Ngoài nước

Vị tướng ẩn danh ở sân bay vũ trụ Baikonur

Nước Cộng hòa Azerbaijan tuy hiện nay chưa có những nhà du hành vũ trụ của mình, nhưng Baku đã tặng cho đất nước vĩ đại từng mang tên Liên bang Xô Viết một trong những vị lãnh đạo nổi tiếng của dự án chinh phục vũ trụ.

Trong một thời gian dài, thế giới không biết mặt ông cũng như không biết mặt viện sĩ tổng công trình sư S. P. Korolev, mặc dầu trong các chương trình truyền hình và trong các bộ phim thời sự người ta đã nhiều lần chiếu cảnh các nhà du hành vũ trụ trước giờ xuất phát đã báo cáo về việc mình sẵn sàng bay với Chủ tịch Ủy ban nhà nước. Còn vị lãnh đạo này, để đáp lại, đã chúc họ một chuyến bay thành công, hoàn thành chương trình và an toàn trở về trái đất. Và đó là tất cả những gì mà mọi người được phép biết về ông. Trên những bức ảnh chụp, bản thân vị chủ tịch tiếp nhận báo cáo chỉ được nhìn thấy từ phía lưng, bởi lẽ khuôn mặt của ông là bí mật quốc gia.

Mãi đến năm 1987, trong thời kỳ cải tổ của Gorbachov, danh tính của vị chủ tịch Ủy ban nhà nước mới được tiết lộ. Thì ra người tàng hình ở sân bay vũ trụ Baikonur là trung tướng Kerim Alievich Kerimov. Ông đã được tặng tất cả những phần thưởng cao quý nhất của chính phủ Liên Xô: Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa, giải thưởng Lenin, Stalin và Nhà nước, hai huân chương Lenin, hai huân chương Cờ đỏ, huân chương Sao đỏ và hàng loạt huy chương. Còn Liên bang Nga hiện nay đã tặng ông huân chương “Công trạng đối với Tổ quốc”…

Trung-tuong-Kerim-Alievich-Kerimov
Trung tướng Kerim Alievich Kerimov.

Vị danh tướng tương lai của ngành du hành vũ trụ sinh ngày 14/11/1917 tại Baku trong gia đình một kỹ sư công nghệ từng tốt nghiệp trường Đại học Bách khoa Petersburg. Cậu con trai của ông cũng chọn ngành kỹ thuật – vào học tại khoa điện của trường Đại học Công nghiệp Azerbaijan. Kerimov tốt nghiệp trường này khi đã nổ ra cuộc Chiến tranh vệ quốc, và ông được nhận ngay vào năm cuối cùng của Học viện pháo binh mang tên F. E. Dzerzhinski vốn sơ tán từ Moskva đến Samarkand (một thành phố ở Uzbekistan). Tại đây, ông được đào tạo thành kỹ sư cơ khí chuyên về vũ khí phản lực. Luận văn tốt nghiệp của ông mang tính chất rất thiết thực: “Phân xưởng chế tạo pháo cối”. Chính điều này đã quyết định số phận nghề nghiệp của ông. Chàng kỹ sư trẻ được cử đi nghiên cứu tên lửa đốt bằng nhiên liệu rắn – cơ sở để chế tạo những dàn hỏa tiễn “Katjusha” huyền thoại – một loại pháo phản lực khiến kẻ thù phải kinh hoàng bạt vía.

Song loại hỏa tiễn “Katjusha” cũng có những nhược điểm: bắn không thật chính xác và độ xa không vượt quá 30 km.

Vào năm 1944, Thủ tướng Anh là Churchill đã tiết lộ cho Stalin biết một thông tin quan trọng: các nhà thiết kế của Đức quốc xã đã nghiên cứu thành công một loại tên lửa mới được đốt bằng nhiên liệu lỏng và bắn xa tới 300 km. Dân chúng thành London đã phải hứng chịu những quả bom bay như vậy. Đó chính là loại tên lửa đạn đạo V-2 (tiếng Đức là Vergeltungswaffe – đại pháo trừng phạt), thứ vũ khí mà người Mỹ đang săn lùng ráo riết.

Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, vào năm 1946, Kerimov cùng một nhóm chuyên gia tên lửa Liên Xô được phái đi công tác đến thành phố Nordhhausen của Đức là nơi loại vũ khí lợi hại V-1 và V-2 được sản xuất tại các phân xưởng nằm sâu trong núi đá. Người Mỹ đã đến đây sớm nhất và đã đưa về Mỹ tất cả những thứ có giá trị nhất, kể cả nhà thiết kế tên lửa của Đệ tam Đế chế là Verner Fon Braun. Chính nhân vật này đã trở thành người khai sinh ra ngành du hành vũ trụ của Mỹ.

