Một góc làng quê

Về quê nghe kể chuyện Truông

Truông là cách gọi chung của những vùng đất rộng, rậm rạp, cây cối um tùm. Truông quê tôi tên gọi là Truông Nước, nhưng người ta thường gọi thân thuộc là Truông. Bây giờ, vùng đất này thay đổi nhiều lắm, không còn hoang vu, rậm rạp như ngày trước nữa. Thuở còn nhỏ, bên ánh đèn dầu bập bùng những tối tôi vẫn hay nghe ông bà mình kể chuyện Truông

Hòn Kẽm Đá Dừng - Quảng Nam Nguồn: www.ngaodusonthuy.com

Hòn Kẽm Đá Dừng – Quảng Nam
Nguồn: www.ngaodusonthuy.com

Quê tôi thuộc vùng Tây của tỉnh Quảng Nam. Địa hình núi non chập chùng, thượng nguồn của dòng Thu Bồn hùng vĩ, sừng sững với Hòn Kẽm Đá Dừng núi dựng. Chia cắt bởi núi, bởi sông, bởi đèo nên việc đi lại ngày ấy khó khăn lắm. Quanh năm chỉ biết có lúa, có ngô, cá dưới khe dưới suối và thú ở trên rừng. Ông nội kể, ngày xưa để mang được hàng từ xuôi lên người ta chỉ còn cách chèo ghe ngược dòng Thu Bồn. Mà hàng hóa ngày ấy cũng chỉ là muối, mắm cái, những vật dụng cần thiết. Mừng biết bao khi trên những chuyến ghe ngược ấy người ta mang theo cá biển. Mà nhiều nhất là những con cá chuồn. Ông nội chặc lưỡi, mà mít non kho với cá chuồn quê mình nức tiếng xa gần đó con :
“Ai về nhắn với nậu nguồn Mít non gửi xuống,
cá chuồn gửi lên Mít non kho với cá chuồn Người dân xứ Quảng
có buồn cũng vui”
Rồi những chuyến ghe lại xuôi dòng Thu Bồn về xuôi. Chở theo biết bao là mít, chuối, thơm, những sản vật của vùng cao này.
Chính vì địa hình cách trở như thế mà Truông ngày xưa mang đầy nét rậm rạp và hoang sơ. Truông lại nằm dưới chân núi Chúa sừng sững nên thú dữ trên rừng xuống Truông kiếm ăn là chuyện thường. Ông nội kể, ngày xưa beo, cọp, heo rừng, nai nhiều vô kể.
Thú dữ còn lân la đi kiếm ăn cả ngoài bìa rừng, nơi những ô ruộng nhỏ xíu, kề chân núi của quê mình. Ngày ấy, người ta vừa làm đồng vừa canh chừng cọp.
Hễ thấy cái bóng vàng nhấp nhô là ù té chạy.Ông nội kể, hồi ông nội còn nhỏ cứ chiều xuống là nhà nhà lo ăn cơm sớm, đóng cửa, tắt đèn. Đêm xuống cọp đi quanh nhà, thở phì phò. Nhà hồi ấy phên dậu toàn bằng tre đan lại trát cứt
trâu, lại lủng lỗ chỗ chứ có kiên cố như bây giờ. Mọi người cứ nín thở trong nhà, nghe hổ gầm gừ quanh nhà, chỉ thở phào khi nó bỏ đi. Sáng sáng, mọi người lại chỉ trỏ nhau những dấu chân hổ to tướng bằng cái chén ăn cơm Sợ thì sợ nhưng người dân vẫn bám vào Truông mà sống. Ngày ngày họ vẫn lên Truông chặt củi, bắt cá, cắt cỏ, hái rau. Ông bà tôi kể, ngày ấy đâu có ai dám đi sâu vào Truông. Phần cây cối um tùm rậm rạp đi sâu vào ấy không tìm được lối ra. Phần sợ thú dữ trên rừng, nên chỉ đi mé bên ngoài, và nếu có đi săn phải đi thành đám. Thế nhưng, làng quê thanh bình ngày ấy vẫn có người chết, người bị thương vì gấu cào mặt, rắn hổ cắn chết. Trâu bò vẫn bị hổ tha vào rừng. Cứ mùng 7 tháng giêng âm lịch, các