Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Về hình tượng con người vũ trụ trong “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu

Phan Bội Châu là một trong những cây bút mở đường tinh anh cho văn thơ cách mạng đầu thế kỉ XX. Bên cạnh tư cách một nhà chính trị có tầm ảnh hưởng sâu rộng đầu thế kỉ, Phan Bội Châu còn được biết đến với tư cách là một nhà văn nhà thơ lớn. Với những trước tác đồ sộ đa dạng và phong phú, nhà cách mạng họ Phan đã xác lập cho mình một vị trí xứng đáng trong nền văn học nước nhà.

Đầu thế kỉ XX, ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản từ nước ngoài đang tràn vào Việt Nam ngày càng mạnh qua con đường Trung Hoa, Nhật Bản và trực tiếp từ Pháp, từ các nước phương Tây. Đang bế tắc, người chí sĩ yêu nước có thể tìm thấy ở đó những gợi ý về một con đường cứu nước với những viễn cảnh đầy hứa hẹn cho tương lai. Trước tình hình đó, Phan Bội Châu tình nguyện dấn bước, bất chấp nguy hiểm, gian lao mong tìm ra ánh bình minh cho Tổ Quốc. Năm 1905, trước lúc lên đường sang Nhật Bản, ông làm bài thơ Lưu biệt khi xuất dương để giã bạn bè, đồng chí. Đây là bài thơ mà nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bích Hải đã đánh giá “là một trong những bài luật thi hay bậc nhất của Việt Nam thời cận đại” (1). Bài thơ khắc họa sâu sắc hình tượng con người yêu nước với hùng tâm tráng chí mang tầm vóc vũ trụ.

So-492--Ve-hinh-tuong-con-nguoi-vu-tru-trong-Xuat-duong-luu-biet-cua-Phan-Boi-Chau---Anh-1
Chí sĩ Phan Bội Châu

Nguyên tác chữ Hán:

出洋留別
生為男子要希奇,
肯許乾坤自轉移。
於百年中須有我,
起千載後更無誰。
江山死矣生圖汭,
賢聖遼然誦亦癡。
願逐長風東海去,
千重白浪一齊

Phiên âm:

Sinh vi nam tử yếu hi kì,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.
Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

Dịch nghĩa:

Đã sinh làm kẻ nam nhi thì cũng phải mong có điều lạ,
Há lại để trời đất tự chuyển vần lấy sao.
Giữa khoảng trăm năm này, phải có ta chứ,
Chẳng nhẽ ngàn năm sau lại không có ai (để lại tên tuổi) ư?
Non sông đã chết, sống chỉ nhục,
Hiền thánh đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi.
Mong đuổi theo ngọn gió dài để đi ra biển Đông,
Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên.

Dịch thơ:

Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
Sau này muôn thuở, há không ai?
Non sông đã chết sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.
Muốn vượt biển Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

Tôn Quang Phiệt (dịch)

(Văn thơ Phan Bội Châu, NXB Văn học, Hà Nội, 1965)

Hai câu đề:

Sinh vi nam tử yếu hi kì,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.

(Đã sinh làm kẻ nam nhi thì cũng phải mong có điều lạ,
Há lại để trời đất tự chuyển vần lấy sao)

Trong thi mạch “Thi dĩ ngôn chí” của văn chương trung đại, “con người vũ trụ” là một hằng số nghệ thuật. Khát khao cầm ngọn giáo được đo bằng chiều kích của non sông trong bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão, chí khí “ôm hoài bão nâng trục trái đất mà xoay chuyển lại” trong “Cảm hoài” của Đặng Dung và rất nhiều ví dụ khác. Con người vũ trụ luôn đặt mình trong không – thời gian mang tính vũ trụ, khát khao hướng đến việc thay đổi vòng sinh hóa của con Tạo để thể hiện chí khí của mình.