Để có khái niệm về sức mạnh của V-2, Kerimov đã đưa ra một dẫn chứng: turbina của loại tên lửa này sau khi bơm nhiên liệu vào buồng đốt đã làm tăng công suất hệt như turbina của nhà máy thủy điện khổng lồ trên sông Dnepr (Dnepro- GES)!

Bởi thế, không lấy gì làm ngạc nhiên khi những người Mỹ đã dọn sạch như chùi các căn hầm được xây trong dãy núi Thuringen ở Đức.

Tuy vậy, các nhà chế tạo tên lửa Liên Xô cũng tìm kiếm được một vài thứ còn sót lại của chính loại hỏa tiễn V-2 mà sau đó họ đã phục chế được. Không những thế, họ còn phát hiện ra một trong những chiến hữu của Fon Braun là công trình sư nổi tiếng Gretrub. May thay, vị chuyên gia này vẫn khỏe mạnh và đồng ý làm việc cho chương trình tên lửa của Liên Xô, nhưng ông ta lại đưa ra một số điều kiện quái gở khiến các nhà khoa học Xô Viết vốn quen với lối sống giản dị và khiêm tốn không khỏi ngạc nhiên. Số là ngoài một ngôi biệt thự được dành riêng cho hai vợ chồng người Đức này, Gretrub còn yêu cầu cùng với họ, phải đưa từ Đức sang một con bò cái mà ông ta quen uống sữa và không chấp nhận bất cứ một loại sữa nào khác. Nguyện vọng này đã được thực hiện. Một toa chở hàng đặc biệt với đầy đủ tiện nghi dành cho nàng bò quý tộc được nối vào đoàn tàu, còn mụ vợ của Gretrub thì có thói quen hàng sáng cưỡi một con ngựa đua thuần chủng đi dạo chơi trong khu rừng. Vả lại, đó là những chuyện vặt. Thế nhưng, gã chuyên gia nước ngoài đỏng đảnh này đã giúp cho những kẻ thù mới đây của y chế tạo ra một kiểu tên lửa riêng của mình. Và đó mới chỉ là khởi điểm. Chương trình tên lửa của Liên Xô còn có gốc rễ vững chắc bắt nguồn từ Ciolkovski, người mà Korolev luôn luôn coi là bậc thầy của mình. Hơn nữa, Stalin đã ra lệnh là tất cả các bộ phận cấu thành của tên lửa phải hoàn toàn do Liên Xô sản xuất, và yêu cầu này được chấp hành một cách nghiêm chỉnh.

Công việc của Kerimov, một người có sức làm việc phi thường, giàu nghị lực và biết đưa ra những cách giải quyết tối ưu trong thời hạn ngắn nhất, trong nhiều năm gắn bó với các cơ quan trung ương của Bộ Quốc phòng là nơi ông kinh qua con đường binh nghiệp từ kỹ sư trưởng đến người lãnh đạo các tổng cục then chốt của quân đội.

Kerim Kerimov đang say sưa nghiên cứu loại tên lửa vượt đại châu siêu bí mật thì ông được điều động sang khảo sát vũ trụ. Lúc đầu ông hơi phật ý bởi lẽ ông xem việc này như sự giải ngũ. Tuy nhiên, chả giấu diếm làm gì, loại tên lửa quân sự và những nghiên cứu về vũ trụ trong lịch sử của nước Nga có liên quan với nhau về mặt nguồn gốc. Do đó, tướng Kerimov không bị “giải ngũ” khi vào năm 1965 ông được biệt phái sang Bộ chế tạo cơ khí tổng hợp, một cơ quan có lẽ thuộc loại bí mật nhất thời bấy giờ, và phụ trách Tổng cục vũ trụ.

Vẫn ở nguyên chức vụ đó, Kerimov vào năm 1966 đã trở thành Chủ tịch Ủy ban nhà nước về các chuyến bay có người điều khiển và đã làm việc trên cương vị này 1/4 thế kỷ. Để có thể hình dung được vị trí của ông trong hệ thống điều hành chương trình vũ trụ của Liên Xô, chỉ cần biết một điều là Ủy ban nhà nước thực hiện việc nghiệm thu tất cả các con tàu vũ trụ có người điều khiển và các vị phó của Kerimov vào những thời gian khác nhau đều là những nhà hoạt động có tên tuổi trong lĩnh vực này như V.I. Mishin, V.P. Glushko, Ju.P. Semenov.

Ra-mat-tau-vu-tru-Soyuz-4-tai-Cosmodrome-Baikonur-ngay-14-1-1969
Ra mắt tàu vũ trụ Soyuz-4 tại Cosmodrome Baikonur vào ngày 14/1/1969.
Nguồn: Sputniknews.

