Văn học nước ngoài

Việt Nam – trận chiến cuối cùng

 

Mưa rơi xuống, thời gian cuốn trôi. Tôi nhìn xuống từ tầng thượng khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà hơn một thế hệ trước là Sài Gòn, trong cuộc chiến tranh kéo dài nhất thời hiện đại, tôi đã chứng kiến những con đường im ắng, ảm đạm. Những người lính nước ngoài đã biến mất vào ngày cuối cùng của chiến tranh. Qua màn sương, giống như những bóng ma nhỏ, 4 đứa trẻ xuất hiện và chạy ra, hai tay vươn ra. Chúng khoanh tròn làm nhiều động tác khác nhau, và một trong số chúng ngã xuống, giả chết. Ồ, chúng chơi trò đánh trận giả!

Điều này không có gì lạ, vì không có nơi nào giống như Việt Nam. Trong cuộc đời của tôi chứng kiến, những người theo chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh đã chiến đấu và đánh đuổi người Pháp, những đại lộ rợp bóng cây, biệt thự màu hồng và bản sao thu nhỏ của Nhà thờ lớn Paris, là những biểu hiện cho sự cướp bóc và tàn ác. Sau đó là người Nhật, người mà các quan chức thuộc địa Pháp đầu hàng, hợp tác; sau đó người Anh đã tìm cách phục dựng lại quyền lực cho người Pháp; sau đó là người Mỹ, người mà Hồ Chí Minh đã nhiều lần cố gắng hình thành một liên minh; rồi Khmer Đỏ của Pol Pot, kẻ tấn công từ phía tây; và cuối cùng là người Trung Quốc, với cái gật đầu đầy thù hận từ Washington, đã từ phía bắc tràn xuống. Tất cả đều được thế giới nhìn thấy với chi phí nhân mạng vô cùng lớn.

Tôi bước xuống mưa và đi theo những đứa trẻ qua một mê cung đến một trại trẻ mồ côi. Một giáo viên vội vàng tập hợp một dàn hợp xướng nhỏ và tôi được chào đón bằng một bài hát. Lời của bài hát là gì? Tôi đã hỏi Trần, có bố là lính Mỹ. Đứa nhỏ nghiêm trang nhìn xuống sàn nhà, như những đứa trẻ 9 tuổi vẫn làm, trước khi đọc những từ khiến người phiên dịch của tôi lắc đầu. “Máy bay không còn nữa”, nó lặp đi lặp lại, “không còn phải khóc cho những người vừa mới sinh ra…”.

Việt Nam những năm sau chiến tranh đã bị trừng phạt vì họ là người đã bắn hạ những chiếc trực thăng, những chiếc B-52 cuối cùng của Mỹ, với những quả bom được sơn bóng giống như ánh chớp trong cuộc tàn sát của họ. Những chiếc C-130 đã rải, như Thượng viện Mỹ xác nhận, một lượng hóa chất độc hại lên tới 6 pound trên đầu mỗi người dân, phá hủy phần lớn hệ sinh thái và gây ra thảm họa thai nhi, và đủ thứ chứng bệnh khác khiến các ngôi làng sau chiến tranh vẫn tiếp tục bị tàn phá.

Khi tất cả kết thúc vào ngày 30-4-1975, Hollywood bắt đầu lễ kỷ niệm dài của những kẻ xâm lược nhưng với tư cách là những nạn nhân, sự thanh trừng được xây dựng thành tiêu chuẩn, trả thù là chính sách xuyên suốt. Việt Nam được xếp vào danh mục ZZ ở Washington, nghĩa là đối tượng bị áp đặt Giao dịch hà khắc với Đạo luật dành cho Kẻ thù được ban hành từ cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Điều này đảm bảo rằng ngay cả tổ chức Oxfam America cũng bị cấm gửi viện trợ nhân đạo. Các đồng minh của Mỹ đã tham gia trừng phạt. Một trong những hành động đầu tiên của Margaret Thatcher khi lên nắm quyền vào năm 1979 là thuyết phục Cộng đồng châu Âu chấm dứt các chuyến hàng thực phẩm và sữa thường xuyên cho trẻ em Việt Nam. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sức khỏe của 1/3 trẻ sơ sinh dưới 5 tuổi trở nên xấu đi sau lệnh cấm sữa khiến phần lớn trong số chúng bị còi cọc. Hầu như thông tin này không được ai là người ở phương Tây biết đến.

