Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Vương triều Nguyễn dưới mắt người xưa

 

“Gia Long lại dấy can qua
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài
Tự mình đã chẳng có tài
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây
Nay ta mất nước thế này
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà
Khác gì cõng rắn cắn gà
Rước voi giầy mả, thiệt là ngu si”
(Thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – 1947)


Lts: Trên Trang Mạng Xã Hội Mấy Ngày Gần Đây, Những Người Quan Tâm Đến Lịch Sử Chú Ý Đến Những Cụm Từ ”Xác Lập Quan Điểm Mới Cho Những Khoảng Trống Lịch Sử”, Và “Không Tránh Né Sự Thật Lịch Sử“ Mà Các Ông Phan Huy Lê, Dương Trung Quốc Cùng Nhiều Vị Thuộc Hội Khoa Học Lịch Sử Chủ Xướng.
 

Báo Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh Sẽ Đăng Một Số Bài Viết Về Lịch Sử Có Liên Quan Đến Vương Triều Nhà Nguyễn Để Độc Giả Tham Khảo.

Đầu Tiên Xin Giới Thiệu Bài “Vương Triều Nhà Nguyễn Dưới Mắt Người Xưa“ Của Nhà Văn Vũ Hạnh.

Nguyễn Ánh Có “Cõng Rắn”… Không?

Ở nước Trung Hoa cổ đại cách đây hai thiên niên kỷ, vua Hán Cao Tổ – Lưu Bang một thời gắn với sự tích về “rắn”. Tương truyền rằng lúc mới dấy binh khởi nghiệp, ông đã chém đứt một con mãng xà đang nằm cản lối đi, để mở đường cho đoàn dũng sĩ xông lên phía trước phò Sở Hoài Vương chiến đấu diệt Tần.

Trên đất nước ta, tên tuổi Nguyễn Ánh cũng gắn với “rắn”. Theo chuyện truyền khẩu nhân gian vùng Tây sông Hậu, cách đây 226 năm, vào hạ tuần tháng tư năm Nhâm Dần. Trong khi đang cưỡi thuyền lướt sóng giữa màn đêm tiến vào đảo Phú Quốc để lẩn tránh sự truy nã của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh bỗng phát hiện một bầy rắn đang lội dưới đáy thuyền, khiến cho đám tùy tùng vô cùng sợ hãi. Song ông ta vẫn bình tâm thúc quân đẩy mạnh tay chèo. Chỉ trong phút chốc, bầy rắn đã tan đàn lội đi tứ tán. Do vậy, ở miền duyên hải Tây Nam mới lưu truyền cái tích “gặp rắn thì đi, gặp quy thì về”.

Đây chỉ là chuyện hoang đường huyền hoặc, trong những lúc trà dư tửu hậu “nói để nghe chơi”. Còn chuyện thật, Nguyễn Ánh đâu có “chém rắn” như Hán Đế. Ngược lại, ông cha ta thuở đương thời đã từng lên án về việc Nguyễn Ánh “dẫn xà nhập huyệt”, đã “cõng rắn cắn gà nhà”. Cũng như Lê Chiêu Thống không ngần ngại “cõng con rắn độc nhà Thanh”, việc Nguyễn Ánh vì sợ mất ngai vàng hơn mất nước, lấy việc tiêu diệt Tây Sơn, giữ ngôi báu cho riêng một dòng họ làm mục tiêu tối thượng, nên đã “cõng” hai con rắn độc của chủ nghĩa bành trướng “đại Thái” và “đại Pháp” vào đất nước ta trong 50 năm cuối thế kỷ XVIII, đã mãi mãi để lại cho đời sự luận tội không bao giờ có thể biện minh.

157 năm sau khi kết thúc toàn thắng trận Rạch Gầm – Xoài Mút lẫy lừng, trong bài diễn ca “Lịch sử nước ta”, do Việt Minh Tuyên truyền bộ xuất bản tháng 2-1942, gói gọn trong 8 câu thơ lục bát, Bác Hồ (Nguyễn Ái Quốc) đã giảng giải cho quốc dân đồng bào ta hiểu rõ về hành động “cõng rắn cắn gà nhà” của Nguyễn Ánh như sau:

“Gia Long lại dấy can qua
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài
Tự mình đã chẳng có tài
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây
Nay ta mất nước thế này
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà
Khác gì cõng rắn cắn gà
Rước voi giầy mả, thiệt là ngu si”

(Thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – 1947)

Hơn 200 năm qua, những lời buộc tội của tiền nhân về việc “Gia Long cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giầy mả tổ” đã lưu truyền rộng rãi trong nhân dân trên khắp cả ba miền đất nước. Ngay trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta, những câu này cũng được các thầy giáo dạy sử ghi vào giáo án để lên lớp giảng cho học trò. Ấy vậy mà những năm qua, nhằm thực hiện cái gọi là “tạo ra bước đột phá trong nhận thức về Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn”, một số người đã quay lưng với lịch sử. Tại cuộc hội thảo về “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam”, tổ chức ở tỉnh Thanh Hóa mới đây, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử đã lên tiếng công kích: Trước đây có người lên án Nguyễn Ánh “cõng rắn cắn gà nhà”, là “bán nước”, đó là quan điểm cực đoan.

Thưa ông Chủ tịch Hội, chúng tôi xin nhắc để ông nhớ: 66 năm trước đây, trong bài “Nên học sử ta” đăng trên báo Việt Nam Độc Lập ngày 1-2-1942 và trong bài diễn ca “Lịch sử nước ta” do Việt Minh Tuyên truyền bộ xuất bản tháng 2-1942, có một người đã lên án gay gắt Gia Long “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giầy mả tổ”, “thông với Tây”, “hàng Tây”, “rước Tây vào nhà”, “đem nước ta bán cho Tây…”. “Người lên án Nguyễn Ánh” mà ông công kích đó, chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc, là Bác Hồ, là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là một nhà nghiên cứu sử học thuộc hàng “cây đa, cây đề”, có lẽ nào ông cố tình quên quyển sách phổ cập về sử học có tính chất “gối đầu giường” – một quyển sách từng được Giáo sư sử học Trần Văn Giàu trân trọng nhắc đến. Trong tác phẩm “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh”, Giáo sư Giàu viết: “Hồ Chí Minh thông thuộc sử Việt Nam. Sau 30 năm ở hải ngoại về Cao Bằng, không có một quyển sách trong tay, Cụ Hồ chỉ cậy vào trí nhớ của mình để viết lịch sử Việt Nam bằng thơ lục bát truyền bá cho đồng bào địa phương, giáo dục cán bộ Việt Minh”.

Có một điều lạ nữa là, sau khi kết thúc cuộc hội thảo về “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn”, trong một bài trả lời phỏng vấn của báo chí, ông Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử đã chất vấn ngược lại bạn đọc: Ai là tác giả của câu “Gia Long cõng rắn cắn gà nhà”? Rồi ông tự giải đáp: Truy tìm mãi vẫn không lần ra manh mối.

Thưa tiên sinh, làm sao ngài có thể tìm ra nguồn gốc và xuất xứ của hàng nghìn, hàng vạn câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao, phong dao, thơ, vè… đã tạo nên kho tàng văn học dân gian lưu truyền trong vạn đại. Tác giả đích thực của nó, chính là quần chúng nhân dân – chủ thể của lịch sử. Thật vậy, thử hỏi các ngài sẽ giải đáp ra sao, nếu như có người cắc cớ chất vấn các ngài ai là tác giả của hàng loạt câu ca dao, thơ, vè… đã từng được phổ cập trong dân gian dưới thời Nguyễn, như:

“Sông Hương nước chảy lờ đờ/
Dưới sông có đĩ, trên bờ có vua”.
“Ra đường mãi mắt trông anh/
Nên chân em đá đổ thành nhà vua”.
“Vua cũng thua thằng khùng”.
“Hơn vua, thua quan hoạn” và …

Vốn là “cái bóng của lịch sử”, dòng văn học dân gian truyền miệng đã giúp cho hậu thế phát hiện ra những viên ngọc quý đã bị chôn vùi trong cát bụi thời gian. Có phải chăng, ông cha ta xưa đã từng đưa ra những lời phê phán gay gắt Nguyễn Ánh trong việc “bôi mặt đá nhau” với “gà cùng bầy”, đã “hoài đá nhau” với “gà cùng một mẹ”. Rồi cuối cùng dẫn đến việc phạm tội bị muôn đời con cháu lên án là “cõng rắn cắn gà nhà”, “cắn gà cùng bầy”, “cắn gà cùng một mẹ”. (“Khôn ngoan đá đáp người ngoài/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. “Ai dám bảo là trời không có mắt/ Gà cùng bầy bôi mặt đá nhau”).

