Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Vị trạng nguyên đầu tiên

Lâu nay khi đặt câu hỏi: Ai là trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam, thì câu trả lời chưa hoàn toàn thống nhất.

Nhiều nhà sử học khẳng định: đó là Lê Văn Thịnh. Ông đỗ đầu khoa thi “Minh kinh bác học” năm Ất Mão 1075 dưới triều vua Lý Nhân Tông, mở đầu cho thời kỳ khoa cử Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều người không đồng ý vì cho rằng hồi ấy Lê Văn Thịnh chưa được gọi là trạng nguyên. Người chính thức được gọi trạng nguyên là Nguyễn Hiền. Ông đỗ đầu khoa thi năm 1247 dưới triều vua Trần Thái Tông khi mới 13 tuổi. Đây là kỳ thi Đình đầu tiên lấy tam khôi: người đỗ đầu gọi là trạng nguyên, người đỗ thứ hai là bảng nhãn, người đỗ thứ ba là thám hoa. 

Có một người xứng đáng được gọi là trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam thì nhiều sử gia lại không chú ý đến?! Đó là Khương Công Phụ. Sở dĩ có chuyện này là bởi ông không đỗ trạng nguyên ở Việt Nam mà lại đỗ bên… Trung Quốc!

Anh-minh-hoa---Vi-trang-nguyen-dau-tien

Lần giở lại lịch sử nước nhà, ta thấy cuộc đời Khương Công Phụ thật lạ kỳ. Ông là nhân vật lừng lẫy một thời cả về học vấn lẫn quyền lực, được triều đình Đại Đường kính nể.  

Khương Công Phụ sinh ra và lớn lên vào thế kỷ thứ VIII (không rõ năm sinh) tại vùng Cổ Hiểm, Ái Châu nay là xã Định Thành, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Lúc đó nước ta đang nằm dưới ách đô hộ của nhà Đường. Xuất thân của ông cũng chưa thật rõ ràng. Có hai nguồn tư liệu:

Nguồn thứ nhất theo gia phả họ Khương ở huyện Thạch Thất (nay thuộc Hà Nội) cho biết: ông là con của Khương Công Đỉnh từng giữ chức Huyện thừa tiến sỹ và là cháu nội của Khương Công Dực vốn là Thứ sử Ái Châu. 

Nguồn thứ hai là từ dòng họ Khương và giai thoại dân gian ở Cổ Hiểm, nơi ông sinh ra lại cho rằng: Khương Công Đỉnh đúng là cha Khương Công Phụ, nhưng chỉ là một nông dân ở Ái Châu mà thôi. 

Chuyện kể rằng, có một ông thầy địa lý Tàu rất giỏi nhưng không có con, muốn tìm người tài nối dõi tông đường. Nghe đồn bên Ái Châu có nhiều địa linh, dễ sinh nhân kiệt, ông liền sang tìm. Đến vùng Cổ Hiểm, nhìn thế núi, thế sông ông biết đây là nơi mình cần. Ông ở lại mở tiệm thuốc Bắc, rồi cưới một cô gái Việt làm vợ. Ông tuyển một chàng trai khỏe mạnh, tốt nết tên là Khương Công Đỉnh về giúp việc nhà. Đang “ăn nên làm ra”, bỗng dưng ông thầy người Tàu trở về cố quốc, giao tiệm thuốc lại cho cô vợ trẻ cai quản. Trước khi đi, ông dặn vợ: nếu sau 3 năm không thấy ông trở lại thì có quyền đi bước nữa. 

Sau 3 năm, ông thầy địa lý Tàu vẫn biệt vô âm tín. Tưởng chồng mình đã chết, nhớ đến lời dặn của ông, cô vợ trẻ “đi bước nữa” với người giúp việc họ Khương. Hai người sống với nhau rất hạnh phúc và sinh hạ được hai đứa con trai khôi ngô tuấn tú là Khương Công Phụ và Khương Công Bật. 

Một ngày kia, đột nhiên ông thầy Tàu trở về. Vợ chồng nhà họ Khương không biết xử sự ra sao. Có điều lạ là ông thầy Tàu vẫn tỏ ra vui vẻ, không trách móc gì vợ chồng họ Khương, mà chỉ muốn xin một đứa con của hai người về làm con nuôi. Mặc dù thương con, nhưng nghĩ dù sao ông cũng là ân nhân của mình nên vợ chồng họ Khương đồng ý cho ông đứa con nhỏ Khương Công Bật mang về cố quốc. 

Ở lại với cha mẹ, Khương Công Phụ tỏ ra thông minh hơn người, nghe đâu hiểu đấy, đọc đâu nhớ đấy. Cha mẹ ông mừng lắm, bèn đưa ông đến theo học một ông thầy người Tàu khác cũng là chủ hiệu thuốc Bắc trong vùng. Ông này vốn là quan lại bên nhà Đường, từng đỗ đại khoa nhưng chán cảnh triều chính nên lánh sang Ái Châu ở ẩn. 

Trò sáng dạ lại gặp được thầy tài giỏi như cá gặp nước, chẳng mấy chốc Khương Công Phụ đã nổi tiếng khắp vùng. Ông thuộc làu làu tứ thư, ngũ kinh. Mọi quyển sách thầy đưa, ông đều thuộc hết. Một thầy một trò, cứ như vậy từ năm này qua năm khác, ông thầy người Tàu mang toàn bộ kiến thức của mình truyền đạt cho đứa học trò yêu. Vốn từng đỗ đại khoa bên nhà Đường và vẫn được coi là người hay chữ nhất vùng, vậy mà có lúc ông cảm thấy không còn gì để dạy Khương Công Phụ nữa. 

