Trong nước

Về “R”

Trong chuyến đi thực tế lần 2, Đoàn văn nghệ sĩ – những tác giả tham gia Trại sáng tác Văn học – nghệ thuật viết về chủ đề kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mùa xuân Mậu Thân – 1968 do Liên hiệp các Hội Văn học – nghệ thuật TP.HCM tổ chức, đã về với “R”, theo tên gọi quen thuộc của Di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam ở về phía Bắc tỉnh Tây Ninh, sát biên giới Việt Nam – Campuchia, trong những ngày cuối tháng 4, do nhạc sĩ Trần Long Ẩn, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học – nghệ thuật làm trưởng đoàn.

Đoàn đi còn có hai khách mời, hai người từng có mặt trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, từ những năm 60 đến sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Đó là họa sĩ Trang Phượng và nhà thơ – họa sĩ Nguyễn Chí Hiếu. Thành viên trại sáng tác còn có hai “nhân chứng lịch sử” là NSƯT Phi Yến và nhà văn Mai Bá Chính (bút danh Đồng Đen). 

Truoc-Bia-luu-niem-Ban-Tuyen-giao-Trung-uong-Cuc-mien-Nam
Trước Bia lưu niệm Ban Tuyên giáo Trung ương Cục miền Nam.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, miền Đông Nam bộ nói chung và Tây Ninh nói riêng là địa bàn chiến lược quan trọng. Khu căn cứ địa Bắc Tây Ninh là địa bàn của cơ quan đầu não cách mạng miền Nam trong một thời gian dài và trực tiếp chỉ đạo, lãnh đạo cách mạng miền Nam.

Căn cứ Trung ương Cục di chuyển nhiều lần, có khi phải qua đất bạn Campuchia, nhưng trụ lại lâu nhất vẫn là khu rừng Chàng Riệc, Rùm Đuôn chỉ cách thị xã Tây Ninh theo đường bộ trên dưới 60km.

Khu di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam gồm 3 phân khu: Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Căn cứ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Khu căn cứ được xây dựng tại giữa rừng nguyên sinh. Hệ thống nhà ở và phòng làm việc trong căn cứ nổi trên mặt đất, toàn bộ cột, kèo, đòn tay đều làm bằng gỗ, mái được lợp bằng lá trung quân. Các hầm trú ẩn thường làm kế cận nhà ở và làm việc, chìm vào lòng đất. Con đường len lỏi dưới các tàng cây che phủ nối liền hệ thống nhà ở và nơi làm việc, đã phủ lớp rêu xanh loang loáng dưới nắng vàng trong tiếng chim ríu ran.

Anh chị em đi chầm chậm theo con đường mòn đến nhà những đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước: Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Phan Văn Đáng, Võ Văn Kiệt… rồi nhà bảo vệ, nhà bếp Hoàng Cầm. Ai cũng ngẩn ngơ trước những mái nhà lợp bằng lá trung quân, những cái hầm chữ A cùng với những đường hào lượn khúc khuỷu từ nhà này sang nhà khác, lượn vòng quanh căn cứ.

Tôi đã một lần đến tham quan Khu di tích lịch sử Trung ương Cục miền Nam. Lần này được đi cùng những anh chị từng có những năm tháng sống, làm việc và chiến đấu tại cánh rừng này, vùng đất này, không chỉ riêng tôi mà dường như mỗi thành viên trong đoàn đều xúc động khi đặt chân lên nơi chốn mà biết bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc, trong số đó có nhiều văn nghệ sĩ đã gởi lại bước chân, gởi lại tuổi trẻ, gởi lại tác phẩm và gởi lại xương máu, cũng ở nơi này.

Canh-Bia-luu-niem-Phong-hoi-hoa-Giai-phong-mien-Nam
Cạnh Bia lưu niệm Phòng hội họa Giải phóng miền Nam 1963-1975. 