Điều quan trọng hơn, người đương thời đã cảnh báo về mối họa khôn lường đối với giặc Xiêm khi Nguyễn Ánh nuôi ảo tưởng “dẫn xà nhập huyệt” (dắt rắn vào hang) và thực hiện tư tưởng thực dụng mù quáng “dữ hổ mưu bì” (đến với cọp để mong lấy da). Song, “vì muốn giành làm vua” – như Bác Hồ đã nói, Nguyễn Ánh bất chấp tất cả, đã cùng với lũ cận thần đích thân sang Vọng Các lạy lục vua Xiêm để “cõng” cho kỳ được 50.000 con rắn độc của chủ nghĩa đại Thái vượt biên cương Tổ quốc ta hồi đầu mùa xuân năm 1785 để “cắn gà nhà”.

Kiêu hãnh với tinh thần tự tôn và lòng tự hào dân tộc, khi lũ rắn Xiêm được “cõng” về, ông cha ta đã dứt khoát khẳng định: “Rắn hổ mang sẽ có hùng hoàng trị”. Chất “hùng hoàng” linh nghiệm ấy, chính là thiên tài quân sự lỗi lạc của Nguyễn Huệ và những đoàn quân bách chiến bách thắng của ông. Quả vậy, chỉ trong vòng nửa buổi sáng ngày 19 tháng 1 năm 1785 (tức là đêm mùng 8 rạng ngày mùng 9 tháng Chạp năm Giáp Thìn), quân Nguyễn Huệ đã chém “đứt đầu” 5 vạn con rắn mà Nguyễn Ánh đã còng lưng “cõng” vào, trước niềm vui hân hoan của nhân dân trong ngày đại thắng, đã để lại câu vè bất hủ: “Rắn đứt đầu, rắn sầu rắn chạy”. Và kể từ ngày “rắn sầu rắn chạy” vắt giò lên cổ ấy, lũ rắn độc Xiêm “tuy ngoài miệng ba hoa khoác lác, nhưng trong lòng lại sợ Quang Trung như sợ cọp”.

Vua Tự Đức Có “Bỏ Dân”, Có “Bán Nước” Hay Không?

Tại cuộc hội thảo về “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn”, ông Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử đã lập luận rằng: Việc nhà Nguyễn để mất nước trước cuộc xâm lăng của đế quốc Pháp, kết luận trước đây cho rằng Tự Đức “bạc nhược đầu hàng”, “phản bội dân tộc” là chưa thỏa đáng, chưa khách quan. Nhiều người hẳn còn nhớ, trong bài diễn ca “Lịch sử nước ta” do Việt Minh Tuyên truyền bộ xuất bản tháng 2-1942, Bác Hồ (Nguyễn Ái Quốc) đã viết về vua Tự Đức như sau:

“Nay ta mất nước nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn
Năm Tự Đức thất thập niên
Nam kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây
Hăm lăm năm sau trận này
Trung kỳ cũng mất, Bắc kỳ cũng tan
Ngàn năm gấm vóc giang san
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây
Tội kia càng đắp càng dày
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng”

Tháng 3-1944, trong Báo cáo đọc tại Đại hội Cách mạng Việt Nam ở nước ngoài, họp tại thành phố Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu: “Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hòa, Mỹ Tho cho giặc Pháp”. Trong quyển sách “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”, Giáo sư sử học Trần Văn Giàu nói rõ: “Tự Đức chủ trương hòa hiếu với kẻ xâm lăng để giữ “lề”, giữ “tín” với chúng, mà đàn áp gắt gao những ai chủ chiến để giành lại các tỉnh bị mất. Vua thì bán nước, chính Tự Đức tự chê trách là “khí dân”, “mãi quốc”.