Năm đó, nhà Đường tổ chức kỳ thi tiến sỹ tại kinh đô Tràng An, nhưng đất An Nam chỉ có 8 sĩ tử được quyền tham dự. Quan địa phương phải tổ chức thi sát hạch. Kết quả Khương Công Phụ đỗ đầu. Các giám khảo tỏ ra vô cùng kinh ngạc trước sự hiểu biết sâu rộng của ông cả về kinh sử lẫn thơ phú. Người ta nhận ra ông có một học lực phi thường và một tài năng xuất chúng. 

Đến kinh đô Tràng An, nhìn lên bảng yết tên những sĩ tử dự thi, thấy có người là Khương Công Phục cùng tuổi với em mình. Ông tìm đến gặp. Thật bất ngờ, họ nhận ra nhau là anh em ruột bởi Khương Công Phục vẫn còn nhớ mình là người Ái Châu và có người anh là Khương Công Phụ. Thì ra Khương Công Bật đổi tên thành Khương Công Phục từ khi về sống trên đất Đại Đường. 

Các sĩ tử phương Bắc chẳng ai chú ý đến Khương Công Phụ, một kẻ đến từ phương Nam xa xôi vẫn thường bị coi là man di, lạc hậu. Nhưng kỳ thi tiến sĩ năm đó đã xảy ra một sự kiện “động trời”: Hai anh em ruột đất Ái Châu cùng đỗ tiến sĩ; hơn nữa, người anh vươn lên đoạt giải Khôi nguyên (Trạng nguyên). Sử sách Trung Hoa đã nhiều lần ghi nhận sự kiện chấn động kinh đô Tràng An này.

Sau khi đỗ, Khương Công Phụ ở lại làm việc trong triều đình Đại Đường và dần dần được thăng lên chức “Gián nghị đại phu” chuyên góp ý, khuyên giải Vua, giống như chức cố vấn ngày nay. Đặc biệt sau đó ông được thăng lên đến Tể tướng, chức quan lớn nhất triều đình, chỉ đứng sau Vua (dưới một người, trên muôn người). Thật kỳ lạ, một người Ái Châu vốn chỉ được coi là “man di” giờ lại đứng đầu triều để điều hành bộ máy cai trị đồ sộ của người Hán. Đây thực sự là chuyện hi hữu trong lịch sử hai nước.

Khương Công Phụ có tiếng là người liêm khiết, cương trực, thẳng thắn dám mạnh dạn tâu lên Vua những điều ông cho là phải. Sử sách Trung Hoa không tiếc lời khen ngợi ông. Khương Công Phụ còn có những tác phẩm văn học hay để lại cho hậu thế, như bài phú “Mây trắng rọi biển Xuân”, được các học giả Trung Quốc và Việt Nam cho là tuyệt tác. 

Chỉ tiếc rằng cuối đời, ông bị biếm chức vì can gián Vua không thành. Lần đó (năm 784), vua Đường Đức Tông trên đường chạy loạn về phương Nam thì công chúa Đường An qua đời. Nhà vua quá thương con đã ra lệnh cử hành tang lễ thật long trọng và xây tháp lớn thờ con rất tốn kém. Khương Công Phụ khuyên nhà vua nên tiết kiệm, chờ trở về kinh đô hãy làm. Vua Đường nổi giận đã biếm chức ông xuống làm Tả thứ tử, chuyên dạy học cho Thái tử. Đến năm792 lại biếm ông xuống làm Tuyền Châu biệt giá (thuộc tỉnh Phúc Kiến ngày nay). Làm việc một thời gian, biết mình không còn được trọng dụng, ông xin nghỉ, về ở ẩn và qua đời tại đây năm 805.

Ngày nay, ở xã Vĩnh Thành quê hương ông có đền thờ Khương Công Phụ. Đền này được xây dựng từ lâu, đến thời Tự Đức (năm 1860) thì tu bổ lại khá lớn và đẹp. Có tài liệu miêu tả rằng, trước đền đề 3 chữ “Trạng Nguyên Từ” và đôi câu đối rất hay của Cử nhân đốc học Lê Văn Thạc (1782-1876):

Tháp công chúa gió mưa chốc đổ
Đền trạng nguyên mây biển mãi soi. 

Nhưng sau này đền bị phá hủy gần hết, mãi đến năm 2010 mới được xây lại, có lẽ kém xa so với đền xưa. 

Trở lại câu hỏi ban đầu, nhiều nhà sử học không muốn gọi Khương Công Phụ là trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam, có lẽ vì cho rằng ông thi đỗ ở Tràng An nên ông là trạng nguyên… Trung Quốc. Có nên như thế không? Nếu như Lê Văn Thịnh, Nguyễn Hiền là trạng nguyên quốc gia, thì Khương Công Phụ là trạng nguyên quốc tế. Đều là trạng nguyên người Việt Nam.

Trong đêm trường tăm tối của hơn ngàn năm nô lệ, Khương Công Phụ như một ngôi sao phương Nam vụt sáng trên bầu trời phía Bắc. Dù xuất thân từ đâu, con quan hay con nông dân thuần tuý, thì ông vẫn là biểu tượng cho trí tuệ và tinh hoa đất Việt. Ông đã làm rạng danh quê hương mình và là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Lịch sử công bằng, cần trả lại vị thế xứng đáng cho ông.

Trần Thanh Chương
(Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 417

Ý Kiến bạn đọc