Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Vũ Ngọc Nhạ – Ông cố vấn của ba đời tổng thống Ngụy

Vũ Ngọc Nhạ là nhà tình báo lỗi lạc. Nhân kỷ niệm 14 năm ngày ông đi xa (7/8/2002 – 7/8/2016), xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết này.

Tướng MắcNamara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã từng chỉ đạo cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, trong hồi ký của mình, đánh giá về vai trò của mạng lưới điệp viên A22 do ông Vũ Ngọc Nhạ làm lưới trưởng đã thừa nhận: “Mỹ không thua (ở Việt Nam) mới là điều vô lý. Cái thua là ở chỗ: ý đồ chiến lược của Mỹ bị Cộng sản nắm rõ hơn cả chính người Mỹ!”.

Đánh giá trên của một chính khách hàng đầu nước Mỹ không cường điệu chút nào. Để hiểu cụ thể tầm cỡ của những chiến công thầm lặng như là huyền thoại của Thiếu tướng tình báo Vũ Ngọc Nhạ, chúng ta hãy lần theo cuộc đời và sự nghiệp của ông.

Vũ Ngọc Nhạ sinh ngày 30/3/1928 trong một gia đình nhà Nho, hiếu học nhiều đời tại xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Năm 1942, ông theo cha vào Huế, học tại trường Trung học Thuận Hóa. Ở đây ông được thầy Tôn Quang Phiệt giác ngộ cho về lòng yêu nước, về lý tưởng cách mạng. “Mặt trời chân lý chói qua tim” ông từ đấy.

Khoảng cuối năm 1944, ông ra Hà Nội để dự kỳ thi vào lớp Tú tài và ông đã đỗ. Tại lớp Tú tài, ông được một người bạn trai tên là Vân giới thiệu vào Mặt trận Việt Minh. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông đã tham gia khởi nghĩa ở Hà Nội, sau đó tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô khi Pháp trở lại xâm lược. Năm 1946, trung đoàn bảo vệ Thủ đô rút khỏi Hà Nội thì ông về tham gia kháng chiến ở Thái Bình, rồi được ông Nguyễn Duy Ức – Bí thư chi bộ xã Hội Khê giới thiệu và kết nạp vào Đảng ngày 20/6/1947. Đầu năm 1950, Pháp tấn công Thái Bình nhằm chiếm kho người, kho của cung cấp cho chiến tranh. Để đạt mục đích ấy, chúng ra sức càn quét, cướp của, bắt thanh niên đi lính. Hội Khê là một xã trọng điểm của huyện Vũ Tiên thực hiện tiêu thổ kháng chiến, rào làng chiến đấu nên bị địch khủng bố, tàn sát nặng nề. Trong trận đánh đầu tiên tới xã vào tối 12/2/1950 (tức 26 tháng chạp năm Kỷ Sửu), chúng đã bắn chết 48 người gồm cán bộ, đảng viên, du kích và dân thường. Cuộc tàn sát đẫm máu đó khiến lòng dân nao núng, chi bộ Đảng dường như bị tê liệt. Trước tình hình đó, cấp trên cử ông Vũ Ngọc Nhạ, chánh Văn phòng Huyện ủy và là người con của địa phương về làm Bí thư để củng cố lại chi bộ, khôi phục lại phong trào.

Co-van-Vu-Ngoc-Nha-chup-hinh-luu-niem-voi-thu-tuong-Pham-Van-Dong
Cố vấn Vũ Ngọc Nhạ chụp hình lưu niệm với Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Năm 1951, ông được điều lên làm Thị ủy viên Thị xã Thái Bình và được phân công cùng một số đồng chí tổ chức phá căng Bo, nơi địch giam giữ hàng nghìn người kháng chiến sau những trận càn quét chúng bắt được đem về. Bằng những biện pháp tài tình mưu trí bám đất, bám dân, biến hậu phương địch thành tiền tuyến, kết hợp giữa dân vận, địch vận khéo léo, ông đã tạo ra một thế trận nhân dân áp đảo kẻ thù, giải phóng được tất cả những người bị giam giữ ở căng Bo (10/1951). Chiến công này trở thành bài học điển hình cho chiến tranh vùng tạm chiếm và ông được cử đích danh đi báo cáo tại Hội nghị Tổng kết chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc bộ (1952).