vị cao niên lại bày lễ vật cúng Truông. Họ bày heo, bày gà dâng lễ vật cho thần linh. Họ tạ ơn vì một năm Sơn thần đã cho họ sản vật và cũng cầu xin cho dân làng tránh khỏi sự quấy phá của cọp, beo. Ông nội tôi nói không biết lễ hội Khai Truông có từ khi nào nữa, từ khi ông còn nhỏ xíu đã thấy rồi Nội kể, hồi chiến tranh, bọn giặc lê súng ống đi khắp quê mình bắt bớ, phá hoại. Nhiều người bị bắt đi lính, đi phục dịch, không chịu nổi phải vào Truông trốn. Cơ sở của ta cũng đặt trong Truông. Cây cối um tùm, rậm rạp, dây gai chằng chịt che chở, bảo vệ du kích trong thời gian dài. Địch khó lần ra, mà có lần cũng không dám đặt chân vào chốn rừng thiêng nước độc ấy, không bị thú dữ ăn thịt thì cũng bị lạc trong chốn thiên la địa võng. Thuở ấu thơ của tôi, cọp beo không còn nhưng chiều chiều vẫn ngồi chồm hổm xem phường thợ săn chia thịt. Họ đi săn thành nhóm, có khi mang theo thức ăn ở lại trên rừng vài hôm mới về. Lần nào họ về cũng ồn ào, nhốn nháo. Người ta kéo nhau ra xem họ săn và bẫy được những gì. Thường là heo rừng, nai, chồn, rắn có khi cả khỉ, vọc, trăn, tê tê… Trong trí nhớ non nớt của tôi vẫn hiện ra cảnh những người đàn ông mình trần nhễ nhại, miệng phì phèo thuốc lá, đưa tay chặt mạnh những tảng thịt chia nhau.
Phần đem ăn, phần đem bán. Rồi cánh khác lại vào rừng đốt than, xẻ gỗ. Những con trâu mộng to lớn đi theo họ trong những chuyến đi dài ngày. Cuối chuyến đi, những thân gỗ to lớn, chắc nịch được đàn trâu kéo về. Quê tôi ngày ấy có những căn nhà gỗ bề thế, được dựng nên bởi những thân gỗ đỏ âu… Người ta không biết rằng họ đang giết rừng!
Ảu thơ của tôi từng được thưởng thức những thức quà chỉ riêng Truông mới có. Những chùm chôm chôm rừng chín vàng ươm, những trái chà là đen óng, những quả bứa thơm lựng, những quả dứa dại, trâm rừng ngọt lịm… Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ mãi hương vị của những hạt mít nài trên lưỡi mình. Những trái mít nài chỉ lớn hơn nắm tay người lớn đu bám trên cành. Truông khi ấy hãy còn rậm rạp lắm, chúng tôi chỉ lần theo dấu mít chín bằng cách hếch mũi lên rồi ngửi. Khác với các loại mít khác, mít nài mọc tự nhiên và chỉ ăn hạt, hiếm ai ăn múi. Múi mít nài ngọt thơm kì lạ, ăn nửa trái là đã say như người ta uống rượu. Dưới những cây mít chín mà chúng tôi tìm thấy la liệt những trái chín bị chồn, sóc ăn nham nhở, và thường đó là những trái ngon nhất. Mít hái xuống, bổ ra, những trái mít chín vàng ươm ướt và nhão. Cứ thế bỏ vào rổ nan, mang xuống suối đạp, múi mít sẽ tan ra trôi theo nước. Thành quả còn lại là những hạt mít nài nhỏ như đầu chiếc đũa ăn cơm. Hạt mít nài thơm bùi khó có loại hạt mít nào sánh nổi. Hạt mít đem về phơi khô, khi nào cần ăn cứ đem ra rang. Mùi thơm lựng, ăn no nê đến cành hông…
