Truyện ngắn

Về trong cỏ bụi

 

Ba mang quyển sách Những dấu hỏi xanh rêu vào phòng, lúc con gái đang soạn lại tủ sách cũ.

- Ba vừa đọc xong cuốn sách của con – Ba nói.

- Dạ, thế hả ba? Ba thấy… ổn không ba?

Tôi ngẩng đầu lên, dừng bàn tay đang lau bụi cuốn Tiến hóa luận – tập sách dày cộm tôi mua đọc hồi làm luận văn thạc sĩ.

Những dấu hỏi xanh rêu là tập truyện ngắn đầu tay tôi viết, may mắn được nhà xuất bản in theo kế hoạch A. Nhuận bút được hơn chục triệu, nhưng quan trọng là tôi hoàn thành được giấc mộng: viết sách cho ba đọc. Hồi tôi còn nhỏ, có nghe ba nói ông cũng ôm mộng viết văn, nhưng cuộc sống không cho ba viết. Năm tháng ấy ba mẹ còn phải tất bật ngoài đời kiếm tiền nuôi chị em tôi, những giấc ngủ còn nặng âu lo thì sao mà chuyên tâm ngồi vào bàn viết. Hồi ấy, tôi đã hứa rằng, lớn lên tôi sẽ thay ba viết sách. Tôi nói với tất cả sự hồn nhiên của trẻ thơ, và ba cũng tin rằng đó chỉ là sự thơ ngây của con trẻ. Bởi vì, tôi lớn lên, đi học, tốt nghiệp đại học rồi tiếp tục học lên cao học, sau đó đi làm, lấy chồng, sinh con… Những giai đoạn “phổ quát” nhất của đời người. Không có đoạn nào cho văn chương bay nhảy.

Ba ngồi xuống đầu giường, tay vuốt vuốt bìa sách. Vài hạt bụi – hình như là đất – rơi ra.

- Con gái mà viết thì sao không ổn được – Ba cười rồi lật ra trang truyện có tựa đề Bên kia dốc – Nhưng mà ông Ba trong truyện này, chỉ giống ba đoạn chèo xuồng trên sông thôi, còn lại khác quá con.

- Dạ, thì truyện mà ba, con hư cấu đó. Chứ ba làm gì mà bỏ đi biền biệt như vậy được.

Ba không thể bỏ đi biền biệt như vậy được.

Tôi bỏ cuốn Tiến hóa luận xuống, bước đến ngồi bên cạnh ba. Khuôn mặt ba không còn những vết dấu âu lo như ngày xưa nữa. Khuôn mặt thanh thản, hiền lành.

Bên kia dốc là câu chuyện tôi viết về hai người già ở một miền quê. Người vợ gặp lại chồng sau khi cả hai đã ở tuổi về chiều. Ông trở về tìm bà sau mấy mươi năm đằng đẵng, từ cái lần chèo xuồng qua sông trong một hoàng hôn lộng lẫy… Tôi miêu tả đúng hình ảnh chèo xuồng qua sông của ba để kể cảnh bỏ đi của nhân vật trong truyện. Nhưng ngoài đời, năm xưa ba chỉ là đi mua thuốc cho mẹ, ba đi nhanh rồi về nhanh. Cuộc đời của người mẹ trong truyện cũng đầy bi ai buồn bã chứ đâu phải mẹ tôi, được sống cùng ba và các con cho đến khi tóc bạc mái đầu. Tôi cũng là đứa con may mắn được đón hai ông bà về thành phố, thụ hưởng những tiện ích vật chất mà các con gầy dựng. Chỉ có không gian ký ức mãi mãi neo đậu ở chốn quê, để khi ngồi viết, mọi thứ xưa cũ lại ùa về. Như ba tôi, vẫn luôn nhắc những ngày tháng cũ.

- Ba cũng thích truyện Cổ tích về đâu, cách con viết về bà ngoại giữ những câu chuyện cổ tích xưa cho con cháu. Nhưng thích nhất là truyện Chân trời, cảm giác như con gái viết tặng riêng cho ba vậy.