Tại Hội nghị này, ông được gặp Bác Hồ, được Bác khen ngợi, trò chuyện, thử thách rồi Người chọn ông vào hoạt động phía bên kia, chuẩn bị cho cuộc chiến tranh lâu dài với Mỹ – Ngụy sau này mà Người đã tiên đoán.

Vỏ bọc tốt nhất với ông bấy giờ là đóng người Công giáo, một con chiên hết lòng vì đạo. Theo đó ông giả danh bị Việt Minh kỳ thị vì xuất thân là gia đình Công giáo, có cha đi lính cho Pháp nên ông bỏ Việt Minh, về sống ở quê ngoại tại Phát Diệm, Ninh Bình và tham gia “Tổng bộ tự vệ Phát Diệm” do giám mục Lê Hữu Từ và linh mục Hoàng Quỳnh lãnh đạo, trở thành phụ tá của hai vị cha cố chống Cộng khét tiếng này.

Năm 1954, với lon sĩ quan Pháp trên vai, ông cho vợ con xuống tàu ở cảng Hải Phòng theo quân đội Liên hiệp Pháp vào Nam, cùng với hàng nghìn giáo dân di cư. Sau khi vào Nam, gia đình ông cư trú tại Sài Gòn rồi tìm cách liên hệ, làm việc với hai cha Lê Hữu Từ và Hoàng Quỳnh, những người lãnh đạo giáo dân Phát Diệm nói riêng, miền Bắc nói chung di cư vào Nam, có trụ sở tại Giáo xứ Bình An. Vốn đã tham gia “Tổng bộ Phát Diệm” trước đây nên hai cha rất tin tưởng, hợp tác với ông. Nhờ tự nghiên cứu thấu đáo về đạo Thiên chúa, hiểu sâu sắc các giáo lý nên ông được hai cha càng tin là một con chiên “nòi” và phong cho ông làm linh mục.

Năm 1958, ông bị Tá Đen, một tên đã từng công tác ở Thị ủy Thái Bình trước đây phản bội, chỉ điểm nên ông bị địch bắt, bị tra tấn hết sức dã man, chết đi sống lại nhiều lần. Không khai thác được gì, chúng chuyển ông ra nhà tù Vân Đồn ở Huế do Ngô Đình Cẩn quản lý. Tại đây ông đã viết bản tường trình “Cứu nguy Tổng thống”. Nội dung thể hiện tấm lòng của một con chiên ngoan đạo, muốn cứu đạo hữu; ca ngợi chế độ vững vàng, Tổng thống có uy tín. Song thực tình có 4 nguy cơ, hiểm họa, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Cuối tờ trình, ông khéo léo viết: “Những điều đã trình bày trên dựa vào các ý kiến mà tác giả đã lĩnh hội được ở đức cha Lê và những cuộc tiếp xúc riêng của cá nhân tác giả với khối Công giáo và một số phần tử đối lập, bất mãn…” nhằm ngầm nói lên ông có mối quan hệ, vai trò rất quan trọng với cha Lê và khối Công giáo di cư – những yếu nhân, lực lượng mà gia đình họ Ngô đang cần tranh thủ. Nếu có ông thì ông sẽ là cầu nối cho hai bên.

Nhờ có bản tường trình này mà ông từ một trọng phạm, trở thành một quý khách của gia đình họ Ngô. Nhất là sau cuộc đảo chính hụt năm 1960, càng chứng tỏ những lời cảnh báo của ông là đúng, ông trở thành cố vấn của Ngô Đình Diệm. Tại dinh Độc Lập, những ý kiến sâu sắc về chiến lược, sách lược, chiến thuật đối phó với thời cuộc của ông được anh em Diệm – Nhu vị nể, rồi trở thành người tâm phúc, thường xuyên được bàn bạc những vấn đề cơ mật, sinh tử với anh em họ Ngô; được anh em họ Ngô tặng cho danh hiệu “Hoàng Long” là con rồng thứ năm trong gia đình, sau 4 anh em ruột của Ngô Đình Diệm (Diệm là Bạch Long, Nhu là Thanh Long, Thục là Hồng Long, Cẩn là Hắc Long). Được gia đình họ Ngô sủng ái, chúng muốn đãi ngộ ông thật hậu cho xứng đáng, song đều bị ông từ chối. Một lần Lệ Xuân nói với ông: “Tôi thấy anh lạ thật. Làm việc cho Chính phủ mà không nhận phụ cấp. Gia đình anh thì nghèo xác. Sáng nào trước khi vào Phủ Tổng thống, anh chả đèo rau ra chợ cho bà vợ anh bán. Tôi biết chứ!”. Thấy ông im lặng, bà ta nói tiếp: “Nếu anh bằng lòng, tôi chỉ cần nói một lời, cả nhà anh sẽ sung sướng!”.

