Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Vẻ đẹp tuyến đường Trường Sơn (559) trong Thơ ca Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1959 – 1975)

 

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam kéo dài 21 năm là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, là cuộc chiến đấu oanh liệt vì một khát vọng độc lập – hòa bình – thống nhất đất nước. Trong 21 năm ấy, có một con đường huyền thoại chạy dọc từ miền Trung Việt Nam vào đến miền Nam, phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngay từ sớm, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”. Miền Bắc đã xác định vai trò lịch sử của mình, trở thành hậu phương chi viện sức người, sức của cho miền Nam – tiền tuyến lớn. Binh đoàn 559 được thành lập, đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, “vừa tổ chức đánh địch bảo vệ tiền tuyến, vừa từng bước cải biến 40.000km đường rừng núi, xây dựng thành tuyến vận tải chiến lược hoàn chỉnh từ khu vực tiếp giáp miền Bắc hậu phương đến chiến trường Đông Nam bộ với tổng chiều dài 20.000km, bao gồm 5 hệ trục dọc, 21 hệ trục ngang đường cho xe cơ giới, trên 1.400km đường ống dẫn xăng dầu, hơn 10.000km đường dây thông tin. Đặc biệt mở được hệ thống đường kính dài 3.140km cho xe vận tải hoạt động ban ngày để đối phó thủ đoạn máy bay AC-130 săn lùng đánh phá quyết liệt(*). Tuyến đường Trường Sơn không chỉ thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình, nó còn là một đối tượng được phản ánh trong văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tuyến đường Trường Sơn đi vào văn học như một lời ca, như một tiếng hát ra trận, là một khao khát hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước. Từ thơ ca đến văn xuôi thời kỳ này như một tấm gương phản chiếu hình ảnh của lớp lớp thế hệ người Việt Nam:

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”

Trường Sơn hiện lên trong thi ca bằng vẻ đẹp của một “con đường chạy thẳng vào tim”, con đường những ước mơ, khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước. Đó không phải là một con đường bằng phẳng mà là một tuyến đường rừng với đầy những khó khăn cho người lính trên bước đường hành quân. Nhưng tâm hồn người lính Việt Nam thời đó thật yêu đời và vui tươi biết bao, họ đã ra đi không tiếc tuổi xuân xanh, họ đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, như nhà thơ Thanh Thảo sau này đã từng viết:

“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc
Nhưng ai cũng tiếc thì còn chi Tổ quốc”

Trước hết, Trường Sơn hiện lên với vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Nam, mang đầy đủ nét mới lạ và trữ tình:

“Trường Sơn ơi
Nơi mà ta qua không một dấu chân người
Có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác
Dừng ở lưng đèo mà nghe suối hát
Ngắt một đóa hoa rừng cài lên mũ ta đi…”

Nhà thơ Gia Dũng với “Bài ca Trường Sơn” đã khái quát trọn vẹn về thiên nhiên vùng núi Trường Sơn với cảnh sắc trữ tình. Đó là những cung đường vắng vẻ, với hình ảnh chú nai vàng, hình ảnh đèo, suối, hoa rừng. Tất cả đã phối cảnh với nhau tạo nên một bức tranh thiên nhiên trữ tình, một vẻ đẹp đồng nội rất riêng, nâng bước chân người lính trên đường ra trận.

Vẻ đẹp của núi rừng Trường Sơn còn trở nên đẹp hơn khi nó được gắn với hình ảnh của lãnh tụ – Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những đêm hành quân, người lính chợt nhớ về hình ảnh Bác Hồ như đang cùng các chiến sĩ hành quân trên đường ra trận. Nhà thơ Nguyễn Trung Thu đã từng viết:

“Đêm Trường Sơn
Chúng cháu nhìn trăng nhìn cây
Cảnh về khuya như vẽ
Bâng khuâng chúng cháu nghĩ
Bác như đã đến nơi này
Ơi, đêm Trường Sơn nghe tiếng suối trong như tiếng hát xa
Mà ngỡ như từ Pác Bó suối về đây ngân nga…”

Hình ảnh của cây rừng Trường Sơn, của vầng trăng sáng trong đêm đã gợi cho những người lính nhớ về Bác Hồ, nhớ về rừng núi Việt Bắc “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, nhớ về trăng “Rừng thu trăng rọi hòa bình”, nhớ về những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Một lần nữa, chúng ta lại chọn rừng núi là một địa hình độc đáo để tiến hành cuộc chiến đấu với kẻ thù xâm lược. Địa thế rừng núi đã trở thành một thế trận cản bước đường của giặc ngoại xâm.

Trên nền vẻ đẹp của thiên nhiên, núi rừng Trường Sơn, hiện lên hình ảnh của lớp lớp thế hệ trẻ Việt Nam trên đường ra trận. Họ là những học sinh, sinh viên Hà Nội gác bút nghiên lên đường ra trận, phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc. Với họ, Trường Sơn đã trở thành một điều vừa lạ, vừa thú vị nhưng cũng thật nhiều khó khăn, thử thách. Thế nhưng, họ vẫn mang một tâm hồn tràn ngập lạc quan, xe băng qua đèo cao, xe băng qua suối dữ, xe băng qua mưa bom, bão đạn kẻ thù nhưng họ vẫn trong một tư thế ung dung, tự tin:

“Không có kính, không phải xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Đó chính là tâm thế của người lính trẻ, người lính Cụ Hồ, vẫn yên tay lái phía trước làm nhiệm vụ chi viện cho miền Nam. Những đoàn xe chở quân, chở quân trang lương thực, thực phẩm ra trận. Xe vẫn bon bon trên con đường đất thác ghềnh “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”, và đối với họ “Chỉ cần trong xe có một trái tim”, đó chính là trái tim nhiệt huyết tuổi trẻ