Người tốt - Việc tốt

Việt Nam giành được lộc lập 2-9-1945 là có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Có người cho rằng: Trong Tuyên ngôn Độc lập đọc tại vườn hoa Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: … “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị…”. Việc giành độc lập dễ như ngửa bàn tay đón sung rụng…!

Để hiểu đúng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, ta giành được chính quyền thực chất như thế nào, tôi xin nêu ra mấy luận cứ sau đây:

Chuẩn bị lực lượng

Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc khi còn ở Paris đã làm báo Người Cùng Khổ, viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” ở Đông Dương. Tất cả những tài liệu ấy đều bí mật chuyển về nước đưa đến tay những người yêu nước. Một sự kiện chính trị lớn trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đó là ngày 16 và 17-7-1920, trên báo Nhân Đạo của Đảng Xã hội Pháp đăng bài “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin đã gây xúc động lớn đến Nguyễn Ái Quốc. Sau này Người nhớ lại: “Trong luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu, nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta”. Từ đó tôi hoàn toàn theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ Ba”. Phải đến tận quê hương của Lênin để có điều kiện học hỏi, mở ra con đường trở về quê hương để giải phóng dân tộc. Sau thời gian học tại trường Đông Phương của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc trở về châu Á, người đến Quảng Châu (Trung Quốc) vào ngày 11-1-1924, với cái tên Lý Thụy, làm phiên dịch cho văn phòng của đoàn cố vấn Xô Viết tại Quảng Châu. Nguyễn Ái Quốc mở lớp đào tạo cán bộ cốt cán cho cách mạng Việt Nam, viết sách “Đường Kách mệnh”, xuất bản báo Thanh Niên để tuyên truyền, xây dựng lực lượng cách mạng. Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc cho ra đời tổ chức “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội”. Mục đích của Hội là: “Làm cách mệnh dân tộc (đuổi Pháp giành độc lập) sau đó làm cuộc cách mệnh thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc, thực hiện chủ nghĩa cộng sản)”.

Lực lượng yêu nước bí mật phát triển làm cơ sở cho việc ra đời các tổ chức cách mạng sau này. Chính những cán bộ cốt cán như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng… đều do Bác đào tạo, nhiều người được giới thiệu với Quốc tế Cộng sản sang Nga học trường Phương Đông rồi về nước hoạt động cách mạng. Tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã hoạt động mạnh mẽ trong nước, hình thành ba tổ chức Đảng ở ba kỳ. Khi biết tình hình này, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập đại biểu các tổ chức Đảng trong nước ra Hương Cảng dự Hội nghị hợp nhất do Người chủ trì vào 3-2-1930, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương theo ý kiến Quốc tế Cộng sản. Sau hợp nhất Đảng, hoạt động cách mạng trong nước phát triển rất mạnh, các cuộc khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh, Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam kỳ khởi nghĩa đều do các cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Cuối năm 1940, một số thanh niên từ trong nước sang Trung Quốc có đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu đi học chính trị, quân sự tại Diên An, căn cứ địa của Cách mạng Trung Quốc. Khi biết tin Đức quốc xã tấn công Liên Xô, Người gọi hai đồng chí trở lại chuẩn bị về nước vì thấy thời cơ sẽ đến với Cách mạng Việt Nam. Ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ 1941, Bác Hồ về nước, Người vào ở tại hang Pác Bó, Cao Bằng. Tháng 5-1941, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, Người nhận định: “Nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”. Trung ương Đảng, Bác Hồ chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm thực hiện Đại đoàn kết toàn dân, tập hợp đông đảo lực lượng để giành độc lập. Bác viết cuốn “Lịch sử Việt Nam” bằng thơ lục bát, phần phụ lục dòng đầu: “Trước Tây lịch năm 2897: Hồng Bàng. Dòng cuối, Người đã dự đoán: “1945 Việt Nam độc lập”. Ngay từ tháng 10-1944, trong thư gửi đồng bào toàn quốc, Bác viết: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh sắp giành thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”. Bác tổ chức lực lượng vũ trang, đồng chí Võ Nguyên Giáp được giao nhiệm vụ chọn lựa cán bộ lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Bác tranh thủ Đồng minh (lực lượng OSS của Mỹ đóng ở Côn Minh – Trung Quốc) để họ giúp ta vũ khí, huấn luyện quân sự cho cán bộ, chiến sĩ, máy móc thông tin liên lạc để theo dõi tình hình thế giới… Tháng 5-1945, Bác còn nhờ một sĩ quan OSS thả dù xuống Tân Trào một bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ để tháng 8-1945, Người trích dẫn vào Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam do Người viết tại nhà số 48 Hàng Ngang – Hà Nội. Như vậy, Hồ Chí Minh đã từng bước chuẩn bị cho giành độc lập từ nhiều năm trước.

Thời gian từ 13-8-1945 đến cuối tháng 8-1945, là thời điểm rất khẩn trương, sau Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Tân Trào, từ nhận định cơ hội cho nhân dân Việt Nam giành độc lập đã tới, những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi, Hội nghị thành lập Ủy ban Khởi nghĩa do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng phụ trách. Ngay trong đêm 13-8, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc đã gửi quân lệnh số 1 cho đồng bào và chiến sĩ cả nước nhanh chóng vùng dậy giành độc lập.

Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định Quốc kỳ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chọn bài “Tiến quân ca” làm Quốc ca và bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương tức Chính phủ Lâm thời do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh cho dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu người dân Việt Nam từ Bắc chí Nam đã đồng loạt vùng dậy tiến hành cuộc khởi nghĩa, giải phóng toàn bộ đất nước.