- Cảm ơn bà, gia đình tôi sống như hiện nay là ổn lắm rồi!

Năm 1963, Mỹ giật dây cuộc đảo chính lật đổ anh em họ Ngô. Chính quyền mới do các tướng lĩnh lãnh đạo đảo chính nắm giữ. Vũ Ngọc Nhạ chỉ còn hoạt động trong tổ chức Công giáo với cha Hoàng ở Giáo xứ Bình An. Do Giáo xứ ở đây có thế lực, uy tín với giáo dân cùng với trí tuệ uyên bác của ông cựu cố vấn nên chính quyền mới cũng rất vị nể, thường xuyên đến tham khảo ý kiến về mọi mặt. Ông tiếp tục sử dụng “Tam giác vàng” quyền lực: tòa Khâm sứ, dinh Độc Lập và cha Tuyên úy người Mỹ Ocono để hoạt động trong thời Nguyễn Khánh.

Năm 1967, ông giúp Nguyễn Văn Thiệu thắng cử trong cuộc bầu Tổng thống. Vì vậy Thiệu đã mời ông làm cố vấn cho mình và nói: “Thầy Hai dàn xếp cùng người Mỹ đưa tôi lên làm Tổng thống, tôi rất biết ơn thầy. Nhưng khi thầy muốn hạ tôi xuống, thầy phải “xi-nhan” trước cho tôi nghe, đừng để tôi phải chết nhục như anh em Ngô Đình Diệm…”.

Ở vị trí và uy tín với Thiệu như vậy, ông đã đưa được các đồng chí trong lưới tình báo của mình vào giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền Sài Gòn như: Vũ Hữu Duật là ủy viên Tuyên huấn TW lực lượng tự do và làm Phó Tổng thư ký Thường trực đảng Liên minh Dân chủ (đảng cầm quyền của Nguyễn Văn Thiệu), Vũ Xuân Hòe làm Bộ trưởng Kinh tế, Lê Hữu Thúy làm Bộ trưởng Thông tin – chiêu hồi. Đồng thời cảm hóa được Huỳnh Văn Trọng, từng là một Bộ trưởng thời Bảo Đại, một người giàu tình cảm dân tộc vào lưới, giữ chức phụ tá Tổng thống cho Nguyễn Văn Thiệu.

Tết Mậu Thân (1968), theo kế hoạch, ông sẽ chỉ huy cánh quân biệt động đánh vào dinh Độc Lập. Trước giao thừa, ông ra lệnh khui hầm rượu của Thiệu cho đám lính Liên phòng vệ phủ Tổng thống uống mừng năm mới để chúng say, dễ bề hành động. Nhưng kế hoạch bị vỡ. Thiệu về Mỹ Tho ăn Tết ở quê vợ. Ông đã thay đổi chiến thuật: hô hào đám lính ở Phủ Tổng thống “chống trả mạnh mẽ” khi quân ta đã… rút lui. Hành động này khiến Thiệu… vô cùng cảm kích (!). Có lẽ sau “chiến công” này mà ông được Thiệu tặng cho thanh bảo kiếm bằng vàng, chuôi kiếm có đề chữ “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tặng”. Cầm thanh bảo kiếm đó, ông có quyền thay thế Nguyễn Văn Thiệu chủ trì các cuộc họp nội các khi Thiệu vắng mà các thành viên Chính phủ tuyệt đối phải phục tùng.