Tuy Truông quê tôi đã thay đổi nhiều, cọp beo không còn quấy phá nhưng tục lệ khai Truông vào mùng 7 tháng giêng hằng năm vẫn giữ. Cùng với lễ hội Bà Thu Bồn thì người dân quê tôi vẫn xem đó là phong tục tâm linh quan trọng trong năm. Trước Tết, người ta đã lên kế hoạch và đóng góp cho lễ hội. Nhà nào cũng tham gia. Cứ mùng 7, người người kéo nhau vào Truông. Giết gà, lợn, nấu xôi, chè…
Cầu năm cho một năm làm ăn thuận lợi, cho người dân tiếp tục được thụ hưởng những sản vật của rừng. Quê tôi có lời cấm kỵ, trước lễ Khai Truông bất kì ai cũng không được đụng vào dù chỉ là một cọng rau của rừng. Nếu không sẽ bị thần linh phạt, chỉ khi nào tiếng chuông khai truông gióng lên, khi đã được xin phép người dân mới được vào Truông. Sau phần lễ, phần hội cũng vui không kém. Mọi người cùng nhau ăn uống vui vẻ. Không ít người đem theo cần câu, nồi niêu, thức ăn vào rừng. Sau những ngày Tết no nê với thịt mỡ, dưa hành, họ bắt cá, mò ốc, hái rau rừng… nấu nướng ngay tại chỗ. Họ đốt lửa nướng cá, ăn kèm với muối ớt, rau rừng. Nóng nực đã có khe suối mát lành bên cạnh. Nhiều người ở thành phố về đâm ghiền với thú vui ấy. Vài ba năm trở về, lại háo hức vào rừng
Ông nội tôi mất lâu rồi. Truông bây giờ cũng không còn như ngày trước. Các loại súng săn, bẫy mìn ra đời gần như tiệt diệt các loài thú lớn. Cá dưới suối cũng không còn con lớn khi được đánh bắt bằng điện, bằng mìn. Hiếm hoi lắm, mới thấy người ta săn được heo rừng, chồn nai… Và có lẽ, ngày nào đó, những loại thú ấy cũng không còn. Một cánh rừng của quê tôi người ta còn bảo tồn được loài voi rừng, nhưng những con voi cũng lần lượt biến mất. Năm ngoái, người ta phát hiện xác một con voi lớn chết đã phân hủy bị cưa mất ngà. Voi chết từ bao giờ và làm sao mà chết là 1 câu hỏi không lời đáp ngay cả đối với kiểm lâm. Bây giờ người ta chặt cây, ủi núi để làm đường vào Truông. Con đường đất rộng thênh, có thể phóng xe máy đến tận bìa rừng. Rồi những đồi cây rậm rạp xưa kia được thay bằng những loại cây kinh tế. Khoảng chục năm trước đây, quê tôi một vùng trồng bạt ngàn dứa Cayen, quả to như ấm nước, chỉ cần bổ lớp vỏ là nước trào ra. Loại dứa Cayen để cung cấp cho nhà máy làm nước hoa quả.
Rồi dứa bị bỏ, bây giờ đâu đâu cũng chỉ thấy trồng cây keo lá tràm cung cấp cho nhà máy giấy. Sức mạnh của kĩ thuật nhiều khi ghê gớm lắm! Những chiếc xe vẫn cứ ủi núi, san bằng cây cỏ để lấy đất trồng tràm. Đứng tít phía xa, nhìn ngược lên những ngọn đồi, và lên cả núi Chúa những mảng rừng bị cày nát. Những mảng rừng tràm lô nhô cứ mọc lên cao hoài, cao mãi…
Với những đứa con nít quê tôi bây giờ, Truông chỉ đơn thuần là nơi để tắm mát, bắt cá. Leo lên xe máy phóng một cái là có thể vào tận đầu Truông. Những câu chuyện về Truông ngày xưa cũng mai một dần. Chỉ những cụ già, cứ chiều chiều đứng vọng về Truông Nước lại ngậm ngùi nhớ chuyện ngày xưa.

Như Hiền

Ý Kiến bạn đọc