Là một quân nhân, Kerimov hiểu rõ một quy tắc bất thành văn: “Quân lệnh như sơn”. Song ông có quan điểm riêng đối với nhiều vấn đề, và trong những tình huống cực kỳ quan trọng, ông biết bảo vệ ý kiến của mình.

Một trong những tình huống như vậy đã xảy ra vào năm công tác đầu tiên của ông với tư cách là người lãnh đạo Ủy ban nhà nước. Sự đụng độ có liên quan đến con tàu vũ trụ thuộc xêri “Voskhod” (Bình minh), xêri này đến thay thế cho xêri “Vostok” (Phương Đông). Thiết bị mới đó đã hai lần được đưa lên vũ trụ cùng với một phi hành đoàn, song độ an toàn của các nhà du hành vũ trụ vào thời điểm xuất phát cũng như vào những phút bay đầu tiên đã làm dấy lên mối lo ngại. Trong khi đó, trước mắt hãy còn 3 chuyến bay nữa mà Kerimov và các cộng sự của ông cố gắng ngăn lại. Rất tiếc là Korolev, người có uy tín tuyệt đối trong vấn đề này, đã qua đời.

Tại phiên họp của Hội đồng Quốc phòng vào tháng 7/1967, Brezhnev đã tỏ thái độ không hài lòng đối với việc làm vỡ kế hoạch của “Voskhod”, điều đó, theo Tổng Bí thư, đã làm tổn hại đến uy tín của Liên Xô với tư cách là một cường quốc vũ trụ. Trong số một vài người phản bác ý kiến của Brezhnev có Kerimov, ông mạnh dạn tuyên bố rằng không nên gây nguy hiểm cho sinh mạng của các nhà du hành vũ trụ. Và những con tàu “Voskhod” sau đó không được phóng lên quỹ đạo nữa.

Sở dĩ Kerimov biểu lộ thái độ cứng rắn là vì trong khi tiễn đưa và đón tiếp các nhà du hành vũ trụ, vị tướng này biết rõ rằng đôi khi sự an toàn của những con người dũng cảm đó lại bị phụ thuộc vào một vài chi tiết lặt vặt, vớ vẩn. Chẳng hạn, nhà du hành vũ trụ Vladimir Komarov, người thực hiện chuyến bay thứ hai trên con tàu “Soyuz-1” đã hy sinh lúc đang quay trở về trái đất do bề mặt bên trong của contenơ, nơi cất giữ chiếc dù, đã mắc lỗi kỹ thuật khi gia công tại nhà máy. Đáng lý ra, nó phải thật nhẵn và trơn, nhưng trên thực tế lại ram ráp và do đó chiếc dù vốn đảm bảo cho con tàu đáp xuống nhẹ nhàng, không chui được ra khỏi contenơ, còn chiếc dù dự phòng thì bị rối dây.

Sự cố này cũng như cái chết bi thảm của phi hành đoàn “Soyuz-11” mãi mãi là một vết thương trong lòng Kerimov cho đến tận những ngày cuối đời. Một phần cũng là vì trong trường hợp thứ hai, Kerimov buộc phải trở thành công cụ của số phận ngoài ý muốn của ông.

Những chuyện bực mình đã ám ảnh đoàn thám hiểm này ngay từ phút giây đầu tiên. Thoạt tiên có dự kiến là phi hành đoàn của Aleksei Leonov sẽ thực hiện chuyến bay đầu tiên lên trạm quỹ đạo “Soyuz-1”. Nhưng trước khi xuất phát hai ngày, hội đồng y học đã phát hiện ra một vài rối loạn không đáng kể trong cơ thể của Valeri Kubasov và loại anh ra khỏi chuyến bay, mặc dầu nhà du hành vũ trụ này cam đoan rằng anh cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh.

Kerimov với tư cách là Chủ tịch Ủy ban nhà nước bèn quyết định rằng cần phải hành động nghiêm túc theo chỉ dẫn và đã thay toàn bộ phi hành đoàn của Leonov bằng một phi hành đoàn dự bị. Rõ ràng đây là một quyết định đúng đắn bởi lẽ bộ ba là một tập thể đã định hình, được huấn luyện tác nghiệp một cách đồng bộ. Kết quả là vào tháng 6/1971, một phi hành đoàn gồm Georgi Dobrovolski, Viktor Pasaev và Vladislav Volkov đã được đưa lên trạm quỹ đạo “Soyuz” vốn được tái khởi động và chuẩn bị hoạt động trên quỹ đạo.

