Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Về tính khoa học của phê bình văn học

Gặp bài “Bản chất của phê bình văn học” trong “Tuyển tập Lý luận phê bình văn học” của tác giả Lê Ngọc Trà, tôi đã đọc và thấy cần trao đổi mấy lời cùng tác giả.

Bài viết có tên hơi “bao quát”, nhưng cái nội dung cơ bản của nó chỉ là chuyện tính cách khoa học hay nghệ thuật của công việc này. Và đó chính là điều cần trao đổi vì có những quan niệm của tác giả chưa được đúng. Tuy bài viết từ 1984, hơn ba chục năm trước, nhưng vẫn được tác giả tuyển chọn in năm 2012 nên chắc quan điểm của tác giả cũng không thay đổi nhiều. Hơn nữa, quan niệm của tác giả cũng thấy có ở nhiều người làm công tác phê bình có thể là thành danh hiện nay. Vì vậy tôi thấy rất nên trao đổi.

Rất nên trả lời câu hỏi “PHÊ BÌNH VĂN HỌC LÀ GÌ?”. Chuyện đọc sách văn học, văn chương thực ra cũng chỉ là công việc giao tiếp gián tiếp giữa người viết và người đọc. Khi người viết đưa một tác phẩm văn học đến, người đọc tất nhiên sẽ có những cảm nhận, những nhận xét khi đọc xong. Họ có thể nói miệng, có thể viết một ít dòng khen chê, có thể góp ý cùng tác giả chỗ này chỗ kia. Đó là gì, nếu không phải là “phê bình”?

Tất nhiên khi xã hội phát triển, sự phân công sâu sẽ tạo ra một đội ngũ chuyên nghiệp làm cái công việc đó. Họ được trang bị lý luận văn học, được trang bị hiểu biết về lịch sử văn học. Và với điều kiện đọc nhiều đọc rộng các tác phẩm văn học và cả các sản phẩm phê bình của người khác, họ tích lũy được kinh nghiệm. Những lời phê bình của họ nhờ thế có chất lượng hơn những người không chuyên, đặc biệt là ở những người có vốn sống phong phú, có trình độ nhận thức, thưởng thức, thẩm bình tinh tế không chỉ ở lĩnh vực văn chương, chất lượng phê bình của họ càng có giá trị.

Bang-tuong-niem-Mikhail-Bakhtin
Bảng tưởng niệm Mikhail Bakhtin – nhà phê bình văn học Nga – Ảnh: wikipedia.org

Tất nhiên vấn đề đặt ra với những người làm phê bình chuyên nghiệp là sản phẩm phê bình họ đưa ra phải có chất lượng. Cái chất lượng được quan tâm đầu tiên thường được quan niệm là có giá trị khoa học. Nhưng chính hai chữ “khoa học” này lại bị nhiều người hiểu lầm. Ngay như ở tác giả Lê Ngọc Trà, ta thấy cũng có lời giải thích không đúng. Ông viết: “Khoa học theo nghĩa rộng tức là tính chất có hệ thống, lô-gích của luận điểm, của sự trình bày, của cách xem xét hay khoa học theo nghĩa hẹp tức là một ngành có nhiệm vụ nghiên cứu, khảo sát, hệ thống hóa, rút ra các qui luật hình thành nên những khái niệm cơ bản về một sự việc, hiện tượng”. Nói là không đúng vì, như Biêlinxki nói, “phê bình là mỹ học vận động”. Câu đó tôi hiểu theo nghĩa “phê bình là sự vận dụng, ứng dụng của mỹ học vào công việc phân tích đánh giá tác phẩm văn học”. Đó là thứ “khoa học ứng dụng” của mỹ học, lý luận văn học. Giá trị khoa học ở một bài phê bình là ở sự vận dụng đúng cách các kiến thức khoa học ở mỹ học, ở lý luận văn học để đưa ra các nhận định khen chê. Tất nhiên sự chính xác của lời khen chê phải có căn cứ. Cái “có căn cứ” của lời khen chê chính là mỗi nhận định khen chê được nêu ra đều có các căn cứ phù hợp với nhiều tiêu chuẩn mà số đông người đọc (cả các nhà phê bình chuyên nghiệp) chấp nhận. Những tiêu chuẩn này tất nhiên đã được các nhà lý luận, nghiên cứu văn học đưa ra nhưng không phải chỉ là những “hệ thống lý luận” của riêng một nhà nào, mốt trường phái nào mà là những lý luận khoa học cơ bản của các ngành khoa học vừa nói đồng thời bao gồm cả những “cảm nhận thông thường” với những câu hỏi cũng thông thường người ta đã được học ở nhà trường phổ thông cũng tức là phù hợp với cái lương tri của mọi người (Đặng Thai Mai dịch chữ “bon sens”). Bởi vì các lý thuyết của các trường phái này nọ ngày càng nở rộ ở trời Tây chưa phải là đã được mọi người coi là đúng. Mà trái lại, các lý thuyết này, thường tạo ra những trận chiến loạn xạ mà chính các nhà nghiên cứu ở đó như Antoine Compagnon cũng phải kêu. Điều đó không lạ. Bởi vì giao tiếp văn chương là thứ giao tiếp nghệ thuật thực nhưng dù là giao tiếp nghệ thuật thì cái cơ bản vẫn không quá khác biệt với giao tiếp đời thường, những vấn đề của nó cũng bắt rễ từ những hiện tượng giao tiếp đời thường. Trong giao tiếp đời thường sự tiếp nhận ngôn ngữ của nhau cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Từ cái đối tượng được nói đến, từ cái ý nghĩa biểu cảm, kêu gọi của người nói đến những lời giải thích từ ngữ khó, những lời kiểm tra sự chú ý của người nghe và cả đến các yếu tố làm đẹp lời gọi là “chất thơ” nữa. Ngoài ra lại còn phải căn cứ vào quan hệ hai bên, vào hoàn cảnh nói năng, cách nói năng để tiếp nhận được các ý ẩn gọi là “hàm ngôn” mà người thường cũng biết đến với những tên gọi như “nói xa nói gần”, “nói móc, nói mỉa”… Thế thì trong hoàn cảnh giao tiếp gián tiếp với người viết là người có điều kiện trau chuốt ngôn ngữ, người ta càng phải để công phân tích rất nhiều điều trong các mối quan hệ với tác phẩm. Mỗi nhà lý thuyết, mỗi trường phái lại chỉ có thể đi sâu vào một mặt nào đó nên ông nọ có thể khác ông kia! Và để củng cố vị trí trong giới khoa học, họ có cãi nhau nảy lửa thì cũng là chuyện không có gì khó hiểu! Thế thì việc ông Lê Ngọc Trà đòi “Nếu phê bình là khoa học thì nó phải triệt để tuân theo nguyên tắc khách quan là yêu cầu bắt buộc với mọi khoa học, chứ sao lại có quyền mang đậm màu sắc chủ quan như thường vẫn thấy?” là điều khó đồng tình. Nó không đúng với qui luật tiếp nhận cả ngôn ngữ đời thường lẫn ngôn ngữ nghệ thuật.

