Ngoài nước

Việt Nam – Cuba “Chói ngọn cờ hồng”!

Mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Cuba trong hơn nửa thế kỷ qua xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản, mẫu mực, chân chính. Để góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu, cả hai nước cần nâng cao hơn nữa tinh thần quốc tế vô sản.

Chu-tich-Fidel-Castro-dung-tren-xe-tang-My-phat-cao-la-co-truyen-thong-bach-chien-bach-thang-cua-su-dong-Khe-Sanh
Tháng 9/1973, tại vùng giải phóng ở Quảng Trị, Chủ tịch Fidel Castro đứng trên chiếc xe tăng Mỹ
phất cao lá cờ truyền thống bách chiến bách thắng của sư đoàn Khe Sanh – Ảnh tư liệu lịch sử.

Quan hệ Cuba – Việt Nam trong “thế trận” với Mỹ

Ngay từ thời Tổng thống Madison, Mỹ đã tìm cách khống chế kinh tế đối với Cuba. Chỉ trong năm 1821, hàng hóa của Mỹ xuất khẩu sang Cuba đạt trên 4,5 triệu USD, chiếm trên 2/3 hàng hóa của Mỹ xuất khẩu sang toàn bộ vùng thuộc địa Tây Ban Nha tại châu Mỹ. Bên cạnh sự xâm nhập về kinh tế, các nhà chính trị của Hoa Kỳ bắt đầu gây dư luận về “lợi ích đặc biệt” và “tính chất quan trọng” của Cuba đối với Mỹ. Chẳng hạn, ngày 28/4/1823, trong một bức thư gửi cho công sứ Mỹ tại Tây Ban Nha, Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Quincy Adams đã đánh giá rằng: “Tính chất quan trọng của Cuba đối với lợi ích quốc gia của Mỹ không một lãnh thổ nước ngoài nào có thể sánh kịp”. Đến năm 1898, trận chiến Tây Ban Nha – Mỹ đã đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử can thiệp vào khu vực Mỹ Latinh của Mỹ. Sau trận chiến này, Mỹ đã làm chủ được vùng biển Caribbean rộng lớn, trong đó có Cuba. Tại Cuba, Mỹ dựng nên chính quyền tay sai và thành lập các tập đoàn kinh tế tư bản lớn để khai thác tối đa lợi nhuận. Tuy nhiên, sau cuộc cách mạng 1959, Cuba đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Mỹ với tư cách là “ngọn hải đăng” của cách mạng ở Mỹ Latinh. Trong 2 năm sau đó, quan hệ song phương đi vào bế tắc sau khi Cuba quốc hữu hóa các tập đoàn tư nhân khổng lồ, bao gồm các công ty của Mỹ tại đây. Đáp trả lại, Mỹ quyết định cắt đứt quan hệ ngoại giao và ra lệnh cấm vận kinh tế. Mỹ áp đặt lệnh cấm vận kinh tế đối với Cuba vào năm 1960 và hai nước không có quan hệ ngoại giao kể từ năm 1961. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, Cuba nghiêng về phía Liên Xô và đã xảy ra cuộc khủng hoảng tên lửa vào năm 1962.

Chu-tich-Fidel-Castro-tro-chuyen-voi-Dai-tuong-Vo-Nguyen-Giap
Chủ tịch Cuba Fidel Castro trò chuyện với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh tư liệu lịch sử.

Cuba và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 2/12/1960. Cuba cũng là nước đầu tiên công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và cho đặt cơ quan đại diện thường trú của Mặt trận tại La Habana. Cuba cũng là nước đầu tiên thành lập Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam (23/9/1963) do nữ Anh hùng Moncada Melba Hernandez sáng lập. Ngày 2/1/1966, trong cuộc mít-tinh có trên 1 triệu người Cuba tham dự và khách mời của các nước đến từ ba châu Á, Phi, Mỹ Latinh, Chủ tịch Cuba Fidel Castro tuyên bố: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Lời tuyên bố ấy đã làm rung động cả lương tri nhân loại trước âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam. Tháng 7/1967, Cuba là nước đầu tiên thiết lập cơ quan Đại sứ quán trong vùng giải phóng miền Nam Việt Nam, đem lại nguồn cổ vũ, động viên quý báu cho các chiến sĩ quân giải phóng. Trong lúc chiến tranh diễn ra ác liệt, Chủ tịch Cuba Fidel Castro là nguyên thủ quốc gia đầu tiên và duy nhất đến thăm một vùng giải phóng của miền Nam.

Thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, Cuba rơi vào “thời kỳ đặc biệt” với mức tăng trưởng kinh tế của Cuba mỗi năm giảm 33% trong các năm 1991-1993 cũng như sự khó khăn về mọi mặt như xăng dầu không có, thuốc chữa bệnh thiếu nghiêm trọng, hàng hóa tiêu dùng gần như không còn thứ gì. Nhưng cuối cùng Cuba cũng đã vượt qua. Việt Nam cũng đã mở một chiến dịch “Vì Cuba” và đã quyên góp ủng hộ 50.000 tấn gạo cùng các dụng cụ học tập cho Cuba. Chính phủ Việt Nam cũng đã cam kết bán gạo ổn định cho Cuba, góp phần giải quyết khó khăn về lương thực cho nước bạn. Hiện nay, nhiều chuyên gia nông nghiệp Việt Nam đã sang giúp nhân dân Cuba trồng lúa nước.

Chính vì tinh thần quốc tế chân chính, Cuba không những đứng vững trước đế quốc Mỹ và bọn phá hoại mà còn được nhân dân thế giới ủng hộ, giúp đỡ trong những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của mình khi Đông Âu và Liên Xô biến động và tan rã. Mặc dù bị Mỹ và đồng minh bao vây cấm vận nhưng nước Cuba xã hội chủ nghĩa vẫn hiên ngang đứng trong hàng ngũ các tổ chức quốc tế như FAO, IAEA, ICAO, IFAF, IFAD, ICO, IMO, Interpol, IOC, ISO, ITU, UN, UNCTAD, UNESCO, UNIDO, UPU, WPTU, WHO, WIPO, WMO… Đặc biệt, Đại hội đồng Liên hiệp quốc từ năm 1991 đã liên tiếp bỏ phiếu phủ quyết đòi Mỹ chấm dứt sự bao vây cấm vận đối với Cuba.

Trước sau như một, Cuba là “con đê” mà Mỹ muốn vượt qua để thôn tính trở lại châu Mỹ Latinh, nhằm biến nơi đây trở thành “sân sau của Nhà Trắng”. Mỹ đã tìm mọi cách để chống phá Cuba. Đó là sự kiện Hiron năm 1961, khi Mỹ đưa những tên phản động gốc Cuba từ Florida đổ bộ xâm chiếm Cuba. Đó là sự bao vây cấm vận nghiệt ngã đối với Cuba từ năm 1961 đến nay, trong đó Chủ tịch Fidel Castro tuyên bố Cuba bị thiệt hại 200 tỉ USD vì sự cấm vận của Mỹ trong khi con số phía Mỹ đưa ra chỉ có 86 tỉ USD. Đó là các kế hoạch lật đổ chế độ Cách mạng và ám sát các nhà lãnh đạo Cách mạng chủ chốt trong đó Chủ tịch Fidel Castro bị CIA ám sát 800 lần (!). Đặc biệt, dưới thời Tổng thống Bush (con), Mỹ còn lập ra kế hoạch “Cuba dân chủ” với nội dung “giúp người dân Cuba chuyển tiếp nền dân chủ… tổ chức các cuộc bầu cử tự do và thiết lập một nền kinh tế thị trường trong vòng 18 tháng”. Khoảng cách 90 hải lý giữa Cuba và Mỹ thực sự đã trở thành “một chiến hào, một chiến lũy, một hàng rào dây thép gai, một sự căng thẳng cao độ, một ranh giới giữa hai thế giới, hai quan điểm, hai hệ thống. Nó trở thành ranh giới của lịch sử” (Luis Báez, Lịch sử đã minh xét, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2003, tr.12). Ngoài ra, đến nay Mỹ còn đóng quân tại vịnh Guantanamo rộng 117,6 km2 của Cuba với hợp đồng thuê “vô thời hạn” từ thời trước Cách mạng 1959 và biến nơi đây thành căn cứ hải quân và nhà tù.

