Ngoài nước

Về thập kỷ diệt chủng ở Campuchia

Bài 1 : 30 năm, diệt chủng Campuchia và hậu quả của nó được ghi nhớ

 

Máy bay bay thấp, dọc theo sông Mê Kông phía tây Việt Nam. Khi qua Campuchia, những gì trông thấy đã làm câm lặng tất cả mọi người trên máy bay. Mặt đất dường như không có ai, không có bất cứ sự di chuyển nào, thậm chí không có một con vật nào, như thể dân số đông đảo của châu Á đã dừng lại hết ở biên giới.

Cả làng vắng tanh. Ghế và giường, chậu và chiếu vương vãi trên đường, một chiếc ô tô nằm nghiêng, một chiếc xe đạp cong vênh. Đằng sau những đường dây điện đứt rơi xuống hình như có một bóng người, nhưng nó không di chuyển. Từ cánh đồng, những hàng cỏ cao rậm chạy lấn ra đường theo những đường thẳng. Ám ảnh bởi hàng ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em, trong những ngôi mộ chung được đánh dấu trong một quốc gia nơi có tới 2 triệu người, hoặc một phần ba dân số, “mất tích”.

Trong cuộc giải phóng trại tử thần của Đức Quốc xã ở Belsen năm 1945, phóng viên tờ Thời báo đã viết: “Nhiệm vụ của tôi là mô tả một cái gì đó ngoài sức tưởng tượng của nhân loại”. Đó cũng là cảm giác của tôi vào năm 1979 khi tôi vào Campuchia như mô tả ở trên, một đất nước bị cách ly với thế giới bên ngoài trong gần 4 năm kể từ “Năm số Không”.

Năm Zero đã bắt đầu ngay sau khi mặt trời mọc vào ngày 17/4/1975 khi quân Khmer Đỏ của Pol Pot tiến vào thủ đô Phnom Penh. Họ mặc đồ đen và diễu hành trong từng khối dọc theo đại lộ rộng. Sau một giờ, họ ra lệnh loại bỏ thành phố. Những người bệnh và bị thương đã bị bắn trên giường bệnh viện của họ, các gia đình ly tán, người già và tàn tật ngã bên đường. “Đừng mang theo bất cứ thứ gì”, những người đàn ông mặc đồ đen ra lệnh, “các người sẽ trở lại vào ngày mai”.

So-556--Anh-minh-hoa---Ve-thap-ky-diet-chung-cua-Campuchia
Một hố chôn người tập thể được khai quật ở Campuchia sau ngày giải phóng 7/1/1979.

Ngày mai đó đã không bao giờ đến. Một thời đại nô lệ bắt đầu. Bất cứ ai sở hữu ô tô và những thứ “xa xỉ” như vậy, bất kỳ ai sống trong thành phố hay thị trấn hoặc có kỹ năng hiện đại, bất kỳ ai biết hoặc làm việc với người nước ngoài đều gặp nguy hiểm nghiêm trọng, một số đã bị kết án tử hình. Đoàn nghệ thuật ba lê Hoàng gia Campuchia gồm 500 vũ công, chỉ có 30 người sống sót. Bác sĩ, y tá, kỹ sư, giáo viên bị bỏ đói, hoặc phải làm việc đến chết, hoặc bị sát hại.

Tôi bước vào không gian im lặng, ẩm ướt, xám xịt của Phnom Penh giống như đi vào một thành phố có diện tích như Manchester sau một thảm họa hạt nhân, chỉ còn lại các tòa nhà. Không có điện, không có nước uống, không có cửa hàng, không có bất kỳ dịch vụ nào. Tại các ga xe lửa, các toa tàu rải rác trên đường ray, đồ đạc cá nhân và những mảnh quần áo bay phấp phới trên bục, nhiều khi chúng tung bay trên những ngôi mộ tập thể bên kia đường.

Tôi đi dọc theo Đại lộ Monivong đến Thư viện Quốc gia đã được chuyển đổi thành các chuồng lợn, như một biểu tượng, tất cả các cuốn sách của nó bị đốt cháy. Cảnh tượng giống như trong một cơn ác mộng. Nơi nhà thờ Công giáo La Mã từng hiện diện đã trở thành đất hoang, kiến trúc bằng đá đã bị tháo dỡ. Khi những luồng gió mùa trước cơn mưa buổi chiều thổi đến, những con đường vắng vẻ đột nhiên ngập tràn tiền bạc. Trong những trận mưa như trút, vô số tiền giấy mới chưa sử dụng đã bị cuốn ra khỏi Ngân hàng Campuchia, nơi mà Khmer Đỏ đã cho nổ tung khi họ tháo chạy trước sức tấn công của quân tình nguyện Việt Nam.

Bên trong, một cuốn séc đang mở nằm trên quầy, một cặp kính mở gọng đặt trên cuốn sổ cái. Tôi trượt và ngã trên sàn nhà trơn tuột vì phủ toàn tiền.

Trong vài giờ đầu tiên, tôi không biết gì về phần còn lại của dân số Campuchia. Một vài hình dạng con người tôi nhìn thấy thoáng qua có vẻ như những bóng ma, và khi bắt gặp tôi, sẽ lẩn ngay vào một ô cửa. Một đứa trẻ chạy vào tủ quần áo nằm nghiêng, đó là nơi ẩn náu của nó. Trong một trạm xăng Esso đổ nát, một bà già và 3 đứa trẻ nít ngồi xổm quanh một cái chậu chứa hỗn hợp rễ và lá, sủi bọt trên ngọn lửa đốt bằng tiền giấy, thật trớ trêu: mọi người cần mọi thứ đều có tiền để đốt.

