Ngoài nước

Việt Nam 20 năm sau cuộc chiến

Kỳ 1

John Pilger Đã Viết Về Chiến Tranh Việt Nam Trong Suốt Một Thập Kỷ, Cho Đến Ngày Cuối Cùng Của Cuộc Chiến. Hai Mươi Năm Sau, Ông Trở Lại Để Thấy Một Đất Nước Đối Mặt Với Một Trận Chiến Mới. Lần Này Không Có Bom Và Không Có Napalm. Nhưng Lại Có Thương Vong Dân Sự Đang Gia Tăng Trở Lại. Hãy Cùng Đọc Để Nhớ Về Việt Nam Trong Chiến Tranh Và Việt Nam Trong Thập Kỷ 90 Thế Kỷ Trước.

 

Việt Nam hiện là một cái tên thời thượng, hấp dẫn thế giới. Tại sân bay Tân Sơn Nhất có rất đông khách du lịch ba lô và các tour của khách du lịch trọn gói, các doanh nhân Đài Loan đang xem Mr. Bean. Họ gần như thoát ra nỗi nhớ và ký ức sợ hãi, đó không phải là một điều vô lý. Tại Củ Chi, lái xe từ thành phố, họ đến hiện trường của một trong những chương đáng chú ý nhất của chiến tranh: những đường hầm nơi những người lính của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Quốc gia (Việt Cộng, theo cách gọi của người Mỹ) sống lẫn với côn trùng và rắn để tránh công nghệ hiện đại của một “khu vực oanh kích tự do” tràn lan phía trên đầu họ.

Bây giờ ở đó có các cô gái tuổi teen ăn mặc như những du kích thời chiến, hướng dẫn khách du lịch đi qua các hố bom và đưa họ đến những bãi cỏ mới. Giống như rất nhiều thành phần khác ở Việt Nam, quân đội đã lập các doanh nghiệp làm kinh tế và điều hành các đường hầm như một công viên giải trí. Họ đã chu đáo mở rộng các đường hầm cho những khách du lịch to lớn có thể chui qua và đưa họ đến một trường bắn, trong đó, chỉ với một đô la, người Mỹ có thể sống lại tất cả những niềm vui của Rambo trong phim Trung đội. Có sự lựa chọn giữa súng trường M-16 của Mỹ hoặc AK-47 của Việt Nam. Và nếu bạn bắn trúng đích, bạn sẽ giành được một chiếc khăn rằn Việt Cộng chính hãng, màu đen và trắng. Mọi người xếp hàng dài để tham gia trò này.

Không có khách du lịch tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, nơi vẫn vắng tanh chờ đợi sự trở lại của người Mỹ. Hôm trước tôi đã đi suốt 6 tầng của nó. Một ống đèn huỳnh quang nhấp nháy, một công tắc thời gian, một nhà vệ sinh bị kẹt vòi xả nước. Cánh cửa của Đại sứ quán đã mở và có một tấm biển ghi: “Đây là lớp của thứ 5 kho tiền của Chính phủ Hoa Kỳ. Trong trường hợp bị tấn công bằng phóng xạ, nó sẽ đóng trong 20 giờ”. Tôi trèo lên bệ máy bay trực thăng trên mái nhà, nơi có hai khung cảnh nổi bật: một lá cờ khổng lồ của Việt Nam, màu đỏ với một ngôi sao màu vàng bay phần phật, và khung cảnh còn lại, nhìn xuống, bể bơi của Đại sứ quán, nước ở đó vẫn không được thay sau suốt 20 năm.

So-559--Viet-Nam-20-nam-sau-cuoc-chien---Anh-1
Đạo diễn John Pilger đang được một chiến sĩ giải phóng giới thiệu về địa đạo Củ Chi .