Trên trạm quỹ đạo “Soyuz”, họ phải lao động khá vất vả bởi lẽ các nhà du hành vũ trụ phát hiện thấy rằng không khí trên trạm quỹ đạo bị ám khói một cách đáng kể. Cần phải cấp tốc sửa chữa hệ thống thông gió. Sau khi mất mấy ngày để khắc phục sự trục trặc này và đưa ngôi nhà trên quỹ đạo vào trạng thái hoạt động bình thường, phi hành đoàn của Dobrovolski chuyển sang tàu “Soyuz” của mình và trở về trái đất. Hầu như trong suốt thời gian bay, các nhà du hành vũ trụ giữ liên lạc thường xuyên với Trạm điều khiển trung tâm, sự liên lạc này chỉ bị gián đoạn sau khi các khoang tách ra.

Chiếc máy bay trực thăng chở nhóm tìm kiếm đã phát hiện thấy thiết bị đang hạ xuống ở phía dưới chiếc dù, nhưng phi hành đoàn không thấy bắt liên lạc. Những động cơ hạ cánh nhẹ nhàng hoạt động tốt, và chuyến bay đã kết thúc trong khu vực định trước.

Tuy nhiên, khi các đội viên tìm kiếm mở nắp con tàu thì họ thấy cả ba nhà du hành vũ trụ ngồi nguyên trong ghế của mình và “không có dấu hiệu gì của sự sống”. Cách diễn đạt không bình thường này đã được đưa vào văn bản của thông báo chính thức về sự tử vong của phi hành đoàn “Soyuz-11”. Thân thể của những nhà du hành vũ trụ hãy còn ấm, và các bác sĩ đã làm hết cách để cấp cứu hồi sinh cho họ nhưng không có kết quả…

Đó cũng là sự trục trặc kỹ thuật, một sự trục trặc rất bi thảm bởi sự phi lý của nó – Kerim Alievich nói, dường như một lần nữa trải nghiệm tấn bi kịch mới xảy ra – Cái van nhẽ ra phải được mở khi con tàu đáp xuống trong những tầng khí quyển dày đặc thì lại làm điều đó quá sớm, trong khoảng chân không. Và toàn bộ không khí đã thoát ra ngoài qua cái lỗ có đường kính 5cm. Về nguyên tắc, có thể dùng tay bịt cái lỗ ấy lại. Và tư thế thi hài của các nhà du hành vũ trụ đã chứng tỏ rằng họ định làm việc này. Song họ không thể vì đã bị cột chặt vào ghế bởi dây an toàn.

Sau tấn thảm kịch đó là một khoảng thời gian tạm ngừng trong 18 tháng để lý giải sự rủi ro và để loại trừ những khả năng tái diễn của nó. Một trong những hậu quả tai hại là mệnh lệnh bắt buộc các nhà du hành vũ trụ chỉ được thực hiện tất cả những thao tác trong những bộ áo vũ trụ cồng kềnh khi con tàu được phóng lên và trở về trái đất.

Kerimov đã tham gia vào công việc của tất cả các dự án du hành vũ trụ có người điều khiển. Nhưng ông tâm đắc nhất là trạm quỹ đạo “Hòa bình”. Sau khi thiết bị này xuất hiện, ở Mỹ người ta lên tiếng nói rằng người Nga đã vượt trước người Mỹ hàng chục năm và hiện nay đang chiếm lĩnh vũ trụ. Kerimov tin chắc rằng Hoa Thịnh Đốn nằng nặc đòi nhận chìm trạm quỹ đạo “Hòa bình” vì người Mỹ không muốn dự án TRẠM VŨ TRỤ QUỐC TẾ do họ khởi xướng có những kẻ cạnh tranh. Trong khi đó, trạm quỹ đạo của Nga, theo Kerimov, vẫn còn đầy sức sống – chỉ cần thay một vài bộ phận là được.

Cho dù chuyện gì có xảy ra ở đó chăng nữa (mặc dầu thao tác đánh chìm trạm quỹ đạo “Hòa bình” do các chuyên gia Nga thực hiện một cách xuất sắc, với sự chính xác cao độ), thì sự việc này đã để lại một nỗi buồn khôn nguôi trong lòng mọi người. Khi một chuỗi những mảnh lấp lánh – tất cả những gì còn sót lại của trạm quỹ đạo sau khi xuyên qua những lớp khí quyển dày đặc, biến mất trong làn sóng của Thái Bình Dương cạnh quần đảo Fiji vào ngày 23/3/2001, thì tất cả những người ở Trạm điều khiển trung tâm đã đứng dậy mặc niệm để tưởng nhớ một “cựu chiến binh”. Kerimov cũng đứng cùng với các đồng nghiệp và các bạn bè. Ông đã buồn phiền đau khổ về đứa con cưng của mình mất 2 năm và 6 tháng.

Lê Vĩnh
(Theo Ogonek)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 404

Ý Kiến bạn đọc