Cuối năm 1968, sau 3 năm đưa nửa triệu quân vào tham chiến ở miền Nam Việt Nam mà không giành được thắng lợi, ngược lại ngày càng bị sa lầy, thất bại nặng nề; mặc dù đã đưa cả hàng nghìn máy bay ra bắn phá hậu phương miền Bắc. Mỹ phải tính đường rút lui trong danh dự, thông qua đàm phán, ký kết hiệp định tại Paris. Để rút lui trên thế mạnh, Mỹ đã vạch ra “Kế hoạch bình định cấp tốc 1968-1969” và một số kế hoạch khác. Trung tâm chỉ thị phải nắm được các kế hoạch đó và tình hình dư luận chính giới Mỹ cho phái đoàn ta ở Paris biết mà đối phó với Mỹ trên bàn hội nghị.

Ông đã bàn với Thiệu viết một ủy nhiệm thư và cử một phái đoàn cấp cao sang Mỹ thương thảo để xin viện trợ do Huỳnh Văn Trọng là Phụ tá Tổng thống dẫn đầu. Thiệu đã đồng ý kế hoạch này. Nhờ đó Huỳnh Văn Trọng có lý do đến Đại sứ Mỹ để chuẩn bị trước cho chuyến đi và đã lấy được bản “Kế hoạch bình định 1968-1969”, “Chương trình Phoenix 1968” của Como và “Kế hoạch bình định cấp tốc”.

Sau chuyến đi Mỹ thành công, Huỳnh Văn Trọng xin được rất nhiều viện trợ về quân sự, kinh tế, Thiệu rất hả hê, hết lời cảm ơn ông cố vấn. Y đã tặng ông chiếc bút máy mà y đã ký tiếp nhận các khoản viện trợ này với dòng chữ “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tặng” ở thân bút.

Mạng lưới tình báo A22 của ông đang hoạt động hiệu quả trong dinh Độc Lập thì bọn CIA và mật vụ phát hiện ra. Chúng ép Nguyễn Văn Thiệu phải ra lệnh bắt, nếu không muốn phải từ chức. Thế là ngày 16/7/1969, cả lưới của ông sa vào tay địch. Báo chí Sài Gòn đưa tin rùm beng trên những hàng tít lớn: “Vụ án gián điệp lớn nhất thời đại”, “Vụ án chính trị của thế kỷ”… Các bị cáo đều là những nhân vật trọng yếu trong Chính phủ Ngụy quyền. Vũ Ngọc Nhạ bị tố cầm đầu lưới gián điệp. CIA cử người đến đề nghị ông nhận mình là CIA. Đề nghị này tưởng là nước cờ cao vì vừa nâng uy tín CIA, vừa có cơ may tháo dần mớ bòng bong chính trị đang ngày càng rối tung do vụ bê bối đưa đến. Nếu ông đồng ý, CIA sẽ trả riêng cho ông 2 triệu đôla cùng với khoản lương tháng cực cao được tính từ khi ông gật đầu. Nhưng ông đã không gật. Thế là từ thắng lợi phá được “vụ án gián điệp lớn nhất mọi thời đại”, CIA và Ngụy quyền Sài Gòn rơi vào sự thảm bại của một vụ bê bối chính trị không có lối gỡ. Mọi tội trạng của các bị cáo đều do… Tổng thống hợp hiến ủy thác hoặc ra lệnh. Nhân chứng quan trọng nhất của “vụ án” chắc tòa sẽ không triệu tập được, vì đó chính là… Tổng thống. Tất cả mọi vụ việc nêu trên đều hoàn toàn là chính sách, chủ trương của Chính phủ và đều dính tới những nhân vật chóp bu trong Chính quyền từ Tổng thống tới Bộ trưởng, dân biểu và CIA, thậm chí đến cả Tổng thống… Mỹ.

Trước tình hình đó, Thiệu cũng nhảy dựng lên và cho rằng: chính CIA dàn cảnh vụ này để chặt tay chân thân tín của hắn. Thêm vào đó Tòa thánh Vatican và cộng đồng Thiên chúa giáo di cư cũng cho rằng đây là âm mưu của CIA và Chính quyền Thiệu nhằm làm Thiên chúa giáo Việt Nam suy yếu. “Điệp vụ bất khả thi” thành một mớ bòng bong không lối gỡ.

Trước tòa, ông từ chối luật sư biện hộ và cũng không bào chữa. Ông nói: “Những việc tôi làm chỉ có lịch sử phán xét”.