Ngày 29/4/1975, thêm một chiếc máy bay trực thăng khổng lồ Jolly Green khác vừa hạ cánh trên mái nhà. Nhìn lên từ sân trong, tôi chỉ có thể nhìn thấy nó qua làn khói cuồn cuộn từ một lò đốt rác trên mái nhà có sự tham gia của những nhân vật mờ ảo chạy tới chạy lui với bao tải trên vai, những hình ảnh siêu thực trong ngày cuối cùng của cuộc chiến dài nhất thế kỷ này. Bất ngờ một cơn mưa tiền, bị cuốn vào những cánh quạt đang quay, một cơn bão của những tờ đô la bay xuống: hàng chục, hai mươi, năm mươi, một trăm. Các cựu bộ trưởng trong chế độ Sài Gòn, các tướng lĩnh và cả những nhân viên làm nghề tra tấn, tranh giành tiền từ trên trời, họ bỏ mặc cả trẻ em để giành giật các tờ tiền. Một quan chức Đại sứ quán thì thầm rằng hơn năm triệu đô la đã bị đốt. Một số nhân viên Đại sứ quán đã đề nghị rằng đại sứ Graham Martin có thể sử dụng tiền để trì hoãn việc sơ tán và mua thêm thời gian, theo nghĩa đen, bằng cách mua chuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam tạm dừng sự thần tốc của họ để đồng ý với một “khoảng thời gian đàng hoàng” cho việc triển khai sự hỗ trợ của người Mỹ, cũng như đề nghị họ chấp nhận tham gia vào một chính phủ lâm thời. Điều này sẽ mang lại cho nước Mỹ “hòa bình trong danh dự” như Richard Nixon và cố vấn của ông ta, Henry Kissinger nổi tiếng, đề xuất và mong muốn.

Từ sáng sớm, lính thủy ở cổng Đại sứ quán đã dựng một bảng tạm và một danh sách trên đó. “Hãy nhìn xem, đó là tôi… hãy để tôi vào… đội ơn rất nhiều” – Lời kêu la chói tai trong đám đông đang vây hãm Đại sứ quán vào ngày 29/4, ngày cuối cùng, là giọng của Trung tướng Đặng Văn Quang, người giàu có khét tiếng ở miền Nam Việt Nam. Những cố vấn người Mỹ của anh ta ghê tởm anh ta, gọi anh ta là “Giggles” và “Tướng Béo”. Anh ta có tên trong danh sách, và lính thủy đã giúp anh ta ép được trọng lượng cơ thể của mình đi qua đám đông, sau khi lấy ra 3 vali Samsonite, tướng béo thấy nhẹ nhõm đến nỗi anh ta đi mà bỏ lại cả con trai trong đám đông. Hai xấp đô la thòi ra từ trong túi áo ngực của anh ta, và khi lính Mỹ chỉ cho anh ta thấy để nhét chúng lại, anh ta nói nửa đùa nửa thật rằng trong Samsonites còn có nhiều thứ tương tự.

Phần lớn kịch tính của đêm chung kết này dường như không gây ảnh hưởng đến văn phòng được ốp gỗ gụ, cách âm của Graham Martin trên tầng 6, nơi đại sứ ngồi, thường là một mình, với Nitnoy, chú chó xù của ông. Cho dù câu chuyện hối lộ là có thật hay không, thì rõ ràng Martin chỉ có thể tự mình suy ngẫm về sự ngớ ngẩn của việc Mỹ rời khỏi Đông Dương. Vài ngày trước, anh ta đã xuất hiện bất thường trên truyền hình Sài Gòn theo yêu cầu của riêng mình, nói một cách nghiêm túc: “Tôi, đại sứ Mỹ. Tôi sẽ không chạy trốn vào giữa đêm. Bất cứ ai cũng có thể đến nhà tôi và thấy tôi đã không đóng gói túi của mình… Các bạn có thể chứng minh lời của tôi” – Chiếc máy ảnh chĩa vào chiếc vali trống rỗng bên cạnh anh ta.

