Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Viết về Lực lượng Vũ trang và Chiến tranh Cách mạng – một yêu cầu lớn của Đất nước và Thời đại

Đề tài LLVT và chiến tranh cách mạng vô cùng rộng lớn, hấp dẫn

Lịch sử mấy nghìn năm của đất nước và dân tộc ta chủ yếu là lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm, dữ dội, oanh liệt và đầy hi sinh. Từ 1945 đến 1975, là giai đoạn lịch sử hào hùng bậc nhất của dân tộc, với hai cuộc kháng chiến cực kỳ gian khổ, thần kỳ, đã đánh thắng “hai đế quốc to” là Pháp và Mỹ; trong đó, liên tiếp có những chiến công lẫy lừng của các lực lượng vũ trang (LLVT) cách mạng. Đồng hành, gắn bó máu thịt với các “Anh bộ đội Cụ Hồ” – là lực lượng nhân dân cách mạng hùng hậu, bao gồm nam-phụ-lão-ấu, với các thành phần xuất thân, từ miền núi, nông thôn, thành thị đến hải đảo, đã chung lưng đấu cật với bộ đội làm nên biết bao sự tích oai hùng. Ẩn chứa bên trong và đằng sau các chiến công hiển hách ấy, là những hoàn cảnh, tâm tư, những số phận muôn màu nghìn vẻ của những người lính và người dân tham gia cách mạng. Chiến công và những đau thương mất mát, những nụ cười và những giọt nước mắt, những trầm tư và những nếp nhăn sâu trên gương mặt của những người đã xả thân vào các cuộc chiến đấu, di hại của chiến tranh khốc liệt và những khó khăn trong thời bình đè nặng lên cuộc sống gia đình, bản thân và con cái của họ… Tất cả, là hiện thực vô cùng sinh động, đa dạng, phong phú về LLVT và chiến tranh cách mạng. Mảng đề tài rộng lớn này hết sức hấp dẫn đối với những người cầm bút. Tuy nhiên, văn học viết về LLVT và chiến tranh cách mạng chưa xứng tầm với hiện thực lẫm liệt của đất nước và dân tộc. Đây là một vấn đề lớn, cần phải quan tâm, suy nghĩ thấu đáo và tìm các phương kế giải quyết. Bởi, viết về LLVT và chiến tranh cách mạng – là một yêu cầu lớn và bức thiết của đất nước và thời đại.

Nhìn khái quát văn học 1945 – 1975 viết về LLVT và chiến tranh cách mạng

Văn học 1945 – 1975 rất ít những tác phẩm hay (với “tầm” Việt Nam) và không có tác phẩm lớn về LLVT và chiến tranh cách mạng. Các tác phẩm loại thể trữ tình, như: những bài thơ trong tù của các chiến sĩ cách mạng chỉ là những tâm tư, suy ngẫm, ít tiếng vang xa. Thơ ca giai đoạn 1945 – 1975 đọng lại nhiều nhất, là một số tác phẩm của Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật… Các tác phẩm thuộc loại thể tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự, hồi ký, nhật ký…) và kịch, có số lượng nhiều nhất, nhưng tương đối có giá trị (chủ yếu là giá trị nội dung tư tưởng và một phần nào đó về giá trị nghệ thuật) cũng chỉ có một số lượng ít ỏi: “Đất nước đứng lên”, “Rừng xà nu” (của Nguyên Ngọc – Nguyễn Trung Thành), “Chị Tư Hậu”, “Hòn Đất” (Bùi Đức Ái – Anh Đức), “Người mẹ cầm súng” (Nguyễn Thi), “Sống như Anh” (Trần Đình Vân), “Bất khuất” (Nguyễn Đức Thuận), “Vỡ bờ” (2 tập) của Nguyễn Đình Thi, “Vùng trời” (Hữu Mai), “Nổi gió” (Đào Hồng Cẩm)… Chưa có tác gia lớn, tác phẩm đồ sộ về loại thể văn học này.

