Tản văn

Về với Bàu Bàng

Dù trời mưa hay trời nắng, hễ tôi ra khỏi nhà buổi sáng là hừng đông tươi tỉnh ngay.

Thường là như vậy!

Sáng 20-6-2016, có hai nhạc sĩ và tôi ra khỏi nhà.

Đi đâu? Chúng tôi sẽ đến cái nơi mà ngày xưa ở đó chắc là có cái Bàu và có nhiều cây Bàng (1). Còn hiện nay, Bàu Bàng là huyện mới của tỉnh Bình Dương, được tách ra từ huyện Bến Cát. Miền đất này từng lập nhiều chiến công hiển hách, nay mọi người hưởng lộc những bậc hiền tài, người đi trước: một miền trời đất mênh mông bát ngát, thỏa sức ước mơ xây tương lai, nơi hiện thực cho những ý tưởng đột phá, khởi nghiệp.

Tôi thả hết ga liên tưởng của mình đuổi theo vòng bánh xe lăn số 61 đang phơi phới trên con đường tráng nhựa, vù vù qua mặt những xóm thôn mà gần 20 năm trước chúng tôi từng phải “bước xuống ruộng sâu” tìm kiếm những làn điệu dân ca của Sông Bé ngày xưa – Bình Dương bây giờ.

Tuong-dai-chien-si-Bau-Bang
Tượng đài Chiến thắng Bàu Bàng.
Nguồn: baobinhduong.vn

Bàu Bàng đây rồi. Chủ tịch huyện mới và vài cán bộ huyện đã có mặt. Đáng chú ý là cô Phạm Thị Mộng Diễm, người của Trung tâm Văn hóa – thể thao huyện. Chủ tịch huyện nói lát nữa cô Diễm dẫn cô chú đi tham quan, vừa đi vừa giới thiệu. Chủ tịch nói thêm gì đó, rồi móc túi lấy điện thoại bấm bấm, vang lên bài hát “Anh hùng Trừ Văn Thố, lấy thân mình lấp lỗ châu mai”. Như chờ sẵn dịp, nhạc sĩ Võ Đông Điền chỉ vào nhạc sĩ Lư Nhất Vũ nói: Bài của ông này viết hồi ổng ở miền Bắc, cách nay 51 năm. Chủ tịch huyện tươi cười bắt tay Lư Nhất Vũ thêm cái nữa. Tới cô Mộng Diễm đứng lên, tóc xõa kéo hết về bờ vai phải. Cổ nói mời các cô chú, ta đi tham quan trước tiên, rồi tới, rồi tới… Cuối cùng sẽ thăm trang trại rất thành công của chú Bảy Khái, xe có chạy qua Lai Khê. Nghe nhắc Lai Khê, Lư Nhất Vũ cười nói anh em mình từng ghé Lai Khê hai lần, được Anh hùng lao động Hồ Giáo cho uống sữa trâu Mura giữa trưa khát nước (năm 1985).

Cuộc tiếp đón chưa kịp hớp được hai hớp nước khoáng La Vie, thật thoải mái, gọn nhẹ, vui vẻ. Chủ tịch rề lại chỗ tôi, nhét phong bì vô xấp tài liệu “Cuộc mở mang huyện Bàu Bàng”, nói nhỏ, gửi cô tiền xăng, rồi nói cô chú tới nông trang anh Bảy Khái chơi, sẽ rất vui. Sáng nay cháu có cuộc họp.

Tôi nghĩ có cuộc gặp gỡ này là do Chủ tịch huyện muốn có một cuộc gặp nhẹ nhàng với ông Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật Võ Đông Điền và vài anh chị em văn nghệ sĩ. Tất nhiên, những cuộc gặp như vậy sẽ có nhiều rung cảm tự nhiên dễ chịu hơn.

Còn gì bằng, Lư Nhất Vũ ca ngợi Anh hùng Trừ Văn Thố, chiến sĩ của Sư đoàn 9 vang dội. Sư đoàn này có sư đoàn trưởng Tạ Công Khâm, quen với tôi, ông sư trưởng còn là anh thứ sáu của Anh hùng Tạ Thị Chung, bạn ở R của tôi. Chẳng phải thấy sang bắt quàng làm họ, mà Lư Nhất Vũ sáng nay được gặp lại tuổi 29 của mình tại Hà Nội. Tôi cũng có niềm vui, vì Mộng Diễm, cô gái Sài thành theo cha mẹ lên khu kinh tế mới lúc 5 tuổi, nay đã thuộc làu làu sự tích đất Bàu Bàng, là môn đệ của Nguyễn Thị Hậu, tiến sĩ khảo cổ học. Diễm nói cô Hậu có giọng nói thật truyền cảm. Đời là vậy, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thị Thanh Xuân nhận xét tôi “Hễ gặp là có chuyện”. Mà thật, đối với tôi, hễ gặp là phải có chuyện, như chuyện của sáng nay, mặc dù tôi sống với rừng cả nửa đời người, giờ lần đầu tiên tay tôi rờ được những cây lim, cây trắc, cây gõ… hàng mấy trăm năm còn tại vị đường hoàng trong khu rừng cổ thụ (muốn vô đó phải được bảo vệ xét giấy tờ. Nơi đây còn là Viện nghiên cứu Cao su Việt Nam thuộc trung ương quản lý). Mấy năm trước, chúng tôi cùng nhạc sĩ Doãn Nho thắp nén nhang nơi tượng đài chiến thắng Bàu Bàng, được nghe những lao khổ ngày xưa của phu cao su thời Pháp thuộc. Trước đó nữa, có lần, chúng tôi cùng nhà văn Lý Lan hợp ca bài “Trừ Văn Thố, anh hùng lấp lỗ châu mai” tại trường tiểu học mang tên Anh hùng Trừ Văn Thố.