Tại một trường tiểu học tên là Tuol Sleng, tôi đi bộ qua nơi đã trở thành “trung tâm thẩm vấn” và “đơn vị tra tấn và tàn sát”. Bên dưới giường sắt tôi thấy máu và những mảng tóc da đầu vẫn còn trên sàn. “Tuyệt đối cấm nói”, một bảng thông báo viết như thế, “Trước khi làm một cái gì đó, bất cứ điều gì, phải có sự cho phép của giám thị”. Sau một thời gian, đã có một sự thay đổi khủng khiếp: ngày và đêm như một. Không có sữa và thuốc, trẻ em bị mắc những bệnh có thể phòng ngừa được như bệnh kiết lỵ. Các khảo sát đầu tiên cho thấy nhiều phụ nữ trong tuổi sinh đẻ đã ngừng kinh nguyệt.

Điều phức tạp hơn là sự cô lập mà phương Tây thực hiện đối với Campuchia là vì những người giải phóng, người Việt Nam, đã đến từ phía bên kia của chiến tranh lạnh, họ đã đuổi Mỹ ra khỏi đất nước mình vào năm 1975. Campuchia là một bí mật bẩn thỉu của phương Tây kể từ khi Tổng thống Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger đã ra lệnh “ném bom bí mật”, đưa cuộc chiến ở Việt Nam vào Campuchia từ đầu những năm 1970, giết chết hàng trăm ngàn nông dân. “Nếu điều này mà không hiệu quả”, một phụ tá đã nghe Nixon nói với Kissinger, “thì sau đó sẽ là mông của ông, Henry”. Các cuộc ném bom đã thành công trong việc trao cho Pol Pot cơ hội của mình để giành lấy quyền lực.

Trong các lần tôi quay lại sau đó, không có viện trợ phương Tây nào đến được Campuchia. Bộ Ngoại giao ở London đã nói dối rằng người Việt Nam đang cản trở viện trợ. Vào tháng 9/1979, một máy bay phản lực DC-8 đã cất cánh từ Luxembourg, chứa đủ penicillin, vitamin và sữa để phục hồi cho khoảng 70.000 trẻ em – tất cả đều được quyên góp bởi những độc giả của Daily Mirror.

Tiếp nối từ Mirror, vào ngày 30/10/1979, ITV đã phát sóng bộ phim “Năm số không: cái chết thầm lặng của Campuchia”, bộ phim tài liệu tôi làm cùng với người bạn quá cố David Munro. Ngay sau đó 40 bao tải bưu điện đã được đến các xưởng phim ATV ở Birmingham, với 1 triệu bảng trong vài ngày đầu tiên. “Đây là cho Campuchia”, một tài xế xe buýt vô danh ở Bristol viết, kèm theo tiền lương trong tuần của anh ta. Một người phụ nữ lớn tuổi đã gửi lương hưu trong hai tháng. Một phụ huynh độc thân đã gửi khoản tiết kiệm của mình là 50 bảng. Mọi người bày tỏ rằng ý thức vì cộng đồng vốn là cốt lõi của xã hội Anh. Dù không được yêu cầu, họ đã quyên góp tổng cộng hơn 20 triệu bảng. Điều này đã giúp giải cứu cuộc sống bình thường ở một đất nước xa xôi. Nó đã khôi phục nguồn cung cấp nước sạch ở Phnom Penh, các bệnh viện và trường học, các trại trẻ mồ côi được hỗ trợ và mở lại một nhà máy sản xuất quần áo rất cần thiết.

Một cuộc ủng hộ công khai phi thường như vậy đã phá vỡ sự phong tỏa Campuchia của chính phủ Hoa Kỳ và Anh. Thật đáng kinh ngạc, chính phủ Thatcher đã tiếp tục ủng hộ chế độ Pol Pot không còn tồn tại tiếp tục giữ ghế ở Liên Hợp Quốc và thậm chí còn gửi đặc nhiệm SAS để huấn luyện quân đội lưu vong của nó trong các trại ở Thái Lan và Malaysia. Tháng 3 năm ngoái, cựu sỹ quan của SAS, Chris Ryan, hiện đang là một tác giả bán chạy nhất, đã than thở trong một cuộc phỏng vấn trên báo “khi John Pilger phát hiện ra chúng tôi đang huấn luyện cho Khmer Đỏ ở Viễn Đông, chúng tôi đã bị gửi về nhà và tôi đã phải trả lại 10.000 bảng được cấp”.

Hôm nay, Pol Pot đã chết và một số tay sai cao tuổi của ông ta đang bị xét xử tại tòa án của Liên Hợp Quốc/Campuchia vì tội ác chống lại loài người. Henry Kissinger, người đã ném bom mở ra cánh cửa cho cơn ác mộng của Năm số Không, vẫn còn sống. Người Campuchia vẫn nghèo tuyệt vọng, sống phụ thuộc vào những chuyến du lịch của người nước ngoài và lao động mồ hôi cực nhọc của họ.

Đối với tôi, khả năng phục hồi của Campuchia vẫn gần như kỳ diệu. Trong những năm sau khi họ được giải phóng, tôi chưa bao giờ thấy nhiều đám cưới hay nhận được nhiều lời mời đám cưới như vậy. Họ trở thành biểu tượng của cuộc sống và hy vọng. Chưa hết, chỉ có ở Campuchia, một đứa trẻ mới biết hỏi một người lớn, như một đứa trẻ 12 tuổi đã hỏi tôi, với nỗi sợ hãi thể hiện trên nét mặt: “Ông có phải là bạn bè không? Làm ơn hãy trả lời!”.

26/10/2009

John Pilger (nhà báo Úc)
Ngô Mạnh Hùng (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 556

Ý Kiến bạn đọc