Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Viết về Phan Thanh Giản nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã dùng bút pháp Xuân Thu

Trong lý luận văn nghệ cổ đại Trung Quốc có thuật ngữ “Bút pháp Xuân Thu” tức là văn chương viết theo lối của Khổng Tử trong bộ Kinh “Xuân Thu”, hàm súc, ngắn gọn, dùng chữ nghĩa thâm thúy thể hiện sự khen chê (xưa gọi là bao biếm) đối với một nhân vật hoặc một sự kiện nào đó.

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã chủ trương dùng “Bút pháp Xuân Thu” trong sáng tác của mình: “Học theo ngòi bút chí công/ Trong thơ có ngụ tấm lòng Xuân Thu” (Lục Vân Tiên). Và ông đã vận dụng nhất quán tinh thần đó trong các tác phẩm tiêu biểu. Chỉ tìm hiểu 2 bài thơ của ông điếu Phan Thanh Giản, có thể thấy điểm này thể hiện rõ ràng.

Bài thứ nhất viết bằng chữ Hán:

Lịch sĩ tam triều độc khiết thân
Phi công thùy tản nhất phương dân
Long Hồ uổng phụ thư sinh lão
Phụng Các không vi học sĩ thần
Bỉnh tiết tần lao sinh Phú Bật
Tận trung hà hận tử Trương Tuần
Hữu thiên lục tỉnh tồn vong sự
An (nan) đắc thung dung tựu nghĩa thần.

Hai câu thơ đầu là lời chân thành mến phục:

Làm quan trải ba triều vua, ông vẫn riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.

Không có ông thì ai là người che chở cho cả một phương dân chúng.

Là nhà thơ tích cực luôn ưu thời mẫn thế, yêu nước thương dân, tất nhiên Nguyễn Đình Chiểu tán thưởng và kính phục đạo đức, công lao của Phan Thanh Giản. Sức nặng của chữ nghĩa: lịch sĩ, độc khiết thân, phi công, thùy tản cho thấy một sự đánh giá cao và chân thành.

Bút pháp Xuân Thu bắt đầu phát huy tác dụng ở hai câu 3, 4:

Long Hồ uổng phụ thư sinh lão
Phụng Các không vi học sĩ thần.

Ở Long Hồ (nơi quê hương), ông đã uổng phụ cái chí làm người học trò già

Nơi Phụng Các (chốn làm quan) ông đã làm một cách hão người bề tôi học sĩ.

Hai Cụm từ “uổng phụ” (phụ bỏ uổng phí) và “không vi” (làm một cách vô ích, làm hão, chẳng tích sự gì) là sự phiền trách, xót tiếc nặng nề biết bao.

Phan Thanh Giản từng tự xưng là “thư sinh lão”, là người học trò già lương thiện, khiêm nhường, nhưng với việc làm của ông dâng đất dâng thành cho giặc chứng tỏ ông đã “uổng phụ” cái chí thanh cao đó. Việc làm của ông đã phủ định tài năng “học sĩ thần” của ông.

Đến câu 5, 6 thì càng uẩn áo hơn:

Bỉnh tiết tần lao, sinh Phú Bật
Tận trung hà hận, tử Trương Tuần

Bút pháp Xuân Thu cho thấy ở đây 2 tầng ý nghĩa:

Mới đọc, có thể hiểu là sự đánh giá rất cao:

Cầm cờ tiết đi sứ, nhiều phen vất vả, sống như Phú Bật
Tận lòng trung, còn gì phải hận, chết như Trương Tuần.

Nhưng người đọc nào có hiểu biết về 2 nhân vật Phú Bật đời Tống và Trương Tuần đời Đường sẽ thấy đây là một sự so sánh phản diện, hàm ý mỉa mai (Phú Bật là người đời Tống Nhân Tông, vâng mệnh đi sứ Khiết Đan, đã lao tâm khổ tứ, hết lòng thuyết phục địch, cuối cùng đem về thắng lợi cho đất nước. Trương Tuần người đời Đường, đã dũng cảm chống giặc giữ thành, bị giặc bắt, đánh đập tàn tệ, vẫn kiên trinh và tử tiết trong tay giặc) sẽ không thể tin rằng một người yêu nước, đang đứng trong hàng ngũ nghĩa quân để chống giặc như Nguyễn Đình Chiểu lại có thể ví Phan Thanh Giản với hai nghĩa sĩ ngoan cường nổi danh này được. Phan đâu có gian lao vất vả đòi được đất về cho dân cho nước như Phú Bật? Phan đã đầu hàng dễ dàng hết đợt một đến đợt hai, Phan đâu có kiên trinh tử tiết trong tay quân giặc như Trương Tuần mà là tự hủy thân mình vì thất vọng, vì xấu hổ. Lúc gần chết lại còn lo sợ, hỏi ông cố đạo bên cạnh là liệu thuốc giải độc “có cứu được tôi không?”.