Xử vụ án như mớ bòng bong này, các quan tòa không dám tuyên bố một án tử hình nào. Cả 4 người chủ chốt: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Trọng Thúy, Vũ Đình Hòe, Huỳnh Văn Trọng đều chỉ nhận án khổ sai chung thân, đày ra Côn Đảo. Trước khi phải ra Côn Đảo, ông còn bị tạm giam ở khám Chí Hòa thì ngày 23/6/1971 tại Roma có một đại lễ cầu nguyện cho những ân nhân của Giáo hoàng. Phê-rô Vũ Ngọc Nhạ đã được ghi nhận là “Người con hiếu thảo của Chúa, vệ sĩ nhiều công đức của Giáo hội, ân nhân của Giáo hoàng Paul VI”, được Đức thánh cha ban ơn chết lành và được tặng bằng khen cùng huy chương của Giáo hoàng. Hai ngày sau (25/6/1971), một linh mục khâm sai của Vatican đã vào tận khám Chí Hòa trao tặng các phần thưởng trên cho ông.

Sự đánh giá, ban thưởng của Giáo hoàng Paul VI đã làm cho uy tín của ông dù ở trong tù, song vẫn được nâng cao. Trước khi ông ra Côn Đảo, Thiệu đã thay chúa đảo khác và ra lệnh cho chúa đảo mới phải chăm sóc ông chu đáo để tỏ lòng biết ơn ông. Suốt những năm lưu đày ở Côn Đảo, hàng loạt dân biểu, chính khách, chức sắc tôn giáo và cha tuyên úy của quân đội Mỹ đều viết thư, nhắn tin hoặc ra tận nơi thăm hỏi, xin ý kiến ông.

Chiều ngày 23/7/1973, ông được trao trả tại Lộc Ninh với danh xưng “Linh mục giải phóng”. Cho đến lúc này, khắp miền Nam Việt Nam không một ai nghi ngờ vị trí, ảnh hưởng của ông trong chính trường miền Nam. Linh mục Hoàng Quỳnh và nhiều chức sắc khác của Vatican vẫn đều đặn liên lạc với ông ở vùng giải phóng. Thậm chí cha Hoàng Quỳnh ngày 12/11/1974 còn theo con gái ông, đi xe trâu đến gặp, để trực tiếp bàn bạc với ông về lực lượng thứ 3 và chính phủ 3 thành phần theo Hiệp định Paris.

Đầu năm 1974, ông về Sài Gòn với tư cách là người của lực lượng thứ 3 (gồm lực lượng Giải phóng, Ngụy và phái thứ 3 trung lập) và Tổ chức dự định ông sẽ tham gia trong Chính phủ 3 thành phần. Nhưng Chính phủ 3 thành phần đã không ra đời vì cuộc tiến công của ta quá nhanh, khiến Chính phủ Sài Gòn sắp sụp đổ. Tương kế tựu kế, ông đã dựa vào các linh mục có uy tín trong khối Công giáo để ép Nguyễn Văn Thiệu từ chức và góp phần dàn xếp để Dương Văn Minh lên thay.

Rời khỏi Phủ Tổng thống, Thiệu gọi điện hỏi ông:

- Thầy Hai góp ý cho tôi lúc này nên xử sự thế nào?

- Ông nên đi khỏi Sài Gòn.

- Đi đâu?

- Đi đâu tùy ông, nhưng ông nên trừ nước Mỹ.

- Vì sao tôi không đi nước Mỹ?

- Sang Mỹ họ sẽ giết ông!

Theo lời ông, Thiệu sang Hồng Kông rồi sang Anh cư trú. Cuối 2001, Thiệu qua đời tại Anh. Thế là ông đã giữ được lời hứa với Thiệu: trong lúc nguy nan, “xi-nhan” để ông ta khỏi chết nhục nhã như anh em họ Ngô.

Vào trưa ngày 30/4/1975, Dương Văn Minh, viên Tổng thống cuối cùng của Ngụy quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lực lượng cách mạng. Vũ Ngọc Nhạ với tư cách là người của lực lượng thứ 3 đứng kề bên trong giờ cáo chung đó nở một nụ cười tươi tắn, mãn nguyện, nụ cười của người chiến thắng.