Bac-Ho-hoi-kien-cung-nha-tho-To-Huu-va-cac-nha-van-mien-Nam-Phan-Tu-Tran-Dinh-Van
Bác Hồ hội kiến cùng nhà thơ Tố Hữu và các nhà văn miền Nam Phan Tứ, Trần Đình Vân. (Ảnh tư liệu)

Chủ đề chính yếu và được chỉ đạo khi viết về LLVT và chiến tranh cách mạng giai đoạn này là: “Yêu-Căm-Chiến-Lạc” (yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu hy sinh anh dũng, tinh thần lạc quan cách mạng) – điều đó là đúng, nhưng chưa đủ. Nó đã tạo nên một số tác phẩm tốt về nội dung tư tưởng lúc đương thời; nhưng nhìn chung, nó sinh ra cái khuôn mẫu khô cứng của các tác phẩm, có phần gò bó, làm giảm cá tính sáng tạo của nhà văn. Nói cách khác, nó làm cho sắc diện của hầu hết các tác phẩm viết về LLVT và chiến tranh cách mạng trở nên thiếu chiều sâu, đơn điệu, tẻ nhạt. Tôi gọi đấy là loại tác phẩm văn học – chính trị, ít tính văn chương – nghệ thuật. Và, nếu nói như Nhà nghiên cứu văn học Hoàng Ngọc Hiến mà đến bây giờ nhiều người mới nhận ra là có lý – thì đó là loại “văn học phải đạo” ít có giá trị nghệ thuật và sức lay động tâm trí người đọc!

Văn học Việt Nam viết về LLVT và chiến tranh cách mạng từ sau 1975 cho đến nay

Văn học Việt Nam từ sau 1975 viết về LLVT và chiến tranh cách mạng thưa thớt dần vào thập niên 80, 90 của thế kỷ trước, cho đến nay. Từ thời kỳ Đổi mới đất nước và bước vào nền kinh tế thị trường sơ khai, tác phẩm văn học (các thể loại) viết về LLVT và chiến tranh cách mạng ít hẳn đi. Có lẽ đáng kể nhất, là tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh (xuất bản lần đầu, năm 1990) làm xao động dư luận trong nước và được dịch ra nhiều thứ tiếng, được hâm mộ nhiều nhất là ở Mỹ. Theo nhà văn Nguyễn Quang Thiều: “Nỗi buồn chiến tranh” đã “chạm vào mẫu số chung của nhân loại”. Nhiều nhà văn chuyển hướng viết các đề tài “đời thường”, như: tình yêu nam nữ và tình dục, sản xuất và kinh doanh, doanh nhân, những điều đối nhân xử thế, tâm tư u uất, số phận con người (không phải người lính)… xem như những món “mì ăn liền”, hợp “thời thượng”, pha màu câu khách, để kiếm sống và kiếm danh. Một vài nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử. Nhưng vẫn quá hiếm hoi tác phẩm có chất lượng, có “tầm” (lại chỉ nói cái “Tầm” của Việt Nam)! Còn về đề tài LLVT và chiến tranh cách mạng, thì nhiều nhà văn, nhà lý luận – phê bình văn học có tên tuổi của nước ta, trong và ngoài quân đội, có người cho rằng: mảng đề tài này đã cạn kiệt; có người nói là rất khó viết, có nhiều khó khăn trong việc khai thác, đánh giá các sự kiện và nhân vật chính trị – quân sự, cũng như các khía cạnh nhân văn, thẩm mỹ của nó… Lập luận như thế là không có cơ sở, không thuyết phục, và dường như đã né tránh một điều gì đó về cái cốt yếu để tạo nên một tác phẩm văn học hay – mà tôi sẽ nói dưới đây. Ai cũng hiểu một nguyên lý, một quy luật phổ biến: Xã hội nào, văn học ấy. Nhưng chúng ta lại quên, hay cố tình quên và né tránh một điều cốt lõi: Nhà văn nào, tác phẩm ấy!

Nhìn vào các nền văn học của các nước: Nga, Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc, Mỹ La-tinh… trong đó có nhiều tác phẩm văn học viết về chiến tranh vệ quốc, về nhân dân anh hùng của họ, ta thực sự ngưỡng mộ và kinh ngạc trước những tác phẩm lớn, tác phẩm đồ sộ, tác phẩm sử thi đã trường tồn cùng thời gian và không gian không biên giới, với những tên tuổi nhà văn lẫy lừng tầm cỡ thế giới. Vậy, chúng ta nghĩ gì?

