Đối thoại Internet

Về “một tiếng nói lạc lõng”

Mới đây, trên một trang mạng có đăng tải bài viết “Hòa giải hòa hợp dân tộc nhân sự kiện Hùng Cửu Long” của David Thiên Ngọc. Bài viết trên thật sự là “một tiếng nói lạc lõng”, chứa đựng định kiến, tư tưởng hận thù và một cái nhìn phiến diện, thiếu khách quan về tiến trình, kết quả hòa hợp hòa giải dân tộc ở Việt Nam. David Thiên Ngọc cho rằng, hòa hợp hòa giải dân tộc ở Việt Nam “nhiều năm qua” chỉ là “hình thức”, là “chiêu bài” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vậy sự thật là thế nào?

Mở đầu bài viết, David Thiên Ngọc “xin phép” cho mình “đứng ngoài chính trị” để luận giải, phân tích vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc “được khách quan và công bằng”. Tuy nhiên, David Thiên Ngọc không hề “đứng ngoài chính trị”, David Thiên Ngọc đứng trong chính trị, thậm chí đứng rất vững chắc trên lập trường chính trị của ông ta, có điều đó là chính trị lừa dối, chính trị phản động. Bởi vì, nếu không có quan điểm chính trị phản động thì làm sao ông ta có thể hàm hồ cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam là “cuộc chiến tương tàn nồi da xáo thịt”. Chân tướng phản động của David Thiên Ngọc càng bộc lộ rõ khi ông ta dựng chuyện, xuyên tạc, vu cáo nhằm hạ thấp uy tín của Đảng về vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc và hô hào “Đập tan âm mưu hòa giải hòa hợp dân tộc” của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Có thể nói, chiến tranh là điều không ai muốn bởi nó gắn liền với đau thương, mất mát, cuộc sống tiêu điều, nhân tâm ly tán. Khi chiến tranh đi qua, bất luận ai trong cuộc chiến ấy cũng đều thấm thía nỗi đau, những mất mát hy sinh, sự chia rẽ dân tộc và sự tàn phá ghê gớm mà cuộc chiến tranh để lại. Dân tộc Việt Nam luôn yêu hòa bình nhưng lịch sử đã buộc dân tộc Việt Nam phải cầm vũ khí để bảo vệ nòi giống, bảo vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Đặc biệt, cuộc chiến tranh tàn bạo do đế quốc Mỹ tiến hành, với thủ đoạn “Việt Nam hóa chiến tranh” đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề đối với hầu hết gia đình Việt Nam suốt mấy chục năm qua. Chiến tranh đã lùi xa nhưng nỗi đau da cam vẫn còn đó, những vết hằn trong tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của không ít người vẫn còn lưu giữ… Vấn đề hòa hợp dân tộc vẫn đang là nỗi niềm không chỉ của riêng những ai từng tham gia cuộc chiến ở mỗi phía mà còn đến từ những người Việt Nam sinh ra sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất. Điều đó đã làm cho nguyện vọng về đoàn kết, hòa hợp dân tộc, đoàn tụ quê hương, gia đình trở thành khát vọng thường trực của mọi người dân. Nguyện vọng đó cũng luôn được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm bằng nhiều chủ trương, chính sách và hành động cụ thể, thiết thực. Điều đó phản ánh sự chân thành, tha thiết muốn hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện hòa giải hòa hợp dân tộc tạo sức mạnh đoàn kết to lớn đưa đất nước ngày càng phát triển.

Ngay từ năm 2003, Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) của Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng quyết định các nội dung cơ bản về vấn đề này. Đó là: Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 “Về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết 24-NQ/TW “Về công tác dân tộc”; Nghị quyết 25-NQ/TW “Về công tác tôn giáo” và tiếp sau đó là Nghị quyết 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Đặc biệt, Chỉ thị 45-CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 19/5/2015 chỉ rõ “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam…”; “… ủng hộ và khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tôn trọng pháp luật và hội nhập vào xã hội nước sở tại, nơi bà con sinh sống…” và “… Phối hợp chặt chẽ với các nước có người Việt Nam sinh sống nhằm hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc, bảo đảm cuộc sống lâu dài ở nơi cư trú…”. Đại hội lần thứ XII của Đảng một lần nữa khẳng định các quan điểm, chủ trương về đoàn kết, hòa hợp dân tộc: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Những chủ trương, chính sách đúng đó của Đảng đã góp phần làm cho sự đồng thuận xã hội được nâng lên, những mặc cảm, định kiến, thù oán do lịch sử để lại được thu hẹp. Tuy còn những vấn đề cần được tiếp tục quan tâm giải quyết, thế nhưng những thành tựu quan trọng về đoàn kết, hòa hợp dân tộc ở Việt Nam từ sau 30/4/1975 đến nay là điều không thể phủ nhận. Do vậy, cần phải cảnh giác, tỉnh táo trước những con người như David Thiên Ngọc – những kẻ vẫn còn mang nặng thù hận, tìm mọi cách để xuyên tạc, kích động nhằm chia rẽ, cô lập đất nước, gây mất ổn định chính trị – xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hòng lật đổ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ ta.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã khái quát về tinh thần đại đoàn kết và hòa hợp hòa giải dân tộc trong những câu nói cô đọng mà vô cùng sâu sắc: “Không ai lựa cửa để sinh ra!”, “Không để quá khứ ràng buộc tương lai”. Thiết nghĩ, mỗi người dân trong nước và kiều bào ở nước ngoài cần chung sức hành động: “khép lại quá khứ, hướng đến tương lai”, thực hiện thành công khát vọng hòa hợp hòa giải dân tộc vì một nước Việt Nam giàu mạnh và văn minh.

Nguyễn Đức Nhuận
(Đại học Nguyễn Huệ, Đồng Nai)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 432

Ý Kiến bạn đọc