Khổ hạnh, đau buồn trước hàng triệu người chết hoặc mất tích và một sự hoài nghi về chiến tranh không còn trở thành nhịp điệu của cuộc sống ở một đất nước bị lãng quên. Nền dân chủ của người Mỹ đã phát minh ra và hỗ trợ cuộc chiến ở miền Nam, nơi từng chiếm một nửa số tù nhân chính trị bị tra tấn trên toàn thế giới, đã sụp đổ gần như chỉ sau một đêm. Những con đường ra khỏi Sài Gòn trở thành nơi vứt bỏ những chiếc giày và đồng phục lính.

So-557--To-Quoc-noi-dau-song---Ho-Minh-Quan---Anh-1
Tổ Quốc nơi đầu sóng – sơn dầu – Hồ Minh Quân.

Vẫn mặc bộ đồ màu đen của Mặt trận Giải phóng Dân tộc, mà người Mỹ gọi là Việt Cộng, Thiệu Thị Tạo bước đi khập khiễng và nhăn mặt khi mỉm cười. Ở tuổi 16 và 13, Thiệu Thị Tạo và cô em gái Thiệu Thị Tân đã dự định làm nổ tung trụ sở tình báo quốc gia của chế độ Sài Gòn, nơi việc tra tấn những người cộng sản được thực hiện dưới sự giám sát của CIA. Vào đêm trước nhiệm vụ, họ đã bị phản bội và bị bắt khi đạp xe từ trường về nhà. Khi Tạo từ chối khai ra tên của cán bộ Mặt trận, cô bị treo lộn ngược và bị cho điện giật, đầu bị nhấn trong một xô nước. Sau đó, họ đã bị đày ra đảo Côn Sơn, bị xiềng xích trong chuồng cọp, nơi giam giữ hẹp đến mức không thể đứng lên, vôi bột và chất thải thường xuyên được cai ngục ném xuống đầu tù nhân từ trên cao. Vào năm 16 tuổi, cô em gái Thiệu Thị Tân đã khắc bằng tiếng Pháp lên tường sự thách thức của họ: “Xin gửi lời chào các đồng chí thân yêu của chúng tôi”, những từ này ngày nay vẫn còn ở đó.

Hôm trước, khi trở lại Việt Nam, nơi tôi đã viết báo một thập kỷ. Một bức thư đã đợi tôi trong phòng ở khách sạn Caravelle ở thành phố Hồ Chí Minh. Được gõ bằng tiếng Anh, đó là những lời chân thành, mềm mại của Thiệu Thị Tạo, rằng cô vẫn còn sống, và hãy vui lòng gọi cho cô ấy. Chúng tôi đã mất liên lạc từ 1995.

Tôi biết về công việc của cô ấy tại Viện Sinh thái học, cuộc hôn nhân của cô ấy với một người lính Giải phóng và sự ra đời của một đứa con trai, như để bù lại tất cả những mất mát của cô ấy trong chuồng cọp.

Đi qua sự đông đảo của khách du lịch và doanh nhân trong hành lang của khách sạn Caravelle, tôi tìm gặp Thiệu Thị Tạo nhỏ bé, mà giờ đã 67 tuổi. Tạo đang đợi tôi trong một chiếc taxi bên ngoài. Năm năm trước, cô bị đột quỵ và mất khả năng sử dụng giọng nói và liệt nửa cơ thể, nhưng giờ đây chúng đã quay trở lại với cô và mặc dù cô ấy cần phải nắm lấy cánh tay của tôi, cô ấy vẫn thực sự vẫn không khác gì như khi nói với tôi rằng trái tim cô ấy như bay lên khi nghe tin chiến tranh kết thúc. Chúng tôi chạy xe qua các trung tâm mới của Việt Nam, các khách sạn và khu chung cư đang được xây dựng, sau đó rẽ vào một làn đường nơi khói bếp bốc lên, những đứa trẻ ngó lơ ra đường và những con ếch nhảy trong chùm đèn pha của chúng tôi.

