Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Với lý luận văn học ấy dạy đọc hiểu thế nào ?

Đầu năm 2015 này, ông GS. TS. NGND Trần Đình Sử vừa cho ra mắt cuốn “Trên đường biên lý luận văn học”. Cuốn sách đã được đón nhận nhiệt tình bằng cả một cuộc Hội thảo đình đám với những lời chào mừng nồng nhiệt của nhiều nhà lý luận phê bình thành danh và được cả một Hội Văn học tặng giải thưởng trong năm. Cá nhân ông được ông Phạm Xuân Nguyên trân trọng giới thiệu trong Hội thảo bằng lời có cánh: “tiếng nói của ông là tiếng nói của một người có thẩm quyền bậc nhất” (về lý luận văn học). Lý luận của ông về giao tiếp trong văn chương với sự phủ nhận chức năng giao tiếp trong đó ở sách ấy là điều chúng tôi quan tâm vì nó liên quan đến việc giảng dạy môn học “đọc hiểu” ở trường phổ thông. Và là một giáo viên từng dạy môn Ngữ Văn vài chục năm trước, chúng tôi không khỏi nảy sinh thắc mắc. Với sự đổi mới lý luận về đặc điểm của ngôn từ văn học mà nổi bật là sự phủ nhận chức năng giao tiếp của nó như thế thì việc dạy môn đọc hiểu văn bản (văn chương) sẽ phải đổi mới thế nào?

Có điều thắc mắc đó là vì ông Trần Đình Sử là một cựu Tổng biên tập SGK, và thường được Bộ Giáo dục mời đứng ra hướng dẫn anh chị em giáo viên dạy “đọc hiểu” đúng theo những tư tưởng đổi mới của ông và được Bộ Giáo dục với bộ máy của mình triển khai trong hơn chục năm nay. Hơn nữa ông lại có học trò ruột là quan chức đang phụ trách việc đổi mới Chương trình SGK Ngữ Văn đợt này. Kinh nghiệm cho thấy vai trò của những nhà khoa học đầu đàn ở mỗi ngành rất lớn, có thể chi phối đường lối và cả các nguyên tắc, phương pháp hoạt động của ngành. Quan niệm tích hợp các môn dạy của mấy vị như thế chẳng đã gây sóng gió quanh môn Lịch sử đó sao?

Vai trò của ông Trần Đình Sử với việc thực hiện việc dạy “đọc hiểu” qua bài ca ngợi của ông Đỗ Ngọc Thống, là rất lớn(1). Người ta được biết từ năm 2002, ông Trần Đình Sử tiếp tục công việc đổi mới dạy đọc này của ông Đỗ Hữu Châu và đã có nhiều công lớn.

Cái tinh thần dạy “đọc hiểu” ấy gắn với nguyên lý dạy giao tiếp ngôn ngữ mà môn Tiếng Việt coi là tinh thần của việc dạy sử dụng ngôn ngữ – “Học trong giao tiếp, để giao tiếp”. Cán bộ chuyên môn các vụ, viện ra sức giảng giải trên các sách báo của ngành những kiến thức cơ bản về dạy giao tiếp ngôn ngữ để giáo viên hiểu và vận dụng khi dạy “đọc hiểu”. Bản thân ông Trần Đình Sử cũng đưa ra những luận điểm soi sáng việc dạy môn này theo tinh thần ấy. Ví như bài “Đọc hiểu văn bản – một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy Văn hiện nay” ông viết năm 2003, in ở báo Văn Nghệ và sửa lại năm 2013 đưa lên mạng. Ở đó ông nói đến 3 bước đọc bài văn mà “Bước thứ ba là đọc hiểu cái thông điệp (tôi nhấn mạnh) mà văn bản gửi đến cho người đọc là một mức rất cao”. Ở một bài khác ông còn yêu cầu “Biến giờ học Văn thành không gian đối thoại”. Với yêu cầu này, ông dẫn ra lời của Hêghen nói: “Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều là một cuộc đối thoại đối với từng người trong công chúng”. Và ông Trần Đình Sử nói rõ thêm “Đối thoại đòi hỏi các bên đều có mục đích chung; các bên trước sau đều là chủ thể; quá trình đối thoại là quá trình các bên đều giao lưu, hợp tác, cùng tham gia, cùng sáng tạo”.