Viết về llvt và chiến tranh cách mạng nhiều hơn nữa và phải có tác phẩm chất lượng cao, xứng tầm hiện thực – đó là yêu cầu lớn và bức thiết của đất nước và thời đại

LLVT và chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ngày càng lớn mạnh, trưởng thành và đến nay càng được khẳng định, được đánh giá cao trên trường quốc tế. Ngày nay, công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và hội nhập toàn diện với thế giới văn minh càng đòi hỏi các nhà văn viết nhiều hơn nữa, hay hơn nữa về đất nước và nhân dân mình với những tác phẩm có chất lượng cao cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật – trong đó cần đặc biệt quan tâm tới LLVT và chiến tranh cách mạng – mảng đề tài cực kỳ đa dạng, rộng lớn và hấp dẫn. Phải gắng gỏi làm sao để có được những tác phẩm văn học xứng tầm hiện thực ở mảng đề tài này.

Người viết về LLVT và chiến tranh cách mạng có thể là tất cả các nhà văn (chuyên nghiệp và nghiệp dư) trong và ngoài quân đội. Không phải chỉ những nhà văn quân đội đã tham gia kháng chiến (hoặc chống Pháp, hoặc chống Mỹ, hay cả hai) và các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, hải đảo, mới có vốn sống thực tế để viết về LLVT và chiến tranh cách mạng. Tất cả những người cầm bút, dù trẻ hay đã cao niên, dù làm nghề nghiệp gì, nếu có lòng nồng nàn yêu nước, yêu quý “Anh bộ đội Cụ Hồ”, yêu kính nhân dân nghèo khổ mà rất đỗi anh hùng của mình và có năng khiếu văn học, có thể tìm hiểu qua các sử sách, các tài liệu và báo chí (trong và ngoài nước) viết về các cuộc chiến tranh vệ quốc của Việt Nam, đều có thể viết và viết hay về LLVT và chiến tranh cách mạng, đều có thể sáng tạo được những tác phẩm văn học có tầm cỡ về mảng đề tài này. Nhìn rộng ra văn học thế giới, ta đều thấy hiện tượng như vậy.

Cần có nhiều tác phẩm văn học, với những thể loại khác nhau: thơ – truyện – ký – kịch, với những khuôn khổ tác phẩm và phạm vi đề tài khác nhau khi viết về LLVT và chiến tranh cách mạng. Tuy giá trị của tác phẩm văn học không phụ thuộc vào thể loại, nhưng loại thể tự sự rất có lợi thế khi viết về LLVT và chiến tranh cách mạng, bởi nó có nhiều khả năng phản ánh, miêu tả rất rộng rãi, sinh động và những tầm nhìn sâu về các cuộc chiến tranh, các chiến dịch, các trận chiến đấu, nghệ thuật quân sự, các tuyến nhân vật… cũng như các biểu hiện đa dạng, phức tạp và những diễn biến tinh vi của tâm tư, tình cảm, tính cách con người – tức các nhân vật trong chiến tranh, của ta và của địch. Làm thế nào để có các tác phẩm xứng tầm hiện thực – đó là điều day dứt lớn và thường xuyên của nhiều nhà văn có tâm huyết và tên tuổi của nước ta. Đó cũng là điều mong đợi, khao khát của nhân dân.