Vị đại sứ là một người đàn ông có cá tính, mạnh mẽ và phức tạp. Bàn làm việc của anh ta được trang trí bởi một bức ảnh của con trai anh ta mặc đồng phục, người đã chết trong cuộc chiến 9 năm trước. Anh ta đang bị ốm, da xám xịt sau nhiều tuần bị viêm phổi, anh ta hút thuốc, và những cuộc trò chuyện với anh ta thường xuyên bị gián đoạn bởi những cơn ho. Trong nhiều tháng, anh ta đã cố gắng một cách vô ích để thuyết phục Washington rằng nhà nước khách hàng của họ có thể sống sót với một vòng bom ném xuống quanh Sài Gòn bởi những chiếc B-52. Graham Martin là hiện thân của sứ mệnh của Mỹ tại Việt Nam, anh ta là một trong những người, như nhà sử học Gabriel Kolko đã viết trong cuốn “Giải phẫu chiến tranh” của mình, “thích ảo tưởng và sự tượng trưng khiến họ trở thành những nhà tư tưởng thực sự duy nhất của cuộc chiến”. Biểu tượng của Martin, khi kết thúc, là một cái cây: một cây me lớn trước bãi cỏ của Đại sứ quán. Trừ khi nó bị hạ gục thì các phi công trực thăng khổng lồ Jolly Green, bay từ các tàu sân bay ở Biển Đông, sẽ không thể hạ cánh và một cuộc di tản toàn diện sẽ không thể thực hiện được. Đại sứ đã nói rõ rằng một khi cái cây đó bị hạ xuống “uy tín của nước Mỹ sẽ sụp đổ với nó”. Khi một cuộc họp trước bình minh trong văn phòng của anh ta vào ngày 29/4 kết thúc mà không có quyết định nào về cái cây, đã có những người tin rằng đang có sự lên kế hoạch đốt cháy cả tòa Đại sứ quán như với thành Rome xa xưa. Đến 6 giờ 30 sáng, có người ra lệnh và cái cây bị đốn hạ (Tom Polgar, trưởng CIA, là nghi phạm chính). Ngay sau đó, Đài phát thanh của Lực lượng Hoa Kỳ phát tín hiệu sơ tán: Bing Crosby hát “Tôi đang mơ về một Giáng sinh màu trắng”. Những người di tản đã được khuyên bằng văn bản để “mang theo hai bộ quần áo để thay đổi, áo mưa, bộ may ô, dụng cụ mở hộp, thuốc chống côn trùng, giấy chứng nhận kết hôn, giấy ủy quyền và di chúc của bạn. Thật không may, bạn phải để lại ô tô của bạn ở lại”.

Vào lúc 2 giờ 30 phút ngày 30/4, Kissinger gọi điện cho Martin và bảo anh ta rời đi vào lúc 3 giờ 45. Sau nửa giờ, Martin xuất hiện từ văn phòng của mình với lá cờ sao và sọc được xếp trong một chiếc túi đựng. Anh ta bắt thang máy lên mái nhà và leo lên cầu thang sắt đến máy bay Tarmac. “Lady Ace 09 trên không với mã số hai”, đài phát thanh của thủy quân lục chiến reo lên. Mã số hai là dấu hiệu cuộc gọi của một đại sứ Mỹ. Khi máy bay trực thăng lao qua Quốc lộ 1, anh ta có thể thấy bóng dáng của những chiếc xe tăng và xe tải của Quân đội Nhân dân Việt Nam đang chờ đợi. Chiến tranh đã kết thúc.

Những người theo chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh đã chiến đấu 30 năm đầu tiên chống Pháp, với những đại lộ rợp bóng cây, biệt thự màu hồng là kết quả của một cuộc khai thác thuộc địa không ngừng; sau đó họ chống lại người Nhật, người mà các quan chức thuộc địa Pháp hợp tác; sau đó chống lại người Anh, những người đến để giải giáp Nhật Bản nhưng lại tái vũ trang cho Nhật và Pháp để có thể hạ bệ Việt Minh và khôi phục Pháp; sau đó họ phải chống lại người Mỹ; rồi chống lại Khmer Đỏ của Pol Pot, kẻ đã tấn công từ phía tây; tiếp theo là chống lại người Trung Quốc, những người bảo vệ của Pol Pot, kẻ đã tấn công từ phía bắc. Tất cả mọi người trong số họ đã được thế giới nhận thấy, với những hy sinh vô cùng lớn. Những câu chuyện như chuyện về bà Thái Thị Tình không phải là chuyện lạ.