Trong chuyện “tính khoa học” của phê bình văn học ta còn phải nói đến nhiều điều còn ngộ nhận ở một số người. Ông Lê Ngọc Trà viết: “Khi viết về một tác phẩm, nếu nhà phê bình chỉ phân tích theo kiểu nhà trường, chỉ khám phá hiệu quả thẩm mỹ, thu góp ngôn ngữ và kỹ thuật xây dựng hình tượng trong tác phẩm, thì đó chính là đã tự tước bỏ mất một trong những sức mạnh quan trọng nhất của bài phê bình – sức mạnh tư tưởng-xã hội của nó”. Viết như thế là không chú ý đến các tiểu loại của phê bình và mục đích của người viết. Có nhiều loại bài phê bình, có loại chỉ phân tích cái hay cái đẹp trong nội dung, hình thức của một tác phẩm, thậm chí chỉ phân tích một yếu tố đặc sắc nào đó của nó, nếu viết hay cũng rất quí. Nó giúp người đọc hiểu sâu hơn, cảm nhận tinh tế hơn giá trị của tác phẩm. Nó không đặt ra yêu cầu khái quát những vấn đề xã hội – tư tưởng ở tác phẩm thì sao lại đòi hỏi nó phải làm vì việc đó không nhất thiết phải làm ở thể loại phê bình này! Cũng như vậy, không nên đánh giá các bài phê bình nhất loạt bằng tiêu chuẩn “giá trị trường tồn” của lời khen chê, kiểu “hôm nay được khen ngày mai vẫn có giá trị”! Thực tế văn chương thế giới rất hiếm những tác phẩm như vậy, và biết thế thì mấy ai còn dám viết phê bình!

