Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Viết lịch sử kháng chiến không thể bỏ qua việc tìm hiểu về bản chất chính trị cuộc chiến tranh

V.I. Lênin nói về bản chất của chiến tranh

Theo V.I. Lênin: “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những biện pháp khác” (cụ thể bằng bạo lực). Theo V.I. Lênin, khi phân tích bản chất chiến tranh, nhất thiết phải có quan điểm chính trị – giai cấp, xem chiến tranh chỉ là một hiện tượng lịch sử cụ thể.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: Chiến tranh là một thời đoạn, một bộ phận của chính trị, nó không làm gián đoạn chính trị. Ngược lại, mọi chức năng, nhiệm vụ của chính trị đều phải thực hiện tiếp tục trong chiến tranh.

Giữa chiến tranh và chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau:

+ Chính trị chỉ đạo, chi phối, quyết định toàn bộ tiến trình và kết cục chiến tranh, quy định mục tiêu và điều chỉnh mục tiêu, hình thức tiến hành đấu tranh vũ trang; sử dụng kết quả sau chiến tranh để đề ra những nhiệm vụ, những mục tiêu mới cho giai cấp, xã hội trên cơ sở những thắng lợi hay thất bại của chiến tranh.

+ Ngược lại chiến tranh là một bộ phận, một phương tiện của chính trị, là kết quả phản ánh những cố gắng cao nhất của chính trị.

So-524--Viet-luch-su-khang-chien-khong-the-bo-qua-viec-tim-hieu-ve-ban-chat-chinh-tri-cuoc-chien-tranh---Anh-1

Trong thời đại ngày nay mặc dù chiến tranh có những thay đổi về phương thức tác chiến, vũ khí, trang bị, song bản chất chiến tranh vẫn không có gì thay đổi, chiến tranh vẫn là sự tiếp tục chính trị của nhà nước và giai cấp nhất định.

Đường lối chính trị của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn luôn chứa đựng nguy cơ chiến tranh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh

- Trên cơ sở lập trường duy vật biện chứng, Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá đúng đắn bản chất, quy luật của chiến tranh tác động đến bản chất đời sống của xã hội. Trên cơ sở lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá đúng đắn bản chất, quy luật của chiến tranh, tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội.

Khi nói về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh đã khái quát bằng hình ảnh “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân lao động chính quốc, một vòi hút máu nhân dân lao động thuộc địa. Trong Hội nghị Vécxây, Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất, bộ mặt thật của sự xâm lược thuộc địa và chiến tranh cướp bóc của chủ nghĩa thực dân Pháp. “Người Pháp khai hóa văn minh bằng rượu lậu, thuốc phiện”. Nói về mục đích cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người khẳng định: “Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ”.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cuộc chiến tranh do thực dân Pháp tiến hành ở nước ta là cuộc chiến tranh xâm lược. Ngược lại, cuộc chiến tranh của nhân ta chống thực dân Pháp xâm lược là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và thống nhất đất nước.

- Xác định tính chất xã hội của chiến tranh, phân tích tính chất chính trị – xã hội của chiến tranh xâm lược thuộc địa, chiến tranh ăn cướp của chủ nghĩa đế quốc, chỉ ra tính chất chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân tộc.

+ Trên cơ sở mục đích chính trị của chiến tranh, Hồ Chí Minh đã xác định tính chất xã hội của chiến tranh, chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh chống xâm lược là chính nghĩa, từ đó xác định thái độ của chúng ta là ủng hộ chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa.

- Hồ Chí Minh khẳng định: Ngày nay chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta là chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

+ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Người chủ trương phải dựa vào dân, coi dân là gốc, là cội nguồn của sức mạnh để “xây dựng lầu thắng lợi”.

+ Chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là cuộc chiến tranh toàn dân, phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh toàn dân, trong đó phải có lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh địch trên tất cả các mặt trận: Quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao…

So-524--Viet-luch-su-khang-chien-khong-the-bo-qua-viec-tim-hieu-ve-ban-chat-chinh-tri-cuoc-chien-tranh---Anh-3

Sự khái quát trên đã phản ánh nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới và là một sự phát triển đến đỉnh cao tư tưởng vũ trang toàn dân của chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự phát triển sâu sắc làm phong phú thêm lí luận mácxít về chiến tranh nhân dân trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngăn chặn được chiến tranh là thượng sách, Người cố gắng dùng các phương thức ít đổ máu nhất để giành và giữ chính quyền. Khi đã phải dùng chiến tranh thì sự hi sinh mất mát là không tránh khỏi, do đó Người thường xuyên nhắc nhở các cấp, các ngành, toàn dân phải ghi ơn những người đã ngã xuống cho độc lập tự do của Tổ Quốc, phải chăm sóc gia đình thương binh – liệt sĩ và đối xử khoan hồng với tù, hàng binh địch. Tư tưởng nhân văn trong quân sự của Hồ Chí Minh được kết tinh trong truyền thống “ Đại – Nghĩa – Trí – Tín – Nhân”, “mở đường hiếu sinh” cho kẻ thù của truyền thống Việt Nam, nó độc lập hoàn toàn với tư tưởng hiếu chiến, tàn ác của thực dân, đế quốc xâm lược.

Trong lĩnh vực nghệ thuật quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lấy tư tưởng chiến lược tiến công, giành thế chủ động, đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp của nhiều lực lượng hình thức quy mô và mọi lúc mọi nơi. Khéo léo nhuần nhuyễn các yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa với: Chí, dũng, lực, thế thời, mưu để đánh thắng địch một cách có lợi nhất, tổn thất ít nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghệ thuật tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện của Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao.

- Kháng chiến lâu dài dựa vào sức mình là chính:

Xuất phát từ hoàn cảnh nước ta là một nước nghèo, kinh tế kém phát triển, vừa giành được độc lập lại phải đương đầu với thực dân, đế quốc có tiềm lực kinh tế quân sự mạnh hơn ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc” để xây dựng và phát triển lực lượng ta, bảo đảm ta càng đánh càng trưởng thành. Người chỉ đạo: Phải trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, “trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Trường kỳ là đánh lâu dài, lấy thời gian làm lực lượng để chuyển hóa so sánh dần dần thế và lực của ta, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Tự lực cánh sinh là dựa vào sức mình, không ỷ lại, “phải đem sức ta mà giải phóng cho ta”, nhưng đồng thời phải hết sức tranh thủ sự đồng tình giúp đỡ của quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch để đánh và thắng chúng.

Tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chiến tranh đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và là nguồn gốc thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta. Ngày nay những tư tưởng đó còn nguyên giá trị, định hướng của Đảng ta trong việc đề ra những quan điểm cơ bản tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Do vậy, VIẾT LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN KHÔNG THỂ BỎ QUA VIỆC TÌM HIỂU VỀ BẢN CHẤT CHÍNH TRỊ CUỘC CHIẾN TRANH. Đây là cách làm hết sức nguy hiểm để họ nhằm cài cắm ý định lộn sòng, thay đen đổi trắng bản chất của cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của cả Dân tộc Việt Nam.

Từ những phân tích trên, tôi đồng ý với nhận định của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn rằng khi viết bộ sử này, ông Phan Huy Lê cùng êkíp đã đi ngược lại quan điểm, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta coi đó là thế giới quan, phương pháp luận của Đảng. Từ đó, họ cho mình cái quyền đưa vào sử những vấn đề gọi là “nhạy cảm” như không dùng (bỏ) từ ngụy, viết cả sự việc “những sĩ quan, binh sĩ VNCH hy sinh trong cuộc hải chiến ở Hoàng Sa”.

Luật gia Lê Thanh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 524

Ý Kiến bạn đọc