Tản văn

Về quê ăn Tết

Ở vùng quê, bà con chuẩn bị cho cái Tết gần như giống nhau. Đó là gia đình lo bánh trái, thức ăn để đón con cháu về sum họp trong những ngày Tết đến xuân về. Ở xã Thanh Mỹ, huyện Tháp Mười, một vùng sâu – căn cứ Tỉnh ủy ngày xưa của Đồng Tháp, quê chồng của tôi cũng không ngoại lệ. Cách Tết âm lịch khoảng nửa tháng nhà nhà dù rất bận vẫn nhắc nhau không quên lặt lá mai để các cây mai cùng nở bung đúng vào dịp Tết rất đẹp mắt.

Có dịp trở về vào dịp Tết ở quê mới thấy lạ. Nhà nào cũng trồng khoảng vài chục cây mai vàng năm cánh và có cả giống mai trắng, khác với trồng đào miền Bắc. Hương mai thơm thoang thoảng, lây lất rất dễ chịu, không nồng và đậm như một số loài hoa khác. Có mùi hương tự nhiên rất thơm và thường nồng hơn vào buổi sáng và dần dần mất mùi vào những khoảng thời gian còn lại trong ngày, sắc hoa màu vàng rực rỡ rất đẹp. Loài mai đặc trưng của vùng Nam bộ trong đó có Đồng Tháp là loài mai tứ quý. Giống mai này cũng trổ hoa vàng nhưng sau khi cánh hoa rụng đi thì đài hoa còn lại năm cánh màu đỏ với nhụy hoa và ba hạt màu đen như hạt đậu. Năm cánh hoa màu đỏ cũng tròn trịa và giống hình một đóa hoa mai. Do tính chất nở hai lần trên cùng một đóa nên người ta còn gọi mai tứ quý là nhị độ mai. Mai này trổ bông lác đác quanh năm nên mới gọi là mai tứ quý (xuân, hạ, thu, đông đều trổ hoa). Mai tứ quý thân sần sùi và đen. Có cây phát triển rất to và cao nhưng đa số là những cây lâu năm. Càng lâu năm nhìn nó càng cổ kính và chắc chắn, giá trị càng cao.

Đất “mênh mông” nên chỗ nào bà con quê tôi cũng trồng mai, không để đất trống. Có những cây mai mà vòng gốc của nó rất lớn cả mấy gang tay. Người ta cho rằng mai là biểu tượng của sự may mắn, tốt đẹp, một sự khởi đầu hoàn hảo và thịnh vượng cho một năm mới. Hoa mai còn có ý nghĩa xua đuổi những điều xấu xa, không tốt đẹp cho một năm luôn được bình an, hanh thông và phát đạt. Nghe đâu trên thành phố có người chơi hoa về trả tiền tỷ một cây, dù nghèo nhưng anh tôi vẫn không bán. Bà con nông dân chân chất, quê mùa, nói thật dễ thương: Cây này ông cố tôi trồng, để kỉ niệm, ngắm chơi thôi, thông cảm, tiền bao nhiêu tôi cũng không bán đâu! Thế mới thấy không phải “có tiền mua Tiên cũng được”.

Chừng 25-27 Tết, nhiều gia đình tát hầm hay dỡ chà kiếm cá tôm rọng sẵn để khi có khách, bắt ít con rắn, tôm càng xanh, cá lóc, trê, rô… bỏ trên bếp củi cháy phừng phừng là đủ dĩa nhậu cấp tốc rồi. Bà con hay rủ nhau gói bánh tét nhân chuối hay nhân đậu, bánh ít nhân mỡ đậu hay nhân dừa, ngào chuối với gừng, khóm, đậu phộng, làm mứt dừa để dành tiếp khách và con cháu ăn trong những ngày Tết. Rượu thì cũng nhà nấu. Toàn “cây nhà lá vườn” chẳng tốn đồng nào lại an toàn thực phẩm. Ăn vô chẳng lo ngay ngáy như mứt bánh bán đủ loại ngoài chợ. Chưa hết, có vài gia đình hùn mổ heo, chia nhau ăn Tết. Có nhà ít người thì mua vài kí thịt heo, 30-40 hột vịt, ít trái dừa tươi, thế là có một nồi thịt heo kho hột vịt “hoành tráng”, nấu một nồi hũ qua dồn cá thác lác hay dồn thịt, chuẩn bị kèm rau sống, dưa leo, ít khô cá lóc đồng là “đủ xôm” tiếp khách mấy ngày Tết rồi. So với chuẩn bị Tết ở ngoài Bắc thì ở quê không cầu kì, đơn giản hơn nhiều, nhất là bây giờ kinh tế phát triển, hàng hóa tràn ngập, cần đồ ăn gì bà con chạy ra chợ là có liền, đủ thứ tươi dù là ngày mùng 1 hay mùng 2 mùng 3 Tết.

Chỉ có Tết mới là dịp chúng ta được gặp gỡ gần như tất cả bà con lối xóm. Gia đình tôi cứ 30 Tết là vợ chồng con cái lại kéo nhau về quê đám giỗ bà nội và ở lại ăn Tết luôn. Cái cảm giác đêm giao thừa nó rất đặc biệt, ấn tượng. Nhà nhà con cháu quây quần đông đủ, vài món đơn giản, chung trà rượu nấu thắp hương cúng tổ tiên, cúng ba và anh chồng tôi đã hy sinh từ rất lâu, ngồi xem ti vi, xem ti vi tới giao thừa nghe chúc Tết, cùng nâng ly chén rượu, con cháu mừng tuổi má. Bà mừng tuổi mấy đứa nhỏ trong mấy cái bao lì xì đo đỏ, nhỏ bé, cùng ăn miếng xôi với gà luộc, miếng bánh tét, bánh ít. Má tôi cứ lăng xăng làm cái này cái kia không ngơi tay nhưng tôi biết trong lòng bà vui lắm vì có dịp gặp đông đủ con cháu mà ngoài Tết khó có dịp gặp vì các con, các cháu phải lăn lộn mưu sinh.

Sáng mùng 1, chúng tôi thức dậy muộn, không khí se se lạnh nhưng không tê cứng như ở miền Bắc chỉ cần mặc áo quần mỏng, mới, ăn bữa cơm đầu năm rồi cùng nhau đi gặp gỡ chúc Tết họ hàng xung quanh. Mùng 2 Tết đi gặp bạn bè, rồi đi thăm thầy cô giáo cũ. Mùng 3, cả nhà du xuân đi lễ chùa, sau đó trở lại thành phố Cao Lãnh nghỉ ngơi, chuẩn bị vài ngày sau trở về nơi công tác, học tập.

“Quê hương là chùm khế ngọt”. Tết quê dù nghèo nhưng tôi thấy vô cùng ấm áp và chỉ mong mỗi năm một lần cả gia đình trở về đón Tết ở quê.

Phạm Thị Toán
(Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2018

Ý Kiến bạn đọc