- Dạ, con đã viết truyện ấy là tặng ba. Con đã viết rất nhanh, ba ạ. Ba có vui không?

- Cảm ơn con, truyện ấm áp lắm.

Ba nhìn tôi, cái nhìn tràn ngập ấm áp và yêu thương. Mà sao tôi lại chảy nước mắt. Thật ra, tôi muốn hỏi: “Ba có lạnh không?”.

So-602--Giac-mo---Huynh-Ngoc-Diep---Anh-1
Giấc mơ – acrylic – Huỳnh Ngọc Diệp.

Chân trời gần như không có hư cấu, mà hoàn toàn là chất liệu thật, tôi viết bằng tất cả những ngọt ngào, yêu thương, biết ơn. Truyện mở đầu bằng những xung đột thế hệ, giữa ba và con gái trong cuộc sống hiện đại.Khác nhau về cách quản lý thời gian, chăm sóc con cái, suy nghĩ lẫn ứng xử. Thậm chí có nhiều lúc, các con không xem bữa cơm gia đình là quan trọng, không dành thời gian ngồi nghe hết những câu chuyện của người già… Đến khi con gái nhận ra mọi điều, thì mọi thứ đã muộn. Tôi hoàn thành bản thảo Những dấu hỏi xanh rêu chỉ trong vòng 3 tháng – khoảng thời gian tôi nghĩ đó là kỷ lục đối với chính mình. Khi tập trung viết cuốn sách này, chồng tôi luôn nhắc tôi đừng thức quá khuya, sáng còn giờ lên lớp sớm. Con gái tôi – bé Phượng cũng ít quấy mẹ như trước. Có những hôm giữa chừng ngồi viết, tôi quay nhìn con, thấy bé cứ nằm ngoan ngoãn nhìn mẹ, mắt chớp mà không đòi. Như thế con bé hiểu được mẹ cần thời gian yên tĩnh như thế nào. Gần 3 tháng trời, đêm nào tôi cũng thức đến 1, 2 giờ sáng. Ngay cả khi không có đơn vị xuất bản nào nhận in, tôi cũng vẫn viết. Tôi sợ, nếu không viết thì sẽ không bao giờ nữa. Nếu không viết, những giấc ngủ cũng sẽ không bao giờ đến.

- Con dành một kệ riêng cho ba để cuốn Những dấu hỏi xanh rêu vào, đặt thêm chậu hoa bên cạnh. Nhà có sách của con gái viết, kệ sách phải khác chứ! Mà chỗ này còn bề bộn quá, thôi con nghỉ sớm đi, cũng khuya rồi.

- Dạ không sao ba, con sắp xếp một chút là xong thôi.

Ba đặt cuốn sách lên bàn làm việc, rồi quay lưng. Lúc đó, không hiểu sao tôi lại rất muốn chạy đến ôm ba, cái tấm lưng vững chãi, tôi vẫn ôm những lần yếu đuối nhất. Nhưng lúc này, có điều gì đó cứ giữ tôi lại, ngồi yên lặng nhìn theo bóng ba bước ra khỏi phòng. Kể cả câu: “Ba có thấy lạnh không ba?”, tôi cũng không kịp hỏi.

Khi tôi quay trở lại kệ sách, cuốn Tiến hóa luận đã biến mất.

*
- Sáng nay ba có hẹn sang nhà chú Hà đi thăm vườn đá. Cũng tiện đường con đi làm, ba đi cùng nhé – Ba nói sau bữa ăn sáng.

- Dạ ba – Tôi vừa nói vừa soạn tài liệu lên lớp.

- Chú Hà nói vườn đá ở Gò Môn đẹp lắm con ạ. Ba chọn coi được mẫu nào, mang về đặt trong vườn nhà mình – Ba nói tiếp.