Tóm lại, Đồng minh thắng Phát xít Đức – Ý – Nhật là thời cơ để các nước đứng lên giành độc lập, đó là yếu tố khách quan. Nhưng nếu chủ quan không có chuẩn bị lực lượng, tổ chức, lãnh tụ không nhạy bén chỉ đạo thực hiện thì sẽ lỡ dịp. Ở Đông Nam Á có nhiều nước như thế. Còn Việt Nam ta nhờ có Đảng, có Bác Hồ kịp thời chỉ đạo ta cướp chính quyền, ra mắt Chính phủ lâm thời, Tuyên ngôn Độc lập với toàn dân và thế giới trước khi quân đội Anh, Ấn và Tưởng Giới Thạch vào nước ta giải giới quân phiệt Nhật. Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng thì không thể có chuyện cả nước lần lượt cướp chính quyền chỉ trong 7 ngày từ Hà Nội vào Huế và Sài Gòn được đâu.

Cũng cần nêu thêm việc cướp chính quyền ở Nam bộ – chủ yếu là Sài Gòn – Xứ ủy Nam kỳ họp ở Chợ Đệm lần thứ hai vào ngày 20-8 bàn vấn đề Tổng khởi nghĩa. Có ý kiến băn khoăn sợ Nhật chống lại ta không giữ được. Đồng chí Trần Văn Giàu phải đề xuất cướp chính quyền ở Tân An làm thí điểm để thăm dò quân Nhật. Trên cơ sở thắng lợi ở Tân An, ngày 23-8-1945, ta cướp chính quyền ở Sài Gòn. Rõ ràng việc cướp chính quyền từ Bắc vô Nam có kế hoạch, có chỉ đạo, chủ động chứ không phải “hứng” sung rụng.

Vấn đề thời cơ và bảo đại thoái vị

Cuộc cách mạng nào muốn nổ ra thành công đều phải tạo và chớp lấy thời cơ thuận lợi nhất là lúc địch suy yếu, lực lượng ta mạnh đủ sức thực hiện. Hai cuộc khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh, Nam kỳ khởi nghĩa thất bại là do nổ ra chưa đúng lúc. Tháng 8-1945, Phát xít Đức – Nhật – Ý đầu hàng Đồng minh, thời cơ đã đến và Cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi vì đã chuẩn bị lực lượng từ 15 năm trước.

Giữa năm 1945, phong trào Việt Minh ở Huế đã lên rất mạnh, tác động đến tư tưởng các tầng lớp nhân dân có cả các quan đầu triều nhà Nguyễn. Đã có nhiều người theo ủng hộ Cách mạng. Trong tình thế Hà Nội đã Tổng khởi nghĩa, Huế Tổng khởi nghĩa, lực lượng quần chúng biểu dương khí thế hùng mạnh của họ, những người từng phục vụ cho vua Bảo Đại đã được Cách mạng tổ chức, chỉ đạo họ tác động vào suy nghĩ của Bảo Đại. Để giữ tính mạng mình, họ hàng dòng tộc lăng tẩm nhà Nguyễn, Bảo Đại không còn con đường nào khác là thoái vị. Ta phải hiểu rõ Bảo Đại không hề tự giác và dễ dàng từ bỏ ngai vàng đâu. Những việc Bảo Đại bắt tay trở lại với Pháp chứng minh điều đó.

Sau khi giành được chính quyền

Ngày 2-9-1945, sau khi ra mắt Chính phủ lâm thời với quốc dân tại vườn hoa Ba Đình vào buổi chiều, thì ngày hôm sau 3-9-1945, Chính phủ đã họp phiên đầu tiên dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính phủ đã thảo luận và tán thành 6 vấn đề cấp bách là:

1. Phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói, mở ngay cuộc lạc quyên gạo để giúp đỡ người nghèo.

2. Mở chiến dịch chống nạn mù chữ.

3. Tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, soạn thảo Hiến pháp dân chủ.

4. Mở chiến dịch giáo dục cần, kiệm, liêm, chính để bài trừ thói hư tật xấu của chế độ thực dân phong kiến để lại.

5. Bỏ ngay thuế thân, thuế chợ, thuế đò, tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.

6. Ra tuyên bố tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo.

Từ 13-9-1945 đến ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, Đảng, Chính phủ ta đã giải quyết một khối lượng công việc đồ sộ từ đối nội, đối ngoại, thù trong giặc ngoài mà các nhà sử học đã vì tình hình như “ngàn cân treo sợi tóc”. Cuối cùng mọi khó khăn dần dần đi qua, công cuộc kiến quốc, kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc bằng việc ta thắng to ở Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève 1954 được ký kết, để 21 năm sau ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, nước nhà liền một dải.

Kết luận

Giành Chính quyền từ tay thực dân, phong kiến là một nhiệm vụ vô cùng trọng đại và khó khăn. Khi đã giành được rồi việc giữ được chính quyền non trẻ càng khó hơn. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo, lèo lái, được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ, mới có được nền độc lập cho dân tộc hôm nay.

Kiểu lập luận đã nêu ở đầu bài là từ những người có ý đồ xấu muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và lãnh tụ Hồ Chí Minh, hoặc ít ra họ là người không hiểu gì về lịch sử nước nhà giai đoạn từ đầu thế kỷ XX cho đến sau Cách mạng tháng Tám 1945. Chúng ta phải giúp để họ hiểu đúng.

Nguyễn Xuân Ba
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 513

Ý Kiến bạn đọc