Cu-Nguyen-Dinh-Chieu-1
Cụ Nguyễn Đình Chiểu.

“Bút pháp Xuân Thu” khiến người đọc tự suy mà thấy ý. Từ hàm nghĩa từ ngữ và kết cấu văn pháp, từ đặc điểm “ý tại ngôn ngoại” của thơ ca văn ngôn, từ sự kết hợp với nhận thức tư tưởng của tác giả và thực tế hành vi của nhân vật, mới có thể hiểu tầng sâu của ý nghĩa như sau:

Cầm cờ tiết đi sứ mà nhiều phen vất vả (đem lại lợi ích cho dân cho nước) thì ông sẽ sống như Phú Bật.

Hết lòng trung (mà là minh trung) với vua với nước (chết oanh liệt vì lòng trung ấy), thì có gì phải hận, ông sẽ chết như Trương Tuần.

Hai câu thơ tưởng là ca ngợi mà lại là trách cứ, sâu xa biết bao!

Đến câu 7:

Hữu thiên, lục tỉnh tồn vong sự.

Người đọc có thể hiểu 2 cách:

- Có trời (thấu hiểu cho ông) về chuyện mất còn của 6 tỉnh.

- Có trời (phán xét ông) về chuyện mất còn của 6 tỉnh.

Và sẽ chọn được cách hiểu đúng nhất nếu gắn liền với câu tiếp sau:

Nan đắc thung dung tựu nghĩa thần.

(Khó mà có thể thung dung làm vị thần tựu nghĩa được)

Hoặc:

An đắc thung dung tựu nghĩa thần.

(Sao có thể thung dung làm vị thần tựu nghĩa được)

Vậy là ý phê phán thật đã rõ ràng:

- Có trời phán xét chuyện mất 6 tỉnh mà ông đã gây nên!

- Ông khó mà có thể thung dung thành vị thần tựu nghĩa được!

Câu cuối này khẳng định thái độ của Nguyễn Đình Chiểu. Và cả bài thơ là sự thông cảm, nhưng phê phán và xót tiếc cho lỗi lầm của người quá cố.

Bài điếu thứ hai là thơ Nôm:

Non nước tan tành hệ bởi đâu?
Dàu dàu mây bạc cõi Ngao châu
Ba triều công cán đôi hàng sớ
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu
Trạm Bắc ngày chiều tin điệp vắng
Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu
Minh tinh chín chữ lòng son tạc
Trời đất từ nay mặc gió thu.

Bài này cũng được “bút pháp Xuân Thu” thể hiện hai tầng ý nghĩa:

Hai câu đầu là một nỗi đau buồn. Buồn cho đất nước bị giặc tàn phá tan tành. Nơi Ngao châu, quê hương Cụ Phan giờ đây mây buồn che phủ. Thương tiếc người đã chết chăng? Đó là tầng nghĩa nông.

Tầng nghĩa sâu cho thấy Cụm từ “hệ bởi đâu?”. Không chỉ là nỗi đau mà còn là nỗi “hận”. Đất nước tan tành như thế, căn nguyên nào? Bởi vì ai? Thực tế ai cũng hiểu: đối tượng hậu trách là quân giặc, là Phan Thanh Giản và cả triều đình Huế.

Câu 2 lại chỉ nói đến Ngao châu là quê Phan và suốt cả bài thơ cũng chỉ nói đến Phan. Vậy có thể hiểu như sau:

Mây trắng đau buồn phủ khắp cõi Ngao châu. Cả vùng Ngao châu đau buồn vì người con của quê hương vốn được mến mộ mà nay lại đắc tội với dân với nước, gây nên nông nỗi.

Câu 3 và câu 4 cũng có tầng nghĩa nông là ca tụng:

Ba triều công cán đôi hàng sớ
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu.

Nhưng đọc kỹ hai Cụm từ “đôi hàng sớ” và “một gánh thâu” thì lại thấy ý ngược lại.

Một vị đại thần đầy tài năng mà suốt 3 triều vua rút Cục chỉ có “đôi hàng sớ” thôi ư? Phải chăng đây là đôi hàng sớ cuối cùng Phan nhận tội với triều đình? Và như vậy thì “Ba triều công cán” của ông quan này chẳng còn gì đáng kể.

Đến câu sau thì Cụm từ “một gánh thâu” có sức nặng ngàn cân để phủ định Cụm từ “sáu tỉnh cương thường”. Vì chữ “thâu” có nghĩa là thua, là mất, là thất bại, ngược lại với doanh là được, là thắng.