Cảnh cũ thay đổi, người xưa cũng không còn nhưng với họa sĩ Trang Phượng dường như ký ức về những năm tháng mà ông gắn bó với đồng chí đồng nghiệp với cánh rừng vẫn còn vẹn nguyên. Ông nhớ từng chi tiết. Nhớ cây xoài cổ thụ bên đường đi Lò Gò, nhớ Suối Cây, nhớ chỗ dừng chân trước khi vượt trảng Tà Xía, nhớ nơi từng là “lãnh địa” của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam. Ông nhắc lại nhiều kỷ niệm với các họa sĩ Cổ Tấn Long Châu, Lê Lam, Huỳnh Phương Đông, Lê Hoàng Anh và với nhà văn Lê Văn Thảo, nhà quay phim Phạm Khắc… Họa sĩ Trang Phượng vẫn không nén được cảm xúc khi nói về họa sĩ – liệt sĩ Lê Hoàng Anh, người gần như trút hơi thở cuối trên cánh tay ông trong một trận chống càn. Ông rưng rưng nói: “49 năm rồi tôi vẫn nhớ, đôi lúc nhớ quay quắt. Tôi nhớ cái miệng bị trúng đạn và đôi mắt không nhắm của họa sĩ Lê Hoàng Anh, nhớ nụ cười rạng rỡ của nhà thơ Lê Anh Xuân, nhớ tiếng cười giòn tan của nhà phê bình văn học Hồng Tân…”.

Nghệ sĩ Ưu tú Phi Yến đôi mắt ngấn lệ đi đặt chân về chốn cũ. Tiếng chim rừng, mái nhà bằng lá trung quân, rồi cây bứa, cây kơ-nia… quen thuộc. Gương mặt thân thương, kẻ còn người mất như níu bước chân chị. Khi con suối Cây, con suối nép mình dưới bóng cây cao, thân rễ xù xì; chị chạy ào xuống bờ suối, nhìn ngắm, ngẩn ngơ. Nơi bờ suối này, dòng suối này chị cùng với chị em Đoàn Văn công Giải phóng từng ngụp lặn tắm mát. Cánh nữ của các cơ quan R cũng tắm táp tại con suối này. Con suối còn được gọi tên là suối Tiên Cô hay suối Cô Tiên Quân Giải phóng. Con suối mà theo di cảo – hồi ký “Ở R” của nhà văn Lê Văn Thảo, là mùa mưa, nước chảy ầm ào tung bọt trắng xóa qua những tảng đá lô nhô giữa dòng và “mấy năm trời chúng tôi sống nhờ con suối ấy, tai họa cũng từ đó. Con suối là chỗ máy bay địch dễ định vị và là đích dễ dàng cho bom B52”. Năm 1966, đợt B52 đầu tiên trút xuống bờ suối đã lấy đi tính mạng của soạn giả Trần Hữu Trang, sau đó thêm 4 nghệ sĩ sân khấu tài danh bị vùi xác. Chị Phi Yến mắt đỏ hoe khi kể lại cái chết nghiệt ngã của người bạn cùng Đoàn Văn công Giải phóng, chị Huỳnh Kim Hoàng (Hoàng Điệp), hy sinh lúc chưa tròn 18 tuổi. Hồi nhớ bao kỷ niệm với đồng nghiệp, đồng chí ở cánh rừng này, chị Phi Yến quyết định sẽ đặt mua lá trung quân về lợp ngôi nhà của mình tại An Phú Đông, quận 12, nơi chị xây bia “Nghệ sĩ và chiến sĩ Văn công giải phóng đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ và mất sau chiến tranh” mà nhiều năm nay, đến ngày 27 tháng 7 âm lịch, NSƯT Phi Yến tổ chức ngày giỗ thật chu đáo và ấm áp.

Điểm đến khiến tất cả các thành viên đoàn đi cùng xúc động là đứng trước tấm bia khắc tên các liệt sĩ từng làm việc ở Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam. Trên tấm bia bằng đá màu đen hiện lên tên tuổi nhiều nghệ sĩ tài danh: Trần Hữu Trang, Nguyễn Ngọc Cung, Lê Chí Trực (nhạc sĩ Hoàng Việt), Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân), Nguyễn Thanh Nha… Cũng trên tấm bia đó, Điện ảnh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng, Xí nghiệp in Giải phóng là 3 ngành có danh sách liệt sĩ kéo dài.

R, không chỉ là địa chỉ đỏ Cách mạng, mà còn là nơi chốn mà nhiều văn nghệ sĩ đã tận trung tận hiến cho sự nghiệp Cách mạng bằng tác phẩm văn học – nghệ thuật và bằng cả máu xương.

Bài, ảnh: Trịnh Bích
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 451

Ý Kiến bạn đọc