Tản văn

Vườn bắp của ba

 

Nhiều năm ở phố nhưng tôi như cây lúa, cây mì đã quen với đất đồng, quen với cái bình yên làng mạc. Bởi vậy, hễ có dịp là tôi tranh thủ “tót” về nhà ở quê, chẳng nhất thiết là phải cuối tuần.

Hôm rồi về, thấy ba lụi hụi ngoài đám đất bên hiên nhà. Đám đất to, năm rồi trồng rau nhưng mùa lũ về ngâm cả mươi ngày làm hỏng cả. Bao nhiêu chiu chắt chăm bẵm hơn nửa năm trời thành vườn rau xanh mướt, bỗng thành công cốc theo con nước nổi. Mùa nước năm rồi lớn quá. Nước lên nhanh mà rút lâu nên vườn rau mới rũ lá, thúi rễ, hỏng cả. Con cái đi làm xa, chỉ có ba má ở nhà, vườn nhà bỏ hoang vắng bấy lâu. Giờ đây, ba lại cúi mình bổ những nhát cuốc vào thớ đất khô cằn.

So-596--Anh-minh-hoa---Vuon-bap-cua-ba---Anh-1

Bằng tuổi ba, các bậc sinh thành khác đã vui vầy bên cháu con, ăn bánh thưởng trà. Vậy mà ba cứ hết vác cuốc ra đồng, lại xới mảnh vườn đất đã chai lì rậm rì cỏ dại. Như biết ý tôi không muốn ba cơ nhọc, ba bảo, nhà con cháu nhiều nhưng đứa thì lấy vợ đứa lấy chồng đâu đâu hết trơn, tao lụi cụi ở nhà, buồn tay buồn chân nên cải tạo lại cái vườn, trồng bắp nếp, loại này ngọt ngon thơm lắm, khi nào có trái đầu mùa tao gọi tụi bây về. Nói rồi ba cầm điếu thuốc đưa lên miệng, khói thuốc quanh quẩn lên những sợi tóc bạc già nua, mắt ba đăm đăm nhìn về đầu ngõ như suy ngẫm, như đợi chờ…

Chợt nhớ ngày xưa, nhiều mùa trên mảnh vườn này ba cũng từng trồng bắp. Loại bắp lai, trái bắp mập tròn, hạt to như đầu ngón tay. Mỗi mùa bắp lên hạt, mùi sữa thơm như lay thức khứu giác. Cũng từ thời điểm này, các loại chim thường hay sà xuống đám bắp, xé vụn từng lớp vỏ chén no nê hạt bắp non. Cứ vậy, mỗi lần bắp bắt đầu tượng hạt, bọn chim két, khứu, quành quạch… to nhỏ kéo quân đến trộm bắp. Những khi ấy, nào ná, cung tên… đủ loại “vũ khí” tự chế trong tay, tôi và thằng em út ra sức bảo vệ đám bắp vườn nhà. Một lần, trời đã nhá nhem tối tôi với Út vẫn còn lụi hụi, cứ dí mắt vô đám bắp đang mùa lên quả, ba la: “Hai đứa tụi con vô ăn cơm rồi học bài. Để đó, mai ba có cách”.

Hôm sau, ba dắt bọn tôi ra đống rơm phía trước nhà, rút những sợi rơm vàng còn ngai ngái mùi đồng hanh nắng khát lẫn trong cái mùi thơm thơm của lúa đã ruộm vàng. Ba hướng dẫn bọn tôi bó rơm thành từng bó một, rồi bảo, cái này bó to hơn thành hình chữ nhật làm thân, cái này bó nhỏ hơn làm chân, còn cái này bó nhỏ hơn nữa để làm cái tay của bạn ấy. Thì ra, ba đang làm bù nhìn rơm. Tôi với Út nhìn nhau cười he he, bảo vầy mà mình không nghĩ ra nhỉ.

Ba tết từng sợi rơm, sau đó dùng loại tre già, cứng cáp làm lõi cho các chi của bù nhìn rơm, rồi lại cố định các chi, tạo hình. Ba làm một loáng đã xong 3 cái hình nhân. Giờ chỉ khoác lên người bù nhìn rơm bộ đồ cũ nữa là xong. Tạm nghỉ tay, ba cười kể bao nhiêu chuyện hay cho chúng tôi nghe. Toàn mấy chuyện đồng áng như cách nhử chim, cách câu cá lóc, đặt bẫy cá trê vàng… Nhìn dáng ba, tôi nghĩ đến những người nông dân chất phác, lành hiền. Và dường như, tôi, chính tôi, cũng thừa hưởng di truyền từ ba nên dù ở phố lâu rồi vẫn luôn bồi hồi về rạ rơm đồng làng, luôn có cái cảm giác nào đó cứ thúc giục mình tìm lại…

Vân Phi
(Quận 3 – TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 596

Ý Kiến bạn đọc