc xược trong cách dùng từ ấy. Bởi vì bằng trực cảm thôi ai cũng biết trong nghĩa từ có nét nghĩa biểu thái, biểu lộ thái độ người nói. Có một loạt từ nói về người lính mà sắc thái khinh trọng ai cũng rõ. Từ xưa có các từ chiến binh, chinh nhân, chiến sĩ và gắn với người đánh thuê ở các cuộc chiến tranh phi nghĩa hoặc phục vụ các ông chủ đối lập với nhân dân, có các từ nhà binh, lính tẩy, khố đỏ khố xanh… Trong thơ kháng chiến (chống Pháp, chống Mỹ) với ý thức ngợi ca những chiến sĩ chiến đấu vì Độc lập dân tộc đáng quí trọng và thực tế được toàn dân (tiến bộ, tất nhiên) quí trọng, Tố Hữu dùng nhiều từ có sắc thái quí trọng nói về họ và công việc của họ thì sao có thể dùng từ xấc xược như thế được. Lã Nguyên có cái “điểm nhìn” gắn với lập trường nào khi dùng từ đó? Tưởng không nói ai cũng rõ giống như đối với ông nhà văn nọ muốn nôn mửa vào cuộc kháng chiến chống Mỹ để hài lòng những kẻ lôi kéo ông ta bằng những phần thưởng quốc tế. Tiếp đến cái gọi là ngôn ngữ dòng tộc. Phải thành thật nhận rằng cái nhóm từ này là một sáng tạo độc đáo chưa lặp lại bất kỳ của ai! Bởi vì trong tiếng Việt chỉ có khái niệm khinh trọng trong hệ thống đại từ, và trong sự trọng thị người ta luôn muốn coi người đối thoại có quan hệ thân tình như trong gia tộc. Hệ thống các đại từ chỉ người thân trong gia đình, gia tộc dùng theo cách chuyển nghĩa ẩn dụ để chỉ những người không có quan hệ ấy. Là người Việt dù nhỏ người ta ai cũng có thể biết và sử dụng cách xưng hô ấy. Đâu có ai cho rằng đó là ngôn ngữ dòng tộc! Tất nhiên có chuyện có hệ quả tiêu cực của cái truyền thống tình cảm ấy trong tư duy, ứng xử khi mà những nguyên tắc duy lý, pháp quyền dân chủ đòi hỏi phải điều chỉnh. Nhưng đó là chuyện khác. Tố Hữu, trong các thời kỳ đấu tranh cách mạng luôn được sống và mong muốn mọi người sống trong tình cảm gia đình, trong quan hệ tình cảm thân thiết thì đâu có phải là “đối tượng đấu tranh” của những người chống cái duy tình vô nguyên tắc vừa nói. Có thể Lã Nguyên chưa được hưởng những tình cảm thân tình, chia bùi sẻ ngọt của dân mình trong hai cuộc kháng chiến và cả trong thời kỳ các chiến sĩ cách mạng cần sống trong sự đùm bọc của nhân dân nên không hiểu được điều đó?! Chỉ cần ở vào độ tuổi trên 50 đã có thể biết được cái tình của người dân nhường nhà cho những gia đình sơ tán thời chống Mỹ rồi. Nếu Lã Nguyên nhỏ hơn độ tuổi đó hoặc không sống trong cảnh sơ tán ấy thì may cho Lã Nguyên. Nếu không, chỉ lớn hơn độ dăm ba tuổi, chắc khó tránh được sự lên án của những người đã từng giúp đỡ gia đình mình và tạo điều kiện cho mình có các lớp học phân tán tránh bom đạn Mỹ bắn phá trường học…

Xin không nói về thứ được Lã Nguyên dán nhãn là ngôn ngữ hội hè. Bởi vì chắc Lã Nguyên chưa ở độ tuổi hiểu và cảm cái không khí lãng mạn cách mạng sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt đầu thực hiện công cuộc xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Cái niềm vui “hội hè” ấy Lã Nguyên không hiểu được, không trực tiếp cảm nhận được nên mới chế giễu, vậy thôi…

Đọc bài phê bình, không khó thấy những thứ kiến thức vay mượn để che giấu sự thiếu hiểu biết về ngôn ngữ học và thực tiễn tiếng Việt cũng như cách cảm nhận nghệ thuật méo mó của tác giả. Tất nhiên cũng có thể đó là một thứ giả ngốc của những nhân vật láu lỉnh trong truyện cổ dân gian để khéo léo ngụy trang những gì không muốn bộc lộ trắng trợn ra. Nếu có sự hy sinh kiểu “tử vì đạo” đó thì chắc sẽ có những sự biểu dương tương xứng từ đâu đó, xin miễn bàn. Nhưng có điều đáng bàn là trong việc nghe, việc đọc, người ta không dễ bị lừa! Thế mà có điều lạ là những người đọc chuyên nghiệp ở một cái Viện, cái tạp chí chuyên sâu, sang trọng chắc chắn phải có trình độ hiểu biết cần thiết về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng đến mức có thể nghiên cứu về cái “nghệ thuật của ngôn từ” mà vẫn có thể để Lã Nguyên qua mặt bằng những chiêu không có gì là “quái” ấy! Đó là điều lạ đáng ghi nhận.

Lê Dân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 389

 

————————

(1) Xin lỗi, được hỏi: Liệu có ngôn ngữ nhân sinh quan tương ứng hay không, rồi đến “ngôn ngữ siêu hình”, “ngôn ngữ biện chứng” nữa, thưa PGS.TS? Và liệu có bức tranh thế giới nào không kiến tạo qua lăng kính giá trị theo sự tự ý thức của người kiến tạo ra nó?
(2) Xem bài Tiếng Việt trong sáng, Tiếng Việt phát triển in lại trong “Vẻ đẹp ngôn ngữ, vẻ đẹp văn chương” – NXB TRẺ, năm 2015.

Ý Kiến bạn đọc