Hai câu đề khai mở bài thơ như là một tuyên ngôn. Tuyên ngôn về trách nhiệm của một người trai sống giữa vòng “thiên phú địa tái” (trời che đất chở) phải làm nên những điều kì vĩ khác thường. Chữ “yếu” với nghĩa “nhất định phải” mang ý nhấn mạnh, khẳng định. Hi kì vốn nghĩa tường minh là “lạ lùng ít thấy” (Từ điển Hán – Việt của Thiều Chửu). Tuy nhiên, khi dịch thơ dịch giả chỉ dùng chữ “lạ” (Làm trai phải lạ ở trên đời) để dịch quả thật chưa làm rõ được nét nghĩa thâm sâu của từ “hi kì” trong nguyên tác. Đó là sự khẳng định những việc làm phi thường, khác lạ, một công nghiệp lớn lao mang dấu ấn của thời đại của người làm trai phải gánh vác. Câu thơ khiến chúng ta nhớ đến lời của Nguyễn Công Trứ trong bài “Chí nam nhi”:

聰明一男子,
要為天下奇

Thông minh nhất nam tử,
Yếu vi thiên hạ kỳ.

(Một người trai thông minh, Phải làm điều khác thường trong thiên hạ)

Những câu thơ trên có thể lấy ý từ câu thơ của Đường Giới tiễn bạn đi Trường An: “Nam tử yếu vi thiên hạ kỳ”. Căn cứ để hiểu từ hi kì với hàm nghĩa như thế phải được nối kết với mạch của câu thơ hai trong cặp liên thứ nhất của bài thơ:

Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.

(Há lại để trời đất tự chuyển vần lấy sao)

Rõ ràng, sự nghiệp khác lạ mà người trai muốn tạo lập là một sự nghiệp lớn lao có tác động đến sự vần xoay của đất trời “càn khôn”. Không thể phó thác cuộc đời của mình vào dòng trôi vô định của số mệnh vốn là “chí” của những đấng anh hùng cổ kim. Xưa dưới ánh trăng mài kiếm Long Tuyền khi mái đầu đã bạc, người anh hùng thời Vãn Trần Đặng Dung vẫn nung nấu khát vọng: “Muốn giúp chúa, ôm hoài bão nâng trục trái đất mà xoay chuyển lại” nhưng tiếc thay “không có lối để kéo Ngân Hà xuống mà rửa giáp binh” (Cảm hoài). Tuy mang cảm hứng bi phẫn nhưng chí khí của người anh hùng ấy thật đáng ngưỡng mộ biết bao. Nay trước khi lên đường sang Nhật Bản kiếm tìm con đường đổi mới đất nước giúp dân tộc tự cường để có thể thoát khỏi đêm đen nô lệ, Phan Sào Nam đã nói lên tiếng nói đầy nhiệt huyết khát vọng thay đổi hiện thực đất nước, thay đổi vận mệnh dân tộc.

Nếu hai câu đề là lời tuyên ngôn thì đến hai câu thực, người chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu đã dõng dạc khẳng định cái tôi cá nhân mạnh mẽ:

Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.

(Giữa khoảng trăm năm này, phải có ta chứ,
Chẳng nhẽ ngàn năm sau lại không có ai (để lại tên tuổi) ư?)

Trong thế đăng đối bách niên – thiên tải, Phan tiên sinh đã nêu bật thế đối lập giữa đời người và thời gian trường cữu của đất trời. Nếu với nhiều nhà thơ cổ lẫn kim, sự đối lập này luôn mang đến cho họ nhiều xúc cảm sâu xa khi nhận ra sự nhỏ bé, ngắn ngủi của kiếp người trước sự chảy trôi vô thủy vô chung của đất trời thì với tác giả, trong khoảng trăm năm hiện hữu dẫu có ngắn ngủi nhưng phải là khoảnh khắc tạo nên lịch sử, là dấu son chói lòa trên dòng chảy thời gian bất tận ấy. Đây là ý thức mạnh mẽ của một cái tôi cá nhân có khát vọng cống hiến cho đất nước dân tộc. Đây cũng là một sự tiếp nối có ý thức nguồn mạch tinh thần của tiền nhân. Chẳng phải xưa Phạm Ngũ Lão cũng đã từng viết:

Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

(Thân nam nhi mà chưa trả xong nợ công danh
Thì luống thẹn thùng khi nghe chuyện Vũ Hầu)

Câu thơ thể hiện khát vọng cháy bỏng muốn lập được công nghiệp như Gia Cát Lượng của Phạm Ngũ Lão. Đây là cách nói khiêm tốn, tuy nhiên ngẫm kĩ thì nó lại chứa đựng khẩu khí phi thường. Phạm Ngũ Lão đặt mình ngang hàng trong thế đối sánh với Gia Cát Lượng. Con người đời Trần hoàn toàn có cơ sở để thực hiện những khát vọng vươn tới những điều kì vĩ lớn lao.

Sau này Nguyễn Công Trứ cũng đã dõng dạc tuyên bố trong “Bài ca ngất ngưởng”:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

(Mọi việc trong khoảng trời đất đều là phận sự của ta)

Chữ “ngã” vốn xuất hiện rất khiêm tốn trong thơ ca trung đại với nội hàm khẳng định cái Tôi cá nhân. Tuy nhiên, ở bài thơ này chữ “ngã” xuất hiện đường hoàng với cách nói dõng dạc “tu hữu ngã” (phải có ta) như một sự ý thức mạnh mẽ vai trò của mình đối với vận mệnh của non sông đất nước. Có thể khẳng định một cách chắc chắn đây không phải là phát ngôn của thói “vĩ cuồng” mà tuyên ngôn của một cái tôi có trách nhiệm lớn đối với quốc gia dân tộc.

Trong văn chương trung đại, có thể nói tồn tại một tư duy mang tính phổ quát. Đó là tư duy nệ cổ, hoài cổ, sùng cổ. Người sáng tác thấm nhuần tư tưởng “Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ” (thuật lại, chứ không trước tác, tin tưởng, chuộng cổ) của Khổng Tử. Cũng vì thế mà hệ thống tư tưởng nho gia được thể hiện trong sách vở Thánh Hiền trở thành những chân lí bất di bất dịch, thiên kinh địa nghĩa trong tâm thức của nho sĩ.

Cần khẳng định, Phan Bội Châu trước hết với tư cách của một nho sĩ được đào tạo bài bản trương quy trong môi trường giáo dục thấm nhuần triết lí Khổng Mạnh. Ông nổi tiếng thông minh từ bé, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết Tam Tự Kinh; 7 tuổi ông đã đọc hiểu sách Luận ngữ; 13 tuổi, ông thi đỗ đầu huyện. Năm Canh Tí (1900), ông đã đậu đầu (Giải nguyên) ở trường thi Nghệ An. Tuy nhiên, chí sĩ họ Phan đã sớm nhận ra yêu cầu canh tân mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu mới của thời đại mới. Học thuyết Khổng Mạnh đã không còn phù hợp trong việc đào tạo nên những con người mới góp phần canh tân đất nước, giải phóng dân tộc. Hai câu luận, thể hiện tư tưởng phản biện mạnh mẽ:

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.

(Non sông đã chết, sống chỉ nhục –
Hiền thánh đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi)

Những từ ngữ tác động mạnh đến tâm tư người tiếp nhận như: tử hĩ, đồ nhuế, si thể hiện tâm trạng đầy phẫn uất của người chí sĩ. Phải nói ngay rằng, trong thời điểm này khi phong trào Cần Vương thất bại, một không khí u ám bao trùm đất nước, nỗi thất vọng bi quan đè nặng lên đời sống tinh thần của người Việt Nam yêu nước. Tâm lí an phận, buông xuôi có nguy cơ bén rễ trong một bộ phận kẻ sĩ. Chính lời thơ “Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế” đầy bi phẫn ấy đã đánh động đến tâm tư những con người còn yêu nước thương nòi, khơi sâu vào lòng nhiệt huyết, giục giã họ đứng dậy hành động.