Như vậy là cái tinh thần dạy giao tiếp ngôn ngữ rất được ông và Bộ Giáo dục chỉ đạo giáo viên quán triệt khi dạy “đọc hiểu” các văn bản. Ở bài này chúng tôi xin không bàn sâu về những quan niệm xung quanh việc hiểu và thực hiện tinh thần dạy “đọc hiểu” của ông và một số giáo sư khác. Chúng tôi chỉ nhấn mạnh tinh thần dạy “giao tiếp ngôn ngữ” ở đó. Nhấn mạnh để làm rõ cái thắc mắc chúng tôi nêu ở đầu bài. Vì trong cuốn sách mới của ông Trần Đình Sử có nội dung “đổi mới” về quan niệm giao tiếp trong viết và đọc văn chương(2).

Xin được trích ra mấy câu quan trọng của ông nói về giao tiếp trong văn chương ở sách đó:

Xét về chức năng, đây là ngôn ngữ gián tiếp, nó trực tiếp phục tùng sự giao tiếp phi ngôn từ của hình tượng(3). Đó không phải là lời của một người cụ thể nói với một người cụ thể. Ở đây ngôn từ văn học giống ngôn từ khoa học, triết học nghĩa là một ngôn từ trình bày chân lý trong quá trình tư duy mà không giao tiếp với bất cứ ai cụ thể” (trang 160).

Sáng tác là quá trình tự giao tiếp và tự hoàn thiện. Niềm vui sáng tạo và niềm vui tiếp nhận sản phẩm mới không tách rời nhau. Hoạt động giao tiếp Tôi- Người khác và giao tiếp Tôi-Tôi ở đây hoàn toàn trong nhau (tr.152).

Tác giả tự giao tiếp khi sáng tác và người đọc tự giao tiếp khi đọc văn bản nghệ thuật. Cái gọi là giao tiếp với tác giả thực chất là giao tiếp với “tác giả” do người đọc tưởng tượng ra tức là một dạng giao tiếp Tôi-Tôi (tr.160).

Cái chuyện đúng sai của thứ lý luận này có nhiều bài đã viết trên hai tờ Văn Nghệ TƯ và Văn Nghệ TP.HCM như đã dẫn ra, xin không nêu lại ở đây. Ở đây, chúng tôi chỉ nhìn từ góc độ người dạy giao tiếp văn chương để bàn đôi điều.

Trước hết chúng tôi nhất trí với quan niệm về cái đích dạy sử dụng ngôn ngữ để có 4 kỹ năng Đọc, Nghe, Nói, Viết để tư duy và giao tiếp trong dạy Ngữ Văn hiện nay. Xin trích một đoạn chúng tôi đã viết trên Văn Nghệ TP.HCM số 372:

Chúng tôi quan niệm dạy giao tiếp là một nguyên lý và thành nguyên tắc. Nguyên tắc này phải được quán triệt trong toàn bộ hoạt động dạy và học môn Ngữ Văn. Bởi vì cái đích của môn này là trang bị kiến thức Ngữ và Văn để tạo ra năng lực Làm cho trẻ. Đó là năng lực sử dụng ngôn ngữ cả về bốn mặt Đọc, Nghe, Nói, Viết để tư duy và giao tiếp. Cái gọi là năng lực Văn với trẻ phổ thông chỉ là biết giao tiếp (đọc, tiếp nhận) các tác phẩm văn chương (cũng như các văn bản khác) đúng cách, để có được cảm nhận thông thường của một bạn đọc trung bình, chứ không thể ở trình độ của các chuyên gia. Còn viết “văn” thì cũng chỉ là viết được những “văn bản” thông thường, không đòi hỏi văn chương, văn nghệ gì cao siêu lắm.