Các bức tường trong nhà Tạo là một đoạn phim tự hào về cuộc đấu tranh cũng như về nỗi đau: hình ảnh Tạo và cô em gái Tân tại trường Marie Curie, những câu khẩu hiệu của Hồ Chí Minh, những lá thư của các đồng chí cũ. Nhìn qua, tất cả dường như chỉ là những bông hoa được bảo quản giữa các trang của một cuốn sách bị lãng quên. Nhưng không, đây chính là những biểu tượng và nguồn cảm hứng của sự kháng cự mạnh mẽ mà các thế hệ mới phải tái tạo lại một lần nữa, trong khi chiến trường đã thay đổi, kẻ thù thì không. “Mỗi lần chúng tôi bị xâm chiếm, chúng tôi sẽ chiến đấu với chúng. Đồng thời chiến đấu để giữ linh hồn của chúng tôi. Đó không phải là bài học của Việt Nam và của lịch sử hay sao?”, Thiệu Thị Tạo nói.

Có lần, tôi được nghe kể một câu chuyện sâu sắc của một người Pháp đang ở Hà Nội trong vụ ném bom Giáng sinh năm 1972. Anh nói: “Tôi đã trú ẩn trong Bảo tàng Lịch sử, chứng kiến mọi người làm việc dưới ánh nến ở đó, với những chiếc B52 trên đầu, là những thanh niên và phụ nữ đang chăm chú cố gắng sao chép càng nhiều các đồ đồng và các tác phẩm điêu khắc càng tốt. Họ nói với tôi: để ngay cả khi bản gốc bị phá hủy, một cái gì đó sẽ vẫn còn và gốc rễ của chúng tôi sẽ được bảo vệ”.

Lịch sử, chứ không phải ý thức hệ, là một hiện diện sống động ở Việt Nam. Ở đây, kinh nghiệm của lịch sử đã rèn giũa sự khéo léo và kiên nhẫn của cộng đồng đạt đến giới hạn không tưởng của con người. Lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Dân tộc ở miền Nam là một liên minh của Công giáo, những người tự do, Phật giáo và Cộng sản, và hầu hết những người chiến đấu trong quân đội miền Bắc là những người nông dân theo chủ nghĩa dân tộc. Trong cấu trúc và kỷ luật của nó, chủ nghĩa cộng sản là nòng cốt và phương tiện dẫn dắt các cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài của Việt Nam, họ đã chiến đấu và giành chiến thắng. Điều này ngày nay vẫn được người Việt đánh giá cao. Nhưng cũng có những người ngớ ngẩn nhắc đến “thời kỳ Cộng sản”, như thể Đảng Cộng sản không còn nắm quyền ở đây. Ghé thăm các bảo tàng ở Hà Nội và trong cuộc sống, rõ ràng những từ ngữ về Hồ Chí Minh vẫn không bao giờ ngừng được sử dụng, đó là độc lập tự do của dân tộc, là quyền làm chủ, là sự đấu tranh không bao giờ đầu hàng…

Tôi nghĩ về điều này trên hành trình trở về từ nhà Tạo. Nếu người Mỹ đồng ý với Hồ Chí Minh, thì hơn 20 năm chiến tranh sẽ không xảy ra, có đến hàng triệu người sẽ được sống, không có em bé nào bị biến dạng bởi chất độc màu da cam, không có bàn chân nào bị thổi bay bởi những quả bom chùm đã được thử nghiệm ở đây. Trên chuyến tàu đêm đến Đà Nẵng, tôi có thể thấy các miệng hố bom đã liền lại với nhau, thậm chí không còn để lại dấu vết của chiến tranh, có lẽ chỉ ngoại trừ trên bia mộ của dân quân phòng không ở phía xa. Họ thường cũng là những phụ nữ trẻ như Thiệu Thị Tạo và Thiệu Thị Tân. Ở Hà Nội, tôi bắt taxi đến phố Khâm Thiên mà lần đầu tiên tôi đã nhìn thấy vào năm 1975, nó đã bị san phẳng bởi những chiếc B52 tấn công mọi ngôi nhà. Một khối các căn hộ nơi có 283 người chết ngày đó nay là một tượng đài về một người mẹ và đứa trẻ. Có hoa tươi ở đó, chìm lẫn trong tiếng xe cộ và tiếng còi của cảnh sát giao thông.

Ngồi trong một quán cà phê với những hồi ức tưởng như là không cần thiết này, tôi đọc được tin rằng tướng quân đội Anh, tướng David Richards, đã kêu gọi NATO lên kế hoạch cho một vai trò 30 đến 40 năm ở Afghanistan. NATO được cho là đã chi 50 triệu đô la cho mỗi du kích Taliban mà nó giết được, và bom chùm vẫn là một vũ khí yêu thích. Ông tướng này bày tỏ sự quan tâm của mình đối với người dân Afghanistan, cũng như người Pháp và người Mỹ từng cho biết họ quan tâm đến những người Việt Nam (bị gọi khinh miệt là gooks) mà họ đã giết với số lượng lớn.