Tôi đang lục tìm cuốn Tiến hóa luận nên cũng không nghe lời ba nói lắm. Ba còn nói gì nữa nhưng tôi không nghe, tâm trí còn mải tìm cuốn sách mang lên cho lớp. Sắp trễ giờ rồi.

Tôi gấp rút. Lúc nào tôi cũng tất bật vào những buổi sáng. Ba nói, con gái phải tập lại cách từ từ, cứ hấp tấp hối hả thì cả đời bận rộn. Tôi không giống mẹ, mẹ luôn điềm tĩnh nhẹ nhàng mà mọi việc đâu vào đó. Mẹ vừa lo bữa sáng cho cả nhà vừa chuẩn bị sẵn mấy gói trà thơm để ba mang tặng các ông bạn. Còn tôi, chỉ việc lo mỗi phần bé Phượng và bản thân, mà lúc nào cũng như bà mẹ ba con.

- Mình đi ba!

Tôi mở cửa, hối, lúc ba còn đang nhấp ngụm trà sen.

Mẹ lấy mũ bảo hiểm, xếp sẵn đôi giày cho ba rồi tiếp tục rửa chén bát. Tôi dắt chiếc xe tay gas ra khỏi cổng, đề máy.

- Bánh xe mềm rồi kìa con!

- Ôi xui xẻo thế này! Trễ giờ con mất – Tôi nhìn đồng hồ.

- Thôi con bắt grab đi đi, để ba dắt xe đi sửa cho.

- Ba giúp con nhé!

Tôi vội vàng dừng chống xe xuống. Mở điện thoại đặt grab. Ba nắn nắn bánh xe sau.

- Con cứ đi làm, ba dắt xe ra đầu đường bơm lên coi sao.

- Dạ.

Chiếc grab trờ tới, tôi vội mở cửa, bước lên, chỉ kịp nói vọng lại:

- Con đi nghe ba!

Không kịp nghe tiếng trả lời, tôi đóng cửa xe lại, lo lắng nhìn đồng hồ.

Chiều muộn trở về, chiếc xe tay gas của tôi đã được dựng ngay ngắn trong sân nhà. Nhưng trong vườn không có tảng đá mới nào được mang về.

Và nhà thì đông người hơn thường lệ.

*
- Hôm đó ba có sang nhà chú Hà không ba?

Tôi hỏi, khi bưng dĩa trái cây mời ba. Vải thiều đầu mùa – đây là loại trái cây ba thích ăn nhất.

- Ba có. Hôm đó, cũng là chú Hà đưa ba về đó.

- Vườn đá đẹp thế nào ba? Có viên đá nào vừa ý ba không?

- Đẹp lắm, ba định mang về nhà mình một mẫu đá hình con thỏ trắng. Nhưng mà chưa tiện, hôm nào con sang lấy về, chú Hà chắc vẫn để dành cho nhà mình đó, ba dặn rồi.

- Dạ, con pha trà sen cho ba nhé.

Ba gật. Khuôn mặt vẫn cứ hiền lành bao dung.

Tôi bật ấm nước nóng, lấy trà cho vào bình, chờ nước sôi, chế một ít nước cho dậy trà, đổ ra, rồi lại chế thêm đợt nước nóng mới. Đậy nắp bình trà, ủ như thế vài phút cho trà thơm, rồi mang ra bàn. Ba vẫn hay nhắc tôi pha trà như thế. Bạn bè đến chơi ba cũng thường tự tay pha trà mời. Khoảng sân trước nhà là nơi những người già trò chuyện với nhau, hôm nay tôi ngồi với ba. Cũng hiếm hoi lắm tôi mới ngồi trò chuyện cùng ba trọn buổi trà sáng. Tôi dạy 3 ca, sáng chiều tối, ngày nào về đến nhà cũng đã mệt nhoài. Chồng tôi cũng thường xuyên đi công tác. Khi bé Phượng ở trường, ngôi nhà cả ngày chỉ có ba mẹ ra vào. Cái hôm mà ba nhờ tôi chở sang nhà chú Hà là thứ sáu, mẹ dự định tối đó nấu món cari gà đãi cả nhà. Món mà ba và bé Phượng rất thích.