Cũng như nhiều người, chúng tôi cũng có quan điểm như ở bài “Lý gì phải học Giảng Văn” trên báo Văn Nghệ TP.HCM số 356:

Khi học các bài văn kia ở các giờ Giảng Văn, trẻ còn được nghe các thầy cô giảng giải phân tích hoặc hướng dẫn tìm hiểu những điều cần tiếp nhận, những cái hay cái đẹp ở bài văn. Nghĩa là trẻ còn và cần được dạy cách đọc một văn bản văn chương, cách giao tiếp với các tác giả bài văn. Thế là trẻ học bài văn ở môn Giảng Văn sẽ đạt một kết quả “kép”: Học để biết nhiều hơn về cuộc đời, để học cách cảm nhận của nhà văn như đã nói và học cách “đọc”, cách cảm nhận về bài văn – một cách thông thường – và cách lý giải cũng thông thường về những điều cảm nhận đó khi đọc chúng. Những thứ thuộc về “kỹ thuật đọc” này thì nói như một nhà nghiên cứu về nghệ thuật đọc sách, người ta phải “học lần thứ hai” sau khi đã học nói ở lần thứ nhất.

Rõ ràng khi việc dạy giao tiếp trong môn Ngữ Văn (và hẹp hơn, trong môn “Đọc hiểu văn bản”) quan niệm như hiện nay mâu thuẫn với những quan niệm về thứ ngôn từ văn học “phi giao tiếp” của ông Trần Đình Sử. Khi mà nhà văn sáng tác ra hay người đọc tiếp nhận đều thực hiện việc tự giao tiếp Tôi-Tôi và bản chất ngôn từ văn học là “nói thầm”, “mình nói với mình”, là “trình bày chân lý trong quá trình tư duy không nói với ai” thì sao ta có thể “nghe được” để mà “giao tiếp”? Lý luận về giao tiếp trong dạy đọc văn phải “phá sản” là cái chắc! Mà nói cho cùng khi dạy học ta cũng vận dụng thứ ngôn từ mang ít nhiều “tính khoa học” khi giảng giải, bình giá… Thế mà như ông Trần Đình Sử nói, thứ ngôn ngữ này cũng là “trình bày chân lý trong quá trình tư duy”, “không nói với ai cả” thì lời thầy lời trò “đối thoại” còn có thể đạt mục đích (giao tiếp) trong giờ dạy?!

Những thắc mắc, câu hỏi này xin nêu ra trước công luận. Cần có câu trả lời cho hàng vạn giáo viên dạy môn Ngữ Văn và cả triệu Quốc dân đồng bào vốn đang rất quan tâm chuyện thay đổi chương trình sách giáo khoa hiện nay! Thiết nghĩ Bộ Giáo dục và những người như ông Đỗ Ngọc Thống (người học trò hết lời ca ngợi ông thầy Trần Đình Sử và đang kế tục lý luận và thực hành trong tinh thần “đổi mới” việc dạy Đọc Hiểu của thầy) trả lời, nêu quan điểm của mình một cách tường minh để mọi người hiểu được ngô khoai như thế nào mà yên tâm!

Minh Xuân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM sổ 385

——————————————

(1)Xem “Thi pháp học ở Việt Nam” – công trình mừng thọ tuổi thất thập của ông Trần Đình Sử (năm 2010).
(2) Thật ra cái quan niệm độc đáo về chức năng tư duy hay giao tiếp của ngôn từ nghệ thuật ông đưa ra khá sớm, từ khi viết sách “Giáo trình Lý luận văn học” của Đại học Sư phạm Hà Nội và “Giáo trình Dẫn luận Thi pháp học”. Xin xem các bài “Khi viết văn tư duy hay giao tiếp (Văn Nghệ TP.HCM số 347, ngày 2-4-2015), “Giao tiếp trong đọc văn -và lý luận của một giáo sư” (Văn Nghệ TƯ số 47, ngày 21-11-2015).
(3) “Giao tiếp phi ngôn từ” là một luận điểm của ông với sự diễn giải cơ bản như sau: Giao tiếp trong văn học là giao tiếp với hình tượng mà hình tượng thì là thứ ký hiệu không lời (ngôn ngữ chỉ là sự tái mã hóa nó). Cho nên giao tiếp trong hoạt động viết – đọc văn là sự “giao tiếp không lời” (dẫn theo bài trên báo Văn Nghệ TƯ số 47/2015).

Ý Kiến bạn đọc