Khi tôi ở Việt Nam lần cuối cách đây 15 năm, làm một bộ phim, vướng mắc chính thức duy nhất tôi gặp phải là mối quan tâm của Bộ Văn hóa rằng cảnh quay tôi thực hiện ở Mỹ Lai, nơi hàng trăm phụ nữ và trẻ em bị tàn sát, họ e ngại điều đó có thể xúc phạm người Mỹ. Tại Sài Gòn, Bảo tàng Tội ác Chiến tranh đã được đặt tên lại là Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh. Bên ngoài, khách du lịch được cung cấp các bản sao lậu hướng dẫn của Lonely Planet, với sự tận tâm của nó nhằm tạo ra cảm giác ấn tượng của người Mỹ về Việt Nam.

Có lẽ người Việt Nam có đủ khả năng để hào phóng lòng vị tha, nhưng lý do, tôi nghĩ, ẩn sâu hơn nhiều. Kể từ Đại Thắng, tức chiến thắng vĩ đại, chính sách đã thay đổi để chấm dứt tình trạng bao vây dường như vô tận trước đó. Màu sắc và năng lượng đã đến như sóng vỡ: Hà Nội, với những hồ nước và đại lộ phủ đầy sương mù từng là nơi trú ẩn những cuộc không kích, giờ đây là một thành phố trẻ trung, tự tin, năng động. Các quan điểm về tự do để bỏ qua, thay đổi và phá vỡ các giới hạn của chủ nghĩa Stalin. Các tờ báo đăng rất nhiều tin các quan chức tham nhũng, đôi khi có những bài báo ảm đạm về những kẻ kích động đối mặt với phiên tòa xét xử. Ví dụ như Cù Huy Hà Vũ, 53 tuổi, đã bị buộc tội hành động bất hợp pháp chống nhà nước.

Bill Clinton đến ăn trưa tại khách sạn của tôi ở Hà Nội. Ông điều hành một tổ chức từ thiện phòng chống AIDS hoạt động tại Việt Nam. Năm 1995, ông là người quyết định “bình thường hóa quan hệ” giữa Washington và Hà Nội, là Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thực hiện chuyến thăm trong thời hiện đại đến Việt Nam năm năm sau đó. Điều đó có nghĩa là Việt Nam được phép tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới và được vay các khoản vay của Ngân hàng Thế giới với điều kiện để họ nắm giữ thị trường tự do, phá hủy các dịch vụ công cộng miễn phí và trả hết các khoản nợ xấu của chế độ Sài Gòn hiện không còn tồn tại, đó là tiền của ngân hàng Mỹ đầu tư cho chiến tranh. Các khoản bồi thường được Tổng thống Richard Nixon đồng ý trong Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973 đã bị bỏ qua. Bình thường hóa cũng có nghĩa là các nhà đầu tư nước ngoài đã được cung cấp các khu chế xuất miễn thuế, với lao động có giá cạnh tranh (giá rẻ).

Như vậy, Việt Nam cuối cùng đã được cấp quyền thành viên trong cộng đồng quốc tế, miễn là họ phải tạo ra một xã hội dựa trên sự bất bình đẳng và bóc lột lao động làm thuê, bị buộc phải từ bỏ dịch vụ y tế miễn phí vốn là điều ghen tị của các nước đang phát triển, cũng như từ bỏ hệ thống giáo dục miễn phí từng tạo ra một trong những nơi có tỷ lệ biết chữ cao nhất thế giới. Ngày nay, mọi người bình thường đều phải trả tiền cho chăm sóc sức khỏe và trường học, giới thượng lưu thì gửi con cái họ đến những trường học đắt đỏ ở Hà Nội và kiếm học bổng tại các trường đại học Mỹ.