Vậy là đạo đức cương thường của Cụ Phan từng nổi tiếng lục tỉnh nay chỉ còn là “một gánh thua”, một sự thất bại nặng nề. Chao ôi, đau xót thay, mà cũng đáng trách thay!

Tiếp tới hai câu 5, 6:

Trạm Bắc ngày chiều tin điệp vắng
Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu.

Hai câu này cực tả tình cảnh đáng thương của Phan trước lúc qua đời. Tài liệu cho biết: Sau khi nộp thành, dâng đất cho Tây, Phan Thanh Giản gói mũ áo, phẩm hàm, kèm theo sớ tạ tội, gửi về triều bằng tàu tốc hành (tàu Pháp) rồi khắc khoải chờ đợi, chắc còn hy vọng sẽ lại được tha tội như lần trước, sẽ lại được phục chức, trọng dụng. Song, mỏi mòn chờ mãi, chờ nửa tháng trời, tin điệp vẫn chẳng thấy đâu. Lo lắng rồi thất vọng, rồi tuyệt vọng, biết chắc bị bỏ rơi rồi. Cuối cùng tự tìm đến cái chết vào lúc nửa đêm, giờ Tý ngày 5-7 năm Đinh Mão tức 4-8-1867.

Nguyễn Đình Chiểu đã thấu hiểu, thông cảm với tình cảnh đáng thương này. Hai câu thơ càng khẳng định rằng Cụ Đồ không thể so sánh Cụ Phan với Phú Bật và Trương Tuần được.

Hai câu cuối cùng vừa chua chát vừa đau buồn trong ẩn ý của chúng:

Minh tinh chín chữ lòng son tạc
Trời đất từ nay mặc gió thu.

Bốn chữ “Minh tinh chín chữ” đã được các nhà nghiên cứu phân tích là Cụ Đồ uyên thâm cố ý dùng “chín chữ”(**) thay vì “mười một chữ”(**) như trong di chúc Cụ Phan để lại, để chữ “cữu” ứng với chữ “quỷ” chứ không phải chữ “linh” (Phan Thanh Giản dặn con cháu ghi trên minh tinh của mình 11 chữ:

Đại nam hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu

(Quan tài của người học trò già họ Phan nơi góc biển nước Nam)

Cụ Đồ dùng 9 chữ thì sẽ như sau:

Hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu(**)

(Quan tài của người học trò già họ Phan nơi góc biển)

Và theo phép đề minh tinh: Chín chữ thì chữ cữu sẽ ứng với chữ “quỷ”, còn nếu 11 chữ thì “cữu” sẽ ứng với chữ “linh”. Như vậy, Cụ Đồ xem như Cụ Phan chết đi chỉ thành ma chứ không thể thành thần được.

Điều này, những người có tấm lòng son với nước với dân (cả Cụ Phan, cả Cụ Đồ, cả mọi người dân) đều ghi nhớ mãi không quên. Đó là một bài học.

Đến câu chót “Trời đất từ nay mặc gió thu”.

Hai chữ “gió thu” ở đây rất quan trọng. Có người hiểu là “gió lành, gió mát” và giải nghĩa cả câu theo kiểu “gọt chân cho vừa giầy” rất khiên cưỡng và tối nghĩa. Tôi tra trong “Hán ngữ đại từ điển” (NXB Thượng Hải – 2004) thì thấy rành rọt: Thu phong là gió từ phương tây thổi lại, là gió tây (nghĩa thứ 11, và mục từ điều “Thu phong”). Cũng như nhiều nhà Nho khác, dù làm văn thơ Nôm, Cụ Đồ cũng thường dùng xen vài từ Hán, vì tiếng Việt đã đồng hóa nhiều từ tiếng Hán, rất nhiều từ đã được Việt hóa rất tự nhiên. Ngay trong bài thơ này cũng có đến mười mấy từ Hán như vậy.

Vậy có thể hiểu câu thơ là lời than đau xót:

“Đất nước từ nay mặc sức gió Tây tung hoành vùi dập. Sáu tỉnh phương Nam từ nay mặc sức giặc Tây giày xéo”.

Ngoài 2 bài điếu, Nguyễn Đình Chiểu còn tỏ thái độ đối với Phan Thanh Giản qua 2 câu thơ trong bài “Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh”:

Phải trời cho cán quyền phá lỗ, Trương tướng quân còn cuộc nghĩa binh
Ít người đặng xem tấm bảng phong thần Phan học sĩ hết lòng mưu quốc.

Câu trên ca ngợi tướng quân Trương Định và đau lòng trước sự hy sinh của ông, trước sự thất thế của nghĩa quân.