Ngày 17/12/2014, Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raul Castro vừa đồng thời thông báo các kế hoạch bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Sự kiện này được Nhà nước Việt Nam nhìn nhận là đã “đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân Cuba và Hoa Kỳ, góp phần quan trọng vào việc duy trì hòa bình, ổn định và tăng cường hợp tác tại châu Mỹ và trên thế giới”. Trước đó, ngày 12/7/1995, Việt Nam và Mỹ đã chính thức bình thường hóa quan hệ với nhau, mở ra một chương mới trong quan hệ với Mỹ.

Đây chính là nỗ lực từ cả hai phía, Việt Nam – Mỹ, Cuba – Mỹ, cùng gác lại quá khứ để tiến đến lợi ích chung của nhân dân hai nước. Nhưng Việt Nam, Cuba vẫn sẽ mãi là “ngọn hải đăng” cách mạng của châu Mỹ Latinh, vẫn sẽ đứng bên cạnh nhân dân Mỹ và các lực lượng tiến bộ của thế giới để đấu tranh không khoan nhượng trước những âm mưu bá quyền và nô dịch của các nước đế quốc – thực dân mới. Rồi đây, Cuba sẽ tiếp bước những thành công như Việt Nam để tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội vinh quang và chói lọi. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết rằng: “Cuba đây, chói ngọn cờ hồng/Cuba đạp sóng trùng dương tiến/Oai hùng như chiến hạm Rạng Đông!” (Từ Cuba, 8/1964).

Quan hệ Cuba – Việt Nam do đó vẫn trước sau như một là trong một “thế trận” với Mỹ. Cả hai nước phải đoàn kết và chia sẻ kinh nghiệm trong việc bang giao với Mỹ. Nhưng điều oái ăm là đến nay Mỹ vẫn chưa dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Cuba. Dẫn tới ngày 1/7/2015, Chính phủ Cuba đã ra tuyên bố chính thức thông báo về quyết định tái thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, đồng thời nhấn mạnh lại điều kiện tiên quyết để hai bên bình thường hóa quan hệ là Mỹ phải xóa bỏ cuộc bao vây cấm vận kinh tế đã áp đặt phi lý hơn nửa thế kỷ nay.

Rực hồng tinh thần quốc tế vô sản của hai nước

Các nhà sáng lập ra Chủ nghĩa Mác đã từng kêu gọi: “Vô sản trên toàn thế giới! Liên hiệp lại!”. Sau này, Lênin mở rộng câu khẩu hiệu thành “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức! Đoàn kết lại!”. Bên cạnh đó, Lênin trong “Bản sơ thảo lần thứ nhất của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa” đã từng nói rằng: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn có thể diễn ra được ở những nước kém phát triển. Điều kiện để xảy ra cái sự biến đó là phải hiện hữu một hoặc hai, ba nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới và các nước xã hội chủ nghĩa tiên phong này phải ra sức giúp đỡ cách mạng các nước kém phát triển đi lên cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Do đó, Việt Nam và Cuba, hai nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á và Tây bán cầu tự thân mình phải có trách nhiệm đối với phong trào cách mạng thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam, Cuba giúp đỡ nhân dân các nước nhưng không hề tính tới xu hướng chính trị của các chính phủ nhận sự trợ giúp của mình. Cả hai nước tuy gặp không ít khó khăn kinh tế nhưng vẫn thể hiện tính vô tư và lòng nhân ái cao thượng, tình thương yêu đối với nhân dân lao động, nhất là những người nghèo, gặp khó khăn, hoạn nạn. 