Vì lẽ ấy ông cha ta thuở đương thời, đã từng nặng lời công kích vua Tự Đức và đám quần thần. Tác giả khuyết danh bài thơ “Dại khôn” đã thẳng thừng chỉ trích: “Biết chi là dại, biết chi khôn/ Đầu giặc lũ bây thảy một phồn (phường)”. Trong bài “Hịch Trương Định”, tác giả viết: Thật tiếc những người làm quan mà ăn lộc. Nỡ đem lòng phản quốc cầu vinh”. Trong bài “Hiệu triệu sĩ dân”, tác giả khuyết danh đã luận tội Phan Thanh Giản là một trong “ba vị cố mệnh danh thần bán nước”:

“Tự tòng thành hạ ngộ yêu minh
Thiên hạ phân phân cộng thuyết binh
Mãi quốc danh thần tam cố mệnh
Hòa Nhung đại tướng nhất khoa danh”

Có nghĩa như sau:

“Từ ngày dưới thành mắc mưu lừa dối giảng hòa
Khắp nước nhao nhao bàn việc khởi binh
Trong ba vị cố mệnh danh thần bán nước
Thì Phan Thanh Giản, từng đậu đại khoa,
là quan to đã giảng hòa với giặc”

Còn quyết liệt hơn thế nữa, tương truyền rằng, những đội nghĩa binh của Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định ở tỉnh Gò Công đã thêu lên ngọn cờ chiến đấu của mình 8 chữ mà thuở đương thời ai cũng biết: “Phan – Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bán nước, triều đình bỏ dân).

Chúng ta đã thấy, chủ trương “cắt đất”, “giảng hòa” với Pháp của vương triều Nguyễn dưới thời Tự Đức đã gây ra sự bất bình phẫn nộ trong dư luận xã hội và đã bị công kích kịch liệt. Tháng 3-1862, sau khi chiếm đóng ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, giặc Pháp đã tấn công Vĩnh Long lần thứ nhất và chiếm đóng tỉnh này, nhà thơ yêu nước nổi tiếng Phan Văn Trị đã làm một bài thơ đầy phẫn nộ. Ông viết:

“Tan nhà cám nỗi câu ly hận
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ
Ngậm cười hết nói nổi quan ta!”

Danh sĩ Phạm Phú Thứ, trong bài “Viếng Phan Thanh Giản”, cũng đã bộc lộ nỗi lòng đắng cay của mình. Ông viết:

“Đất hai kỳ không ngày nào không yên
về nạn giày xéo của giặc
Nghị hòa như thế phải hay không?
Nghĩ lại càng thêm thở than bứt rứt!”

Trong khi cực lực lên án triều đình “bán nước”, “bỏ dân”, cùng với đám đại thần thuộc hàng lương đống, “cắt đất”, “nghị hòa”, ông cha ta cũng đã công kích kịch liệt lũ quan triều khiếp nhược ở các địa phương bất tài bất lực, không triệt để chống giặc, đã để mất đất mất dân – như trường hợp của Nguyễn Công Nhàn ở tỉnh Mỹ Tho đã bị chỉ trích nhục nhã trong một bài thơ khuyết danh:

“Có quan hùng dũng Nguyễn Công Nhàn
Hùng dũng nhưng ngài cũng ít gan
Giặc tới Bến Tranh run lập cập
Tàu vô Cửa Tiểu chạy bò càng”

Ngay cả đương kim hoàng thượng đang ngồi trên chín bệ cũng không còn được trọng vọng trong tư tưởng tôn quân. Theo lời của nhà thơ lão thành Bảo Định Giang, có một lần nhà thơ Phan Văn Trị (Cử Trị) cùng với người bạn tâm giao là Đốc học Trưng đi bộ từ Cần Thơ đến Bình Thủy. Dọc đường, Cử Trị vừa đi, vừa đái, vừa ngâm nga: “Đứng lại làm chi cho mất công/ Vừa đi vừa đái vẽ nên rồng”. Con rồng mà Cử Trị bêu riếu đó, chính là hình ảnh của vua Tự Đức. Đúng như Giáo sư Trần Văn Giàu nhận xét trong tác phẩm “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”: Nào quan, nào tướng, dối mình, dối dân là thời vua Nam kỳ, thật là làm tay sai cho giặc Tây… Hơn một trăm năm hỗn loạn quân sự, chính trị, xã hội, đạo đức, luân thường đảo lộn”.

Những lời nhận xét, phê phán, công kích của ông cha ta thuở đương thời đối với hai ông vua Gia Long, Tự Đức và vương triều Nguyễn có phải chăng là “chưa thỏa đáng”, “chưa khách quan” và do chịu ảnh hưởng của “phương pháp luận sử học Mác-xít ấu trĩ, giáo điều, tả khuynh”? Chúng tôi đang chờ sự giải thích của hai ông Chủ tịch và Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 439

Ý Kiến bạn đọc