Chúng tôi muốn nói đôi điều về giá trị nghệ thuật của bài phê bình. Ta đã biết người viết phê bình là độc giả bậc cao với nhiều phẩm chất cần và có ở họ. Tuy nhiên, người ta đã nói mỗi người đều có thể làm giỏi một công việc nào đó hơn cả vạn người khác. Đồng thời người ta cũng nói “nhân vô thập toàn”. Trong những người làm phê bình có người mạnh về tư duy lý tính, người mạnh về tư duy hình tượng, người có khả năng cảm nhận nghệ thuật ngôn từ tinh tế, nhưng có người mạnh về năng lực khái quát hóa… Thế thì cái gọi là “giá trị nghệ thuật” của bài phê bình nên được quan niệm thông thoáng hơn. Tất nhiên có vấn đề sở thích cá nhân. Người ta có thể thích kiểu phê bình của Thánh Thán, của Xuân Diệu, nhưng cũng nên trân trọng những bài viết có tính cách lý luận nghiên cứu phê bình về cả một khuynh hướng, một giai đoạn… Về phong cách phê bình, tưởng cũng không nên chỉ đề cao thứ phê bình dựa vào các lý thuyết “khoa học” tân kỳ nào đó mà dè bỉu những phong cách phê bình bị chê là “ấn tượng chủ nghĩa” hay “phê bình cổ điển” đối lập với “phê bình hiện đại” với những tiêu chí hàm ý dè bỉu loại phê bình không hiện đại như mình. Đó là nói về phong cách phê bình. Cũng nên nói về phong cách ngôn ngữ. Phê bình văn học dù gì cũng gắn với nghệ thuật ngôn ngữ. Rất nên chú ý vận dụng một thứ “ngôn ngữ có văn” tức là thứ ngôn ngữ giàu chất biểu cảm, có sử dụng đúng mức nhiều biện pháp tu từ như các từ ngữ chính xác, các so sánh, ẩn dụ, các “song trùng cấu trúc” mà Roman Jakovson nêu ra trong nguyên lý về “chất thơ” trong ngôn ngữ. Tất nhiên chúng ta cũng không bài bác cái phong cách ngôn ngữ “hàn lâm” nhưng nên nhớ thời đại ngày nay đang đòi hỏi đại chúng hóa khoa học mà thứ ngôn ngữ hàn lâm thì chính người làm lý luận phê bình chuyên nghiệp ở Pháp là Antoine Compagnon cũng phải kêu vì thứ ngôn ngữ “làm cho bạn đọc phát hoảng vì một loại từ vựng rắc rối, vì những từ ngữ mới tạo ra, và một thứ tiếng lóng trừu tượng!”.

Vấn đề đặt ra cho người phê bình là vấn đề chất lượng sản phẩm, giá trị đóng góp vào nền phê bình lý luận nói chung. Đề cao điều đó vì người phê bình có vai trò là cầu nối với cả hai phía người đọc, người viết. Bài viết phê bình phải làm sao giúp người đọc hiểu được cái hay cái đẹp ở tác phẩm họ đọc, soi sáng những “cảm nhận thông thường” họ có được trước đó mà nói như Đặng Thai Mai “Có hiểu là hay, sự thưởng thức mới có nghĩa lý và có tác dụng”. Đồng thời giúp họ có được các hiểu biết cần thiết về nghệ thuật ngôn từ, về các tác phẩm, tác giả lớn trong ngoài nước. Và nói như Antoine Compagnon: nó “thức tỉnh đầu óc tỉnh táo của độc giả, khiến họ băn khoăn về những điều họ đã xác định, lay chuyển sự hồn nhiên hoặc ngây dại của họ, khiến họ khỏi ngây ngô bằng cách trao cho họ những ý niệm sơ đẳng của một ý thức lý luận văn học”. Với người viết, người phê bình giúp họ biết được phản ứng của người đọc với tác phẩm của mình, giúp họ khẳng định những ưu khuyết của mình và có thể còn được nâng cao những điều lý luận văn học đã tổng kết từ các thành bại của các tiền bối. Vai trò đó cố nhiên chỉ thực hiện được khi nhà phê bình có bản lĩnh lý luận đồng thời có hiểu biết thực tiễn sáng tác. Vì nhiều người phê bình cứ vận dụng những lý thuyết sách vở nhiều khi sao chép vội vàng đem ra áp dụng bừa bãi đã tạo ra nhiều vụ “cơm chẳng lành, canh chẳng ngon” giữa các nhà văn với mấy nhà phê bình non tay kiểu ấy.

Cuối cùng nói về phê bình văn học, không thể không nói đến sự “thồ”, “tải” những món lý thuyết nhiều khi chẳng mới mẻ gì mà nhiều khi mình hiểu không đến đầu đến đũa chỉ cốt “chứng tỏ” mình và mong giành được những chỗ ngồi có giá ở những cái chiếu trong giới trải ra. Càng nên phê phán hiện tượng mượn danh vận dụng lý thuyết này, sách của đại gia kia để làm những việc mà động cơ xấu về chính trị – xã hội không khó thấy. Đó là chưa kể có những người bị tâng bốc quá đáng có thể đã nhiễm virút “bệnh vĩ cuồng”. Họ tưởng mình là ngọn núi (lửa) lúc nào cũng muốn phun trào các ý tưởng, ngay cả lúc yên bình vẫn nghi ngút các ý tưởng luôn náo nức “những suy nghĩ, những dự định” rồi thoải mái lao vào những đề tài này đề tài nọ. Tuy nhiên, khi tìm hiểu những “ý tưởng nghi ngút”, những “luận điểm”, những “quan điểm”, những “sản phẩm phun trào” ấy nhiều khi ta đã đi từ ngạc nhiên này đến những ngạc nhiên khác!

Không phải là người làm công tác phê bình chuyên nghiệp, nhưng cũng có theo dõi tình hình phê bình lý luận văn học trong tư cách là người đọc không muốn cứ “hồn nhiên”, “ngây dại”, ngây ngô” như A. Compagnon nói, thấy đôi điều có thể nêu ra xin được nêu ra. Có điều gì không đúng mong các nhà phê bình chuyên nghiệp chỉ giáo.

Lê Dân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 394

Ý Kiến bạn đọc