Bên cạnh đó, nếu như ở Việt Nam có tư tưởng “Quan sơn muôn dặm một nhà; bốn phương vô sản đều là anh em” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì Cuba cũng có tinh thần đoàn kết được tạo dựng bởi José Martí và Chủ tịch Cuba Fidel Castro. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến nhiều nước trên thế giới, các nước tư bản cũng như thuộc địa. Người đã đi tới kết luận: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” (Bài “Đoàn kết giai cấp” đăng trên báo Le Paria, số 25 tháng 5/1924). Bản thân José Martí, nhà cách mạng Cuba thì đã bày tỏ quyết tâm chia sẻ với những người nghèo trên trái đất, không chỉ đối với những người nghèo ở Cuba: “Chúng ta cần một tư tưởng nhân đạo hướng tới những người nghèo trên trái đất, đòi hỏi một cái nhìn toàn diện của công lý và của những phẩm chất nhân văn không giới hạn mà những giá trị được tạo thành là sự tự do, bình đẳng và hữu nghị”. Còn Chủ tịch Cuba Fidel Castro khi theo học Đại học Havana vào năm 1945-1950 đã tiếp xúc được với thực tế chua xót của sự nghèo đói mà Cuba phải hứng chịu mà theo ông nguyên nhân là vì “sự bóc lột của chủ nghĩa đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng ở Cuba”. Trong thời gian học đại học, Castro tham gia đòi cải cách và cải thiện đời sống cho dân nghèo. Ngày 4/9/1995, trước hàng ngàn sinh viên Đại học Havana, Fidel đã nói về ảnh hưởng của Đại học Havana đối với tính cách của mình như sau: “Ở nơi đây tôi đã học được gần hết những điều tốt đẹp nhất trong cuộc đời tôi, bởi vì tại chính nơi đây tôi phát hiện ra những tư tưởng tốt đẹp nhất của thời đại chúng ta và của tất cả mọi thời đại, bởi vì ở đây tôi làm cách mạng, bởi ở đây tôi trở thành người theo chủ nghĩa Martí, bởi ở đây tôi trở thành người xã hội chủ nghĩa”. Ý nguyện đó ngày nay đã được thể hiện ở sự hiện diện của hàng nghìn tình nguyện viên của Cuba về y tế và một số lĩnh vực khác ở rất nhiều nước trên thế giới.

Cuối cùng, Cuba như là một nhân loại thu nhỏ. Nhà khoa học Fernnand Braudel trong cuốn sách “Tìm hiểu các nền văn minh trên thế giới” của mình đã nhận xét: “Ba chủng tộc gặp nhau ở điểm hẹn: không chủng tộc nào đủ mạnh để loại bỏ, thậm chí có ý định loại bỏ các chủng tộc khác. Buộc phải sống chung với nhau, các chủng tộc đó, mặc dù có sự va chạm không thể tránh khỏi được, nhưng đã thích nghi với nhau, hòa vào nhau và đạt được mức độ nào đó sự khoan dung và sự quý mến lẫn nhau”. Do đó, cùng với chế độ xã hội chủ nghĩa nên dù là một đất nước đa dân tộc và đa chủng tộc, nhưng Cuba là nơi không có sự phân biệt dân tộc, kỳ thị màu da. Mọi người sống trong bầu không khí bình đẳng, yêu thương nhau. Chính chế độ xã hội chủ nghĩa đã làm cho tinh thần quốc tế của Cuba trở nên trong sáng, chân thật. Nó khác với nước Mỹ, cũng là “hợp chủng quốc” nhưng lại trở thành một nước đế quốc chủ nghĩa và sự phân biệt chủng tộc rất khắc nghiệt.

Sự tiến bộ của Cuba hiện nay rất đáng ghi nhận và cũng để các nước khác, trong đó có Việt Nam học tập. Chẳng hạn, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vào ngày 30/6/2015 tuyên bố Cuba là quốc gia đầu tiên trên thế giới thành công trong việc loại trừ sự lây nhiễm HIV và bệnh giang mai từ mẹ sang con; Ngân hàng Thế giới (WB) trong báo cáo vừa công bố đánh giá Cuba là nước đứng đầu thế giới hiện nay về mức độ đầu tư cho giáo dục, chiếm 12,9% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Đối với Cuba, kinh nghiệm đổi mới Đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sẽ là một bài học sinh động với nước bạn. 

Huế, ngày 13/11/2015

Nguyễn Văn Toàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 380

Ý Kiến bạn đọc