Hôm nay, chúng tôi được đến thăm nông trang của anh Nguyễn Văn Khái. Anh là cán bộ ngành giáo dục đã về hưu, là hội viên nông dân sản xuất giỏi của ASEAN, Sao Thần Nông VN 2009 (2). Anh Bảy tướng tá dềnh dàng, nói to, cười lớn, tràn trề ý định tương lai. Còn chị Bảy thì ngược lại, chu đáo, nhỏ nhẹ, dìu dịu… như những muỗng cháo nấm tràm của chị nấu, nuốt vào có cái vị ngòn ngọt, đăng đắng khó quên.

Mặt trời đã đứng bóng, nghe hai anh chị chiều nay còn đi hái nấm tràm trong rừng cách nhà mấy chục cây số ở Chơn Thành, con trai anh chị gọi điện thoại nói đang có hơi gió nấm mối dữ dằn lắm, người ta đi nhổ nấm đông lắm. Chị Bảy luýnh quýnh hối anh Bảy sửa soạn mau mau, nhưng anh Bảy đâu rồi?

Kìa! Anh Bảy đang sai mấy cháu chất lên xe 4 cây chuối chà bột cho chúng tôi đem về trồng; đốn 7, 8 quầy chuối chà bột, mấy giỏ sầu riêng, măng cụt đặng chúng tôi đem về cho anh em ở nhà.

Còn cái bao thư hồi nãy, Chủ tịch huyện Bàu Bàng đưa tiền xăng cho tôi nữa. Lư Nhất Vũ mở ra coi, liền ghé vô siêu thị mua một hộp sữa Ensure của người già, gọi là châm xăng cho nhạc sĩ và nhà thơ…

Chuyến đi thăm nỗi nhớ, nghe hâm nóng ấm cúng nỗi niềm, nhưng trên đường về, tôi lại “mắc” thêm nhiều nỗi nhớ, khiến tâm trạng vui buồn cứ luẩn quẩn đeo theo.

Trên con đường 13 uy danh lịch sử hào hùng giữ nước của ta, từng có bao anh em văn nghệ sĩ, khi yên giặc đã í ới gọi nhau trở lại thăm nom những con đường chúng ta đã đi qua. Họ dạt dào cảm xúc, khi có dịp trở lại thăm con đường chiến tranh chết sống, để ôm hôn những ông già bà cả và nựng nịu những con trẻ được sinh ra trong thời yên giặc; họ nhắc bao kỷ niệm khi gặp lại các ba má, bà con xóm làng đã cưu mang đùm bọc họ…

Tháng 3-2016, trên đường đi làm phim tài liệu “Suối nguồn vẫn chảy”, muốn về thành phố Hồ Chí Minh cũng phải qua quốc lộ 13. Qua sóc Bom Bo, tôi rất nhớ anh Ba Xuân Hồng. Thời gian anh làm Tổng thư ký Hội Âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh, trong hồi ký của anh có đoạn:

… Chưa nói đến trong chiến đấu chết sống có nhau mà chỉ nói riêng trong cuộc sống bình thường hằng ngày ấy, sự đồng cam cộng khổ đã góp vào chất keo gắn bó tình đồng đội, đồng chí. Đối với tôi, đó là những tháng năm mà con người sống trong sáng và đẹp đẽ nhất. Giờ đây chúng ta có cả giang san, có cơ quan đồ sộ, có nhà cửa đầy đủ tiện nghi, có xe hơi, xe máy, có những tiệc liên hoan linh đình… nhưng sao vẫn thấy thiếu đi cái gì mà các thứ kể trên không bù đắp được.

Anh Ba Xuân Hồng thấy thiếu một cái gì đó? Có lẽ thiếu mấy nảy chuối chà bột, mấy trái sầu riêng, mấy túi măng cụt… của anh Bảy Khái trồng trên đất Bàu Bàng, gởi về cho anh chị em ở nhà!?

… Và chắc chắn những câu hò cấy đối đáp của bà Đỗ Thị Dần, 64 tuổi (tính vào năm 1987) ở Phú An, Bến Cát vẫn còn vang lên trong suy nghĩ của chúng ta:

Đố:

Chữ gì chôn dưới đất
Chữ gì cất trên trang
Chữ gì mang không có nổi
Chữ gì gió thổi không có bay?

Đáp:

Chữ thọ đường chôn dưới đất
Còn chữ hiếu cất trên trang
Chữ tình mang không có nổi
Còn chữ tạc đá bia vàng
gió thổi không có bay.

(Dân ca Sông Bé, 1991, trang 218)

Thủ Dầu Một, 7-2016

Lê Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 428

Ý Kiến bạn đọc