Ngày nay, viết về LLVT và chiến tranh cách mạng có thể là những tác phẩm phản ánh người thật, việc thật, có thể hoàn toàn hư cấu trên cơ sở hiện thực lịch sử. Có thể tiếp nối truyền thống và các thủ pháp nghệ thuật của các nhà văn nổi tiếng giai đoạn 1945 – 1975. Tuy nhiên, cần đổi mới, cách tân và sáng tạo thiết thực, mang đậm chất nhân văn và yêu cầu thẩm mỹ mới. Về chủ đề tư tưởng, không thể chỉ có “Yêu-Căm-Chiến-Lạc”, mà phải tìm tòi, khám phá, phát hiện những cái mà các nhà văn trước đây chưa phản ánh và biểu hiện. Không chỉ viết về các chiến thắng, mà có thể viết về những chiến bại, những tổn thất lớn lao khó có gì bù đắp được và cả các nỗi niềm, tâm tư sâu kín. Không chỉ viết về Ta, mà còn phải viết về Địch, cả về những cái mạnh, sự giầu có, tài giỏi và những thủ đoạn, âm mưu thâm hiểm của chúng. Không chỉ ca ngợi những nụ cười chiến thắng của Ta, mà còn cần miêu tả và biểu hiện cả những giọt nước mắt, vành khăn tang, những khó khăn và nỗi đau, kể cả các bi kịch (hiểu cho đúng khái niệm “bi kịch”) của các chiến sĩ và nhân dân cách mạng… Tóm lại, tất cả các biểu hiện, các vấn đề, các khía cạnh của LLVT và chiến tranh cách mạng đều cần được phô diễn bằng các tác phẩm văn chương đích thực, với cách nhìn đa chiều, nhìn thẳng và nhìn sâu vào hiện thực, nhưng bao trùm là tình cảm yêu nước, tinh thần nhân văn, đề cao chính nghĩa của chiến tranh vệ quốc, thể hiện tầm vóc đáng kính trọng và đáng yêu của LLVT và nhân dân cách mạng Việt Nam ta. Làm được những điều này, không phải dễ!

Nhà nước, Quân đội, Hội Nhà văn Việt Nam, các tờ báo và tạp chí văn học, các nhà xuất bản có thể phát động sâu rộng và thường xuyên các cuộc thi viết, in ấn các tác phẩm về LLVT và chiến tranh cách mạng, với sự đánh giá công tâm, cởi mở và cao thượng, với các giải thưởng đáng gọi là “Giải thưởng”! Đặc biệt, cần chú ý quan tâm, tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho các cây bút cao niên (chuyên nghiệp và nghiệp dư) có nhiều vốn sống, có khả năng viết về chiến tranh nhân dân. Đấy là những việc có tác dụng không nhỏ để khơi lại dòng chảy của văn học viết về đề tài lớn, hết sức hấp dẫn, nhưng đầy khó khăn này. Song, trên hết, các cơ quan quản lý văn học – nghệ thuật hãy rộng đường quan niệm về văn học chiến tranh, mở rộng dân chủ, tôn trọng và đề cao sự sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn. Không phiến diện, hẹp hòi, không thành kiến và định kiến; có hiểu biết về đặc trưng sáng tạo – hư cấu của văn học (và nghệ thuật) – đấy là điều cần phải có của những người quản lý văn học – nghệ thuật ngày nay.

Có lịch sử chiến tranh cách mạng hào hùng, có sự khuyến khích, động viên của Nhà nước, Quân đội, Hội Nhà văn và các cơ quan phụ trách văn học – nghệ thuật, thì việc ra đời các tác phẩm văn học xứng tầm viết về LLVT và chiến tranh cách mạng chỉ còn tùy thuộc vào bản thân người viết. Trở lại vấn đề cốt lõi để tạo nên tác phẩm văn học có giá trị đích thực mà tôi mới hé mở ở phần trên, đấy là cái TÂM và cái TÀI của nhà văn. Cái TÂM tức là yêu nước, yêu nhân dân, biết ái-ố-hỉ-nộ một cách đúng đắn, rõ ràng và hết mình. Trong lĩnh vực văn học (và nghệ thuật), tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh và đề cao cái TÀI của nhà văn. TÀI của nhà văn bao gồm: Tri thức văn hóa sâu rộng – trong đó có sự hiểu biết và tiếp thụ được tinh hoa truyền thống văn học dân tộc và văn học thế giới, có vốn sống phong phú; nhạy bén với thời cuộc và có hiểu biết sâu sắc về đề tài mình viết; có khả năng tổng hợp, khái quát và chắt lọc các tư liệu lịch sử và thực tế đời sống để từ đó mà hư cấu, sáng tạo các hình tượng thẩm mỹ độc đáo và đặc sắc, tạo cho mình một cá tính sáng tạo; đồng thời phải có NĂNG KHIẾU văn học! Làm văn học, thì cùng với chữ TÂM, rất cần phải có chữ TÀI – điều kiện không thể thiếu, mà TÀI càng cao, càng bổ ích, đáng quý – thì nhà văn mới có thể viết được tác phẩm có giá trị đích thực, có tầm cỡ.

Đào Ngọc Đệ
(Giảng viên chính Đại học Hải Phòng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 431

Ý Kiến bạn đọc