Tản văn

Vườn cau nhà nội

 

Đô thị hóa như một cơn lốc tràn qua xóm nhỏ quê tôi, cuốn phăng vườn tược cây cối và cả cái tĩnh lặng (vốn có) của vùng ven. Nhìn vườn cau nhà nội trong ánh chiều chỉ lác đác vài cây cau già tót đọt, buồng cau rũ xuống treo vài ba trái cau già đỏ quạch, bỗng thấy buồn, nhớ ngày xưa, nhớ người xưa quá…

Ông nội trồng những cây cau này từ lúc nào tôi không rõ. Chỉ biết khi tôi lớn lên đã nhìn thấy vườn cây trái xum xuê, những hàng cau xanh mướt thẳng tắp đổ bóng xuống ngôi nhà 3 gian mái ngói âm dương. Chim chóc về làm tổ ríu ran trong những vòm lá. Tôi như thấy ông nội lưng áo bà ba trắng phếch lúc lội mương hốt bùn, lúc khom lưng phác cỏ, khi lại vác cuốc bì bọp ngoài ruộng. Hai bàn tay chai cứng, tới mức ông nội có thể cầm một cục than hồng mà mồi điếu thuốc rê. Tôi đã trố mắt kinh ngạc vì điều đó. Tôi nhớ hoài những câu chuyện ông kể về chiến tranh, giặc giã và nghèo đói. Về những bận giặc Tây bố ráp, bao nhiêu lần thoát chết, bao nhiêu lần nhà bị đốt cháy… Tôi còn thấy ông áo dài khăn đóng chỉnh tề gióng trống giữa đình trong lễ kỳ yên, hay trong một lễ tang ma, cưới xin của họ hàng, lối xóm. Rồi cũng là ông, ngồi kiên nhẫn dạy tôi đánh vần, hay tỉ mẩn tiện một cái bông vụ cho thằng Út từ một khúc thân cây ổi… Trong lòng tôi, ông nội là người nông dân vĩ đại nhất, cần cù, lạc quan, sống nhiệt tình, nhân ái với bà con lối xóm, yêu thương con cháu hết lòng.

So-609--Anh-minh-hoa---Vuon-cau-nha-noi---Anh-1

Tôi thấy dáng bà nội đầu bịt khăn xước đang hái lá trầu. Dây trầu quấn quýt vàng ươm úm kín bốn năm mét thân cau. Bà nội nói đó là “cái lộc bà cho” nên rất quý, muốn trèo cau phải bắc một cái thang qua khỏi chỗ dây trầu leo để tránh làm hư dập lá. Lá trầu xếp thành xấp mười, rồi cứ mười xấp vô một bó, khuya theo nội đòn gánh kĩu kịt xuống chợ cùng với mấy buồng cau, vài trái mãng cầu, trái thơm… hái được trong vườn. Đổi lại trưa về, nội sẽ đem về đồ ăn và bánh trái. Những cái bánh cam chiên giòn phủ bên ngoài một lớp đường trăng trắng hấp dẫn, cắn một phát sẽ là lớp nhưn đậu xanh măn mẳn. Những viên kẹo ú phủ lớp bột áo màu trắng ngậm phù má ngọt hoài không hết… Chúng tôi vì vậy mà trông nội về như người xuống mạ mong mưa. Nội tôi ăn trầu, khuôn miệng móm mém cười tươi đỏ. Tôi nhớ cái ô trầu có ba chân choải ra điệu đàng. Sau này răng yếu, bà có thêm cái ống ngoáy cha tôi đã cưa từ một cái vỏ đạn to bằng ngón chân cái, nội cầm miết lên nước bóng lộn. Sắp mãn mùa cau, nội chẻ cau sấy trên bếp cho khô rồi bỏ vô một cái hũ sành để dành. Người ta nói người già bỏ trầu, bỏ thuốc là sắp đi. Bà tôi nằm bệnh, bỏ trầu, cặp môi trắng bệch. Lòng chúng tôi như đổ xuống một cơn mưa.

Hoa cau luôn ém mình trong chiếc mo nang, để rồi một hôm bỗng bung xòe, thả xuống những bông trắng li ti như hạt gạo. Những trái nhỏ như ngón tay út, cái núm phớt xanh lục trụ lại rồi dần lớn lên, cho đến khi phần cơm bên trong dày lên đầy kín. Lúc đó, bọn thằng Tý, thằng Tèo sẽ tới. Đó là hai đứa bẻ cau “chuyên nghiệp” ở trong xóm. Xé một cái mo cau họ thắt thành cái nài chắc chắn, xỏ hai bàn chân vào, miệng ngậm ngang con dao nhỏ rồi nó thót lên cây, búng người thoăn thoắt như con sâu đo. Họ rứt một trái, chẻ ra và thả xuống đất. “Chưa dày” thì tuột trở xuống. “Dày rồi” thì cầm dao xén một bên mép nhánh, rồi nắm cả buồng cau giật ngược; xong, thả người trượt xuống cùng với buồng cau nặng trịch. Với những cây cau chỉ cách một bờ mương, Tý thường tranh thủ đu tàu lá bám vào cây bên kia để tiết kiệm công trèo. Cây cau cao gần cả chục mét, và thằng Tý như thể đang diễn một tiết mục xiếc mà không hề có một thiết bị bảo hiểm nào. Chúng tôi nhìn lên, xanh mắt ngưỡng mộ sự gan dạ và khéo léo của nó. Nếu là bây giờ, có thể người ta sẽ nói về những đứa trẻ nghèo bất chấp hiểm nguy để kiếm tiền nhưng với ngày ấy, không ai thắc mắc bởi đó là một phần cuộc sống của người quê chúng tôi.