Nhưng tối hôm ấy, chú Hà và những người bạn trong câu lạc bộ hưu trí cũng có mặt. Tiễn ba.

*
Tôi sắp xếp xong kệ sách cũng đã muộn, vào phòng ngủ, chồng tôi và bé Phượng cũng đã ngủ ngon. Tôi giảm nhiệt độ máy lạnh rồi vào giường, nằm xuống bên cạnh con gái. Ngoài cửa sổ, trăng 16 tròn vành vạnh hắt vào phòng. Những đêm trăng sáng như vầy, ba mẹ hay ngồi ngoài vườn. Hai ông bà già thường có nhiều chuyện xưa để nói với nhau. Hình ảnh ấy tôi cũng đã viết trong truyện Đá trăm năm, in trong tập Những dấu hỏi xanh rêu.

Trở mình sang ôm Phượng, con tôi vẫn ngủ ngon. Nhưng tôi bỗng giật mình. Con còn… thở không vậy? Cả chồng tôi nữa. Sao hai ba con nằm im đến mức tim tôi đập thình thịch. Thốt nhiên, tôi giơ tay lên mũi con gái, thở phào khi nghe hơi thở con nhè nhẹ phả ra tay tôi. Tôi lại giơ tay lên mũi chồng, hơi thở anh vẫn đều đều. Tôi nằm trở lại vị trí của mình, tự nhiên ứa nước mắt. Một nỗi sợ cất tiếng trong thanh vắng, chỉ một mình tôi biết. Trằn trọc mãi không ngủ được, tôi bò dậy, sang phòng mẹ, khe khẽ mở cửa. Ánh trăng rọi vào phòng mẹ, một dáng người nằm cong cong khiến tôi khóc nhiều hơn. Nghe tiếng động, mẹ quay mặt ra:

- Chưa ngủ à con?

- Dạ, mẹ cũng chưa ngủ hả?

- Trăng sáng quá, khó ngủ. Sao vậy con?

Mẹ trở dậy, với tay kéo rèm, mở cửa sổ, nhìn tôi lo lắng. Ánh trăng rọi vào phòng bàng bạc. Tôi ngồi xuống giường, cảm giác như “trăng khó ngủ” chỉ là cái cớ của mẹ mà thôi.

- Tự nhiên con sợ quá, con vừa mới sợ bé Phượng không thở nữa.

Tôi nói, rồi không kìm được, tôi ôm mẹ, nước mắt thành tiếng nấc.

- Nói bậy nào. Không có chuyện gì đâu. Con cố ngủ đi cho khỏe. Cũng trễ rồi – Mẹ vuốt vuốt mái tóc tôi.

Lúc ấy, tôi chợt giật mình, chẳng phải là chồng tôi hay bé Phượng, mà là mẹ. Nếu mẹ không còn thở nữa, thì mẹ mới là người không được phát hiện sớm nhất trong đêm. Một người vừa cười nói với mình buổi sáng, buổi chiều đã rời xa mình mãi mãi. Mỗi khi nghĩ đến điều đó, tôi như rơi vào trạng thái mộng mị, bất an vô cùng.

- Con nhớ ba quá mẹ ơi! Con có lỗi với ba…

Nước mắt tôi chảy dài. Ánh trăng như chạm đến cõi lòng yếu đuối và ăn năn của tôi. Ánh trăng tan thành nước mắt.