Sau 23 năm hoạt động trong lòng địch, với 2 lần bị địch bắt, bị tù đày, tra tấn hết sức dã man tới 6 năm, từ đất liền ra đến Côn Đảo, song chúng cũng không khai thác thêm gì được ở ông. Cuối cùng, ông vẫn che được mắt chúng, buộc chúng phải cần đến ông, trọng vọng đưa ông vào vị trí cố vấn đặc biệt cho Tổng thống. Nhờ chiếm được vị trí quan trọng này mà ông đã lấy được hàng loạt tài liệu chiến lược, sách lược tuyệt mật: từ kế hoạch “Xây dựng ấp chiến lược”, “Kế hoạch Stalay Taylor”… thời Diệm, đến “Kế hoạch bình định nông thôn”, “Kế hoạch Phượng Hoàng”, “Kế hoạch đổ quân của Mỹ”, “Sách lược chiến tranh đặc biệt”… thời Thiệu… để Đảng kịp thời có đối sách lãnh đạo đường lối đấu tranh. Trong lịch sử các điệp viên quốc tế – của phía ta và phía bên kia – cực hiếm một điệp viên nào luồn sâu, leo cao, thời gian dài và hiệu quả đến như vậy. Làm được những chiến công lớn lao mà thầm lặng trên là do:

1/ Ngay từ đầu, ông đã biết chọn cho mình một “vỏ bọc” vững chắc, an toàn. Đó là do ông đã đóng vai thành công một giáo dân ngoan đạo, một linh mục nhân từ, hết lòng vì Chúa, vì cộng đồng Công giáo Việt Nam. Bởi vì với các chính quyền Ngụy ở nước ta từ sau năm 1954 thì Thiên chúa giáo dường như là quốc giáo đối với các chính quyền đó. Dựa vào Thiên chúa giáo, Ngụy quyền và ông không chỉ có được sự hậu thuẫn của hàng chục triệu giáo dân trong nước, mà còn có được sự ủng hộ của Mỹ và các nước phương Tây cũng như Tòa thánh Vatican.

2/ Bằng sự khôn khéo tuyệt vời, ông đã luồn được sâu, leo được cao vào bộ máy chóp bu của Ngụy quyền. Nhờ đó mà ông lấy được những tài liệu tuyệt mật về chiến lược, sách lược, chiến thuật của kẻ thù để cung cấp cho Đảng.

3/ Với bản chất nhân từ, đức độ cao cả của mình, ông đã cảm hóa được mọi đối tượng làm việc, giao tiếp với mình, kể cả những kẻ có thành kiến hay thù ghét ông. Đúng như nhà văn Hữu Mai khi trả lời phóng viên Nhật Mai của tờ VASC Orient (số ra ngày 8/8/2002) đã nói: “Ông giống như một thầy tu nhân từ, chỉ giúp đỡ và cảm hóa họ. Nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng đó là biện pháp từ trước đến nay rất ít tình báo viên nào làm được. Thường thì họ phải lừa lọc, hoặc phải dùng sức ép, có khi là lợi dụng sự sơ hở để có được những thông tin. Ông Nhã thì không bao giờ như thế. Ông chỉ dùng những biện pháp rất “đời”.

Ông sống rất đúng với con người của mình. Danh lợi đối với ông dường như vô nghĩa, vì ông nhận thức rằng “được bao giờ cũng đi đôi với mất”.

4/ Nhờ trí tuệ thông minh và lòng ham học hỏi, nghiên cứu mà ông đã hiểu sâu sắc mọi vấn đề về quân sự, kinh tế, tôn giáo, ngoại giao… nên ông được kẻ thù kính nể, cậy nhờ và tin tưởng.

Cuộc đời và sự nghiệp của ông Vũ Ngọc Nhạ thật vô cùng vĩ đại. Nó như những huyền thoại, những chuyện cổ tích giữa thời hiện đại. Tên tuổi, sự nghiệp của ông không chỉ làm cho hàng chục triệu người con đất Việt cảm phục, ngưỡng mộ, mà còn làm cho đối phương, ngay cả những chính khách Ngụy và Mỹ như ông MắcNamara cũng phải thừa nhận.

Vũ Duy Yên
(Hội Văn nghệ Thái Bình)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 414

Ý Kiến bạn đọc