Câu dưới là nói về Phan Thanh Giản. Nhiều người chỉ chú ý mấy chữ sau mà không quán xuyến toàn câu gồm mấy chữ đầu:

Ít người được xem tấm bảng phong thần.

Bảng phong thần gì vậy? Bảng phong thần “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc”! Lối viết văn chữ Nôm xưa không có các loại dấu, nếu ngày nay viết thì sẽ có hai ngoặc kép cho Cụm từ “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc”(!), và Cụm từ này là định ngữ của “Bảng phong thần”. Đó là lối phân tích ngữ pháp hiện đại, thời Cụ Đồ chưa có những thuật ngữ đó. Song ai cũng hiểu các Cụm từ như: “bảng phong thần vị quan hết lòng cứu dân”, “bảng phong thần người vợ một lòng thủ tiết”, “bảng phong thần vị tướng dũng cảm trừ giặc”… Và ở đây là bảng phong thần “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc” (nối liền 10 chữ).

Bút pháp xuân thu rất kiệm lời. Nhưng cả câu:

Ít người đặng xem tấm bảng phong thần “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc” này, vì sao vậy? Vì làm gì có? Lúc này Phan học sĩ là người có lỗi, bị triều đình nghị tội, bị vua khiển trách, có được phong thần gì đâu mà có bảng để xem? Đến đời mấy ông vua bù nhìn Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại mới có. Như thế thì thái độ Nguyễn Đình Chiểu có tán thưởng Phan Thanh Giản hay không? Cứ ngẫm nghĩ kỹ sẽ rõ.

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ có ý thức về sứ mệnh của văn chương:

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”

“Bút pháp xuân thu” có tác dụng “khiến người ngay phấn khích, kẻ gian run sợ”, nên ông rất chú trọng, và vận dụng vào văn chương rất đắc địa, rất cao tay, chứng tỏ cái tài với cái tâm của ông đều đáng nêu gương thiên cổ”.

Phạm Thị Hảo
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 463

——————————
Chú thích:
(**) Cụ Phan dặn các con cháu trên “minh tinh” nhớ ghi câu 11 chữ như sau:
ĐẠI NAM HẢI NHAI/LÃO THƠ SANH TÁNH/PHAN CHI CỮU.
Ứng với câu 11 chữ:
QUỶ-KHỐC-LINH-THÍNH
QUỶ-KHỐC-LINH-THÍNH
QUỶ-KHỐC-LINH
Cũng như trong phép làm nhà, dân gian thường dùng câu 4 chữ:
SINH-LÃO-BỆNH-TỬ/SINH-LÃO-BỆNH-TỬ… vậy.
Trong phép viết “triệu” có quy tắc: “Nam linh, Nữ thính. Bất dụng quỷ, khốc nhị tự”. Nghĩa là người chết là Nam thì chữ cuối cùng của câu văn phải ứng vào chữ linh; nếu là Nữ thì phải rơi vào chữ thính. Không được ứng với hai chữ quỷ (nam), chữ khốc (nữ).
Ở đây Cụ Phan làm “triệu” 11 chữ nhằm theo quy tắc chữ CỮU cuối cùng tương ứng với chữ LINH.
Nhưng “triệu” 9 chữ của Cụ Đồ Chiểu là như sau:
HẢI NHAI LÃO THƠ/SANH TÁNH PHAN CHI/CỮU
Ứng với 9 chữ:
QUỶ-KHỐC-LINH-THÍNH/QUỶ-KHỐC-LINH-THÍNH/QUỶ!
Vậy là chữ CỮU cuối cùng ứng đúng vào chữ QUỶ!
Cụ Đồ không biết viết “triệu” chăng? Không! Đây là lời mắng nhiếc nặng nề! Ý Cụ Đồ xem như Cụ Phan chết đi chỉ thành quỷ chứ không thể thành thần được!
(**) Soạn giả lão thành, Cụ Đặng Trần Nguyên giải thích: Cụ Đồ cắt đi hai chữ ĐẠI NAM hàm ý: Cụ Phan chết sẽ thành “quỷ không quê hương”, nước Nam không dung con người ấy; chớ không như Trần Bình Trọng còn được làm “quỷ nước Nam” ta.
(**) “Tuyển tập Nguyễn Đình Chiểu” của giáo sư Ca Văn Thỉnh (NXB Văn nghệ – 2002) có nêu một cách hiểu khác về hai câu trong bài Văn tế:
… Trương tướng quân còn cuộc nghĩa binh
… Phan học sĩ hết lòng mưu quốc
“Còn” đối với “hết”. Và hết ở đây là đã hết rồi. Chúng tôi thấy cách hiểu này cũng thống nhất với cách hiểu của chúng tôi.

Ý Kiến bạn đọc