Và có thể nói, Phan Bội Châu rất xem trọng việc chữa bệnh tinh thần, căn bệnh sùng cổ tín cổ “thuật nhi bất tác” vốn là một hệ giá trị bất di bất dịch trong tâm thức của sĩ tử Nho học lúc bấy giờ. Phan Bội Châu dõng dạc tuyên bố: Hiền thánh đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi.

Cần nên hiểu một cách thấu đáo, Phan tiên sinh không hề phủ nhận sạch trơn những giá trị tích cực của Nho học mà ông lên án lối học cũ, lối học “tầm chương trích cú”, chỉ chăm chăm vào những giá trị của xã hội nhân văn (chủ yếu từ văn hóa Trung Quốc) mà từ chối tiếp nhận những kiến thức mới của nhân loại về khoa học tự nhiên. Hơn thế nữa, lối học này lại là lối học chuộng hư danh khoa cử, lối học tước đoạt sự sáng tạo của người học. Đây cũng chính là điều mà tác giả trăn trở. Sau này khi viết bài thơ “Bài ca chúc Tết thanh niên”, tác giả cũng đã nhắc lại ý này:

“Đời đã mới, người càng nên đổi mới
Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội,
Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn”

Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ:

“Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”

(Mong đuổi theo ngọn gió dài để đi ra biển Đông,
Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên)

Mong đuổi theo ngọn gió dài, động từ “trục” gợi biết bao hùng tâm tráng chí của con người hăm hở tìm kiếm con đường tự do độc lập cho dân tộc. Ở đây chúng ta cần chú ý đến hai hình ảnh mang tính tượng trưng: ngọn gió dài (trường phong) và biển Đông (Đông hải). Ngọn trường phong là biểu tượng cho ý chí mạnh mẽ, bền lâu của người chí sĩ. Biển Đông bao la là biểu tượng cho thế giới văn minh tiến bộ rộng lớn. Ở đây đang ngầm chỉ Nhật Bản, một đất nước đã thành công trong công cuộc duy tân để nâng tầm vóc đất nước lên hàng cường quốc.

Nếu ở câu thơ trên, với cái nhìn biểu tượng, người đọc dễ dàng cảm nhận được tâm thế của người chí sĩ thì đến câu thơ cuối, hình ảnh Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên cũng là một biểu tượng. Chẳng phải Ngàn đợt sóng bạc chính là những biểu tượng sinh động cho ý chí cách mạng của những thanh niên hưởng ứng công cuộc Đông du mà Phan tiên sinh đã đặt vào biết bao tâm huyết đó sao? Hơn thế nữa, Muôn ngàn con sóng bạc kiêu hùng kia đang ở trong trạng thái “nhất tề phi”. “Nhất tề” nhấn mạnh ở sự nhất trí cao độ, một mối đoàn kết vững bền, một niềm tin sắt son về sự nghiệp cách mạng mà người chí sĩ họ Phan đã khởi tạo.

Phải chăng chính hùng tâm tráng chí được thể hiện qua thơ văn như thế mà trong bài “Sinh văn cụ Phan Sào Nam” (1940), Huỳnh Thúc Kháng đã diễn tả một cách sống động về sức rung cảm lòng người của ngòi bút Phan Bội Châu:

“Miệng giọng cuốc vạch trời kêu giật một,
giữa từng không mù cuốn mây tan,
Tay ngòi lông vỗ án múa chầu ba, đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ.
Núi cao reo bốn phía dậy vang,
Buồng kín tỉnh ngàn năm giấc ngủ” (2)

Trầm Thanh Tuấn
(GV Trường THPT Long Hiệp, tỉnh Trà Vinh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 492

________________________

(1) Một số đặc điểm của thơ Đường luật ở Việt Nam in trong sách Bình giảng thơ Đường – NXB Giáo dục (tr. 121).
(2) Xem Nguyễn Q. Thắng, “Huỳnh Thúc Kháng – Con người và thơ văn” (Sài Gòn: Phủ Quốc – Vụ Khanh đặc trách văn hóa, 1972), trang 278.

Ý Kiến bạn đọc