Mẹ ôm tôi, như cách mẹ từng ôm đứa con gái năm nào bị phụ bạc trở về nhà. Năm đó tôi mới 22 tuổi. Nhưng nỗi đau năm đó đã bị lấp mất, chìm vào năm tháng trôi qua rất nhanh. Còn nỗi nhớ ba, tôi không biết sẽ đến bao giờ. Ba rời khỏi gia đình đã được nửa năm rồi. Vào cái ngày mà ba hẹn chú Hà đi vườn đá và rồi được đưa trở về nhà vì cơn đột qụy. Ba không còn thức dậy được nữa. Một cuộc rời đi không có sự chuẩn bị, không có lời từ biệt. Chú Hà nói ba quỵ xuống chỉ sau một cơn đau ngực, vào lúc mà ba chỉ cho chú thấy tảng đá có hình con thỏ trắng và tỏ ý muốn mua nó về đặt trong vườn nhà…

- Buổi sáng hôm ấy, giá mà con đã ngồi xuống nghe ba nói về vườn đá. Giá mà con đặt grab và đi cùng với ba một đoạn. Giá mà con đã không quá chú tâm đến việc tìm cuốn sách, rồi sợ trễ giờ. Mẹ ơi, đến cả những lời cuối cùng của ba mà con cũng đã không để tâm nghe…

Nước mắt tôi lã chã. Nỗi đau, niềm hối hận khôn nguôi mà tôi dồn nén suốt nửa năm trời, cuối cùng đã được bật ra thành lời. Khóc được có khi lại dễ chịu hơn. Tôi đã không nói với mẹ hay chồng tôi về cảm giác ân hận này. Nó là sự dày vò ăn mòn tâm thức tôi. Nó không phải là “giá mà” cho buổi sáng hôm ấy, mà là sự hối hận cho cả một quãng thời gian dài.

- Con đừng tự trách mình như thế. Không ai biết trước được điều gì cả, chính ba con cũng thế. Ở thế giới bên kia, nếu ba cũng tự trách bản thân, thì ông có lẽ cũng như con vậy, dằn vặt rằng vì sao buổi sáng đó đã không nói những lời cuối cùng… – Giọng mẹ buồn như một tiếng vọng.

Buổi sáng đó, lời cuối cùng ba nói với mẹ là: “Bà lấy cho tôi cái mũ bảo hiểm”. Với bé Phượng khi con bé thưa ông đi học: “Học ngoan giỏi nghe con”. Với tôi là: “Con cứ đi làm, ba dắt xe ra đầu đường bơm lên coi sao”. Chẳng có gì là báo trước một cuộc chia tay cả. Mà lại là một cuộc chia tay mãi mãi. Nửa năm qua, bên tay tôi lúc nào cũng văng vẳng lời ba: “Con cứ đi làm…”. Con vẫn đi làm rồi trở về nhà, nhưng ba đi bơm xe rồi ba đi biền biệt.

*
Tôi đã viết Những dấu hỏi xanh rêu bằng tất cả nỗ lực của lời hứa, của giấc mộng, của sự dày vò, cảm giác lỗi lầm và cả nỗi nhớ ba da diết. Tôi đã viết những đêm, như thể rồi sẽ có ngày cũng như ba, tôi không còn có thể thức dậy nữa. 10 quyển sách nhà xuất bản tặng tác giả khi phát hành, tôi đặt một quyển lên bàn thờ, với lời đề tặng: “Kính tặng ba! Ở một nơi nào đó, ba hãy đọc cùng con gái nhé. Nhớ và yêu thương ba của con rất nhiều!”. Một quyển tôi dành tặng mẹ, còn lại gửi tặng những người bạn trong câu lạc bộ hưu trí của ba.

Một tháng sau ngày sách phát hành, ba trở về và nói rằng ông đã đọc Những dấu hỏi xanh rêu của con gái, bìa sách còn vương vài hạt đất. Bây giờ tôi muốn trò chuyện với ba nhiều hơn, nhưng không phải lúc nào cũng có thể thấy ba bên cạnh.

“Thôi con nghỉ sớm đi” – Đó là câu ba nói đêm qua trước khi rời đi. Cũng như cách ba vẫn thường nói lúc còn sống mỗi khi thấy tôi thức soạn giáo án khuya.

Tôi tin, đó cũng không phải là lời cuối cùng của một người biết mình sẽ đi mãi mà không quay trở lại.

Bùi Tiểu Quyên
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 602

Ý Kiến bạn đọc