Trước đây nông dân gặp khó khăn đột xuất có thể tìm đến tín dụng nông thôn của nhà nước (hầu như không có lãi suất), giờ họ phải tìm đến những người cho vay tư nhân, những kẻ chiếm đoạt đã từng làm khổ nông dân trong các chế độ cũ. Chính phủ đã hoan nghênh sự trở lại của công ty Monsanto và hạt giống biến đổi gien của họ. Monsanto là một trong những nhà sản xuất chất độc da cam, đã mang đến cho Việt Nam thảm họa Hiroshima về hóa chất. Năm ngoái, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã bác bỏ đơn kháng cáo của các luật sư đại diện cho hơn ba triệu người Việt Nam bị di chứng bởi chất độc màu da cam. Một trong những thẩm phán phiên tòa, Clarence Thomas, chính là một người từng làm luật sư của công ty cho Monsanto.

Trong tác phẩm của mình, “Giải phẫu một cuộc chiến tranh”, nhà sử học Gabriel Kolko từng nói rằng Đảng của Hồ Chí Minh giành được thành công dựa trên một phong trào đấu tranh xã hội chủ yếu dựa trên mục tiêu đem lại quyền lợi cho nông dân. Bây giờ, anh ta nói rằng việc đầu hàng thị trường tự do của họ là một sự phản bội. Sự vỡ mộng của anh ta là điều dễ hiểu, nhưng nhu cầu quốc tế hóa một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh là không có con đường nào khác, cùng với việc phải xây dựng một đối trọng với Trung Quốc, kẻ thù từ cổ xưa. Khác với Trung Quốc, mặc dù mọc lên vô số các trung tâm thương mại Gucci mới ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, người Việt Nam vẫn chưa bị sa hẳn vào sự tàn bạo của hổ dữ hay chủ nghĩa tư bản thân hữu. Kể từ năm 1985, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em đã giảm gần một nửa. Và hàng chục ngàn thuyền nhân chạy trốn đã lặng lẽ trở về mà không có một trường hợp nào trở thành nạn nhân nữa, theo như quan chức EU, người đứng đầu chương trình hỗ trợ cho biết từ năm 1995.

Đối với tôi, việc kiểm soát các thế lực nước ngoài hiện vẫn đang đổ hàng nghìn tỷ vào các ngân hàng tham nhũng và chiến tranh, trong khi đó phá hủy các phương tiện của cuộc sống văn minh là trận chiến lớn cuối cùng của Việt Nam. Sự tôn trọng của Đảng đối với nỗi sợ hãi của một dân tộc, qua các thế hệ, đã tận tụy theo Đảng đánh đuổi những kẻ áp bức là điều hiển nhiên, trong các phản ứng thường xuyên của nhà nước đối với các cuộc đình công trái phép chống lại các ông chủ nước ngoài tàn nhẫn. Có phải chúng ta đang ở trong một giai đoạn Gorbachev ở Việt Nam? Bây giờ có lẽ cả thế giới và mọi thế lực đang theo dõi điều đó. Nhưng hãy luôn nhớ rằng, Việt Nam thì khác!

Vào ngày cuối cùng của tôi ở Việt Nam, tôi đi dọc theo Đồng Hới, nay không còn là một con đường của những người hối hả và những người ăn xin, những cô gái quán bar và những tên lính Mỹ rùng mình tìm kiếm thứ gì đó trong vô vọng. Ngày đó, tôi đi dạo qua khách sạn Royale và nhìn lên ban công góc ở tầng một và thấy một người xứ Wales đang ủ rũ, máy ảnh của anh ta nằm trên tay, một lời chào xứ Wales trôi xuống, anh ta đang cố thoát khỏi một đại tá điên rồ mà cả hai chúng tôi đều biết. Hôm nay, ban công và cả khách sạn Royale đã biến mất, và Philip Jones Griffiths xứ Wales cũng đã chết hai năm trước. Ông có lẽ là nhiếp ảnh gia tài năng và nhân văn nhất trong bất kỳ cuộc chiến nào. Chính ông đã cố gắng ngăn chặn một cuộc lùng sục của những tên lính cướp biển người Mỹ, ngăn chặn hành động của chúng có thể giết chết một nhóm phụ nữ và trẻ em đang lẩn trốn.

Một khẩu pháo lớn của Mỹ gợi cho tôi hình ảnh đáng nhớ: hình ảnh của một người lính Mặt trận Giải phóng Dân tộc bị bắt, bị thương khủng khiếp và bị bao quanh bởi những chiếc ủng lớn của những tên lính bắt giữ anh ta, nhưng anh ta bất bại, từ trong nhân tính của mình. Việt Nam cũng vậy!

2/12/2010

John Pilger (Úc)
Ngô Mạnh Hùng (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 557

Ý Kiến bạn đọc