Những tối trời đổ mưa, tàu cau rụng đầy vườn. Sáng, chúng tôi tranh nhau kéo vô nhà. Cắt riêng cái mo ra. Cái mo cắt thành cây quạt, vừa nhẹ vừa mát, là tài sản quý nhất của thằng bờm đó mà; hoặc tước dọc xuống làm dây bó củi, vừa dẻo vừa chắc; hay để ép cơm cho ông nội với cha đi ruộng; cuối cùng thì… giắt phơi trên sào cho khô mà chụm. Với cái tàu cau thì tước sạch lá để dành bó chổi. Má tôi rất khéo tay, cây chổi tàu cau bó bằng lạc trúc vừa chắc chắn vừa đẹp. Tờ mờ đất đã nghe tiếng chổi tàu cau của má sàn sạt ngoài sân. Tàu chổi phơi khô chúng tôi còn để thành những bó riêng, đợi khi có người đạp xe đi qua “có tàu cau bán hông” thì vác ra. Trum trủm mấy đồng bạc lẻ bỏ vô heo đất để cuối năm “thịt”, phụ má sắm đồ mới, sách vở. Sân nhà tôi gạch tàu đỏ au. Cứ thay phiên một đứa ngồi lên cái mo cho đứa kia nắm một đầu tàu cau ra sức kéo. Kéo mạnh quá nên té lăn cù. Cười lăn cười lóc với nhau. Tiếng cười ngày đó sao mà trong vắt trong veo. Có lẽ vì chúng tôi lúc ấy chưa biết sợ, biết buồn hay lo gì, chưa nhìn quá xa để bận tâm về tương lai.

Rồi chúng tôi lớn lên. Chị tôi 19. Ngày chị cưới, ông nội cho đốn mấy cây cau làm cột dựng rạp. Mấy chú thanh niên trong xóm thì chia nhau đi bứt dây bòng bong. Lá bòng bong nho nhỏ màu xanh lục quấn quanh những cây cột cau, những thanh trang trí nhìn thật tươi tắn, duyên dáng. Hai ngọn cau được trồng xuống hai bên cổng còn nguyên hoa trái. Cái bảng đan bằng bông dừa trắng muốt, nổi lên ba chữ “Lễ vu quy” bằng bông nở ngày tím rịm giăng ngang. Chị tôi mặc áo dài gấm đỏ thêu rồng phượng đứng cạnh chú rể tươi cười viên mãn trong tiếng chúc phúc của gia đình, họ hàng, lối xóm. Chú chụp hình đã cố gắng “lấy” luôn cái cổng chào tuyệt đẹp ấy. Bây giờ thời đại công nghệ, dịch vụ đến, phút chốc đã thấy lắp xong một cái rạp to đùng với cột sắt, quạt máy quay, cùng một cái cổng hình vòm với những bông hoa nhựa màu sắc lòe loẹt. Nhìn nó, bỗng nhớ thiết tha cái cổng chào làm bằng đôi ngọn cau xanh mát ngày xưa.

Xóm nhỏ quê nội bây giờ quá nhiều thay đổi, nhà cửa mọc lên như nấm, cái thòi ra cái thụt vào, cái quay ngang quay ngửa trông như một cái miệng cười với những chiếc răng mọc lệch. Hệ thống mương mán thoát nước cực tốt ngày ấy gần như đã bị xóa sổ bởi lòng người tham lam luôn tận chiếm từng tấc đất để mở rộng nhà mình. Những vườn cây nào còn may mắn sống sót đã bị biến thành những cái ao tự nhiên và nước mưa trốn mặt đất bê tông sẽ đổ về đó. Cây cối cũng có linh hồn, cây cối bất lực đứng ngâm chân trong nước, buồn bã, ủ rũ, rồi bỏ người mà đi. Cỏ thừa thắng xông lên, mọc trùng trùng. Ba tôi buồn buồn: “Ba tính đổ xà bần nâng mặt vườn lên. Rồi làm cái bờ bao xung quanh nhà, mưa ngập thì bơm. Không trồng trọt được gì nữa rồi, nhưng chuyển thành đất ở để chia cho các con thì đời ba làm gì có vài tỷ đồng mà hợp thức hóa. Hay là…”. Rồi ba thở dài. Ngó qua phần đất ông nội cho cô tôi. Cô đã mất vài năm rồi, đám con cháu đi định cư bên Mỹ cũng đã bán vườn. Lâu lâu anh em, họ hàng hỏi thăm vài ba câu qua facebook.

Vườn cau xanh mướt của ông bà nội rồi đây sẽ chỉ còn trong tâm tưởng của chúng tôi. Biết rằng cuộc sống thì luôn cuốn ta về phía trước nhưng cũng khó thể tránh chạnh lòng…

Hoa Cau
(Quận 12 – TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 609

Ý Kiến bạn đọc