Bà Thái Thị Tình là một phụ nữ 84 tuổi, tóc trắng, nhỏ bé, sống ở một khu vực của Hà Nội có thể đã được lập ra từ thời trung cổ. Có những khu phố của các thợ thủ công chế tác ngà voi, đồng thau và da, những khu phố của thợ rèn và thợ làm quan tài, người làm nghề dệt và sản xuất thảo dược. Những khu phố này, không phải là trung tâm thành phố rộng rãi, do Pháp xây dựng, bỗng trở thành mục tiêu của những chiếc B-52 mà Nixon và Kissinger gửi đến trong dịp Giáng sinh năm 1972. Nhà của bà Tình không bị bắn trúng, bà chỉ nhớ “tiếng gầm lớn” trên bầu trời và mặt đất phía trên nơi trú ẩn “vỡ ra như sau một trận động đất”. Cuộc sống của bà minh họa cho sự đau khổ và hy sinh của người Việt Nam trong thế kỷ XX. Bà đã mất 5 trong số 8 đứa con của mình, hai đứa đầu tiên mắc bệnh viêm màng não mà không có thuốc. Con trai cả của bà đã hy sinh trong trận Điện Biên Phủ năm 1954, trận chiến có ý nghĩa quyết định trong việc đuổi quân Pháp ra khỏi Đông Dương. Con trai tiếp theo của bà tên là Khang, đã hy sinh ngay sau đó trong cuộc tiếp quản Hà Nội. Chồng bà, một bác sĩ tham gia kháng chiến của Hồ Chí Minh, cũng đã chết trước đó khi sơ tán những người bị thương ra khỏi Hà Nội. Bà không ngờ rằng Mỹ sẽ trở thành kẻ thù tiếp theo. Con út của bà, Lương, bị người Mỹ giết chết vào năm 1967. Vài năm trước, bà đã đến Củ Chi, nơi Lương hy sinh và dựng lên một miếu thờ, cầu nguyện cho anh ấy và những người khác.

Lần đầu tiên tôi gặp Thiên Thị Tạo ở Sài Gòn là ngay sau khi kết thúc chiến tranh, và tôi không bao giờ quên lời cô ấy rằng: “Khi nghe rằng mọi chuyện đã kết thúc, trái tim tôi như muốn bay”. Khi đó Tạo vẫn ở tuổi trẻ, nhưng cô đã phải bước đi khập khiễng vì những vết thương. Phần lớn thời gian tuổi trẻ của cô là ở trong các trung tâm tra tấn của cảnh sát bí mật Nam Việt Nam, một tổ chức khủng bố được thành lập, huấn luyện và điều hành bởi các đội từ CIA và Đại học bang Michigan. Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, hơn một nửa tù nhân chính trị được biết đến trên thế giới vào đầu những năm 1960 là những người bị chế độ Nam Việt Nam tống giam. Tạo mới 17 tuổi khi bị bắt lần đầu, cô đang đạp xe từ trường về nhà và lập tức được đưa đến một biệt thự bí mật do cảnh sát chìm điều hành. Cô bị buộc tội là một người cộng sản và là thành viên của Mặt trận Giải phóng Quốc gia NLF. Cô nói: “Giống như hầu hết các sinh viên, tôi ghét chế độ ngụy quyền, đặc biệt là việc họ đưa quân đội nước ngoài đến Việt Nam. Đúng là tôi đã hợp tác với NLF và sẵn sàng chiến đấu vì họ. Tất cả chúng tôi đều tôn trọng họ. Cảnh sát yêu cầu tôi khai ra tên các thành viên NLF. Khi từ chối, tôi bị treo ngược và bị cho điện giật, đầu tôi bị nhúng trong một xô nước. Sau đó tôi được gửi đến đảo Côn Sơn và bị tống vào cái mà họ gọi là chuồng cọp. Bạn không thể đứng lên trong đó, chân tôi bị xiềng xích và hàng ngày họ ném đá vôi xuống tôi. Họ có một nơi chứa đầy phân bò và lợn, và khi có lý do gì đó họ sẽ đưa bạn vào và nhốt bạn trong đó. Nơi này được gọi là quan tài sống”.

Bảy năm trước, Tạo kết hôn với một cán bộ NLF, người đã theo đuổi cô suốt 20 năm. Họ mất liên lạc trong cuộc chiến, nghĩ rằng người kia đã chết. Cô nói: “Tôi không thể chắc chắn về số phận anh ấy, anh ấy là một người cộng sản, khi còn nhỏ, tôi được bảo phải chạy trốn khỏi cộng sản!”. Bốn năm trước cô suýt chết khi mang thai, thận của cô đã bị hủy hoại sau nhiều năm bị tra tấn. Con trai cô, Huỳnh, sinh non và bị rối loạn máu, Tạo nói rằng em bé chỉ có “1% cơ hội sống”. Khi tôi gặp lại cô ấy vào một ngày trên một con phố sầm uất ở thành phố Hồ Chí Minh, bên ngoài một trường mẫu giáo, cô ấy đang chở một chú bé 4 tuổi được chăm sóc tốt một cách bất thường. “Tên của nó có nghĩa là mùa xuân vàng”, cô nói.

(Còn tiếp)

John Pilger, 22/4/1995
Ngô Mạnh Hùng (biên dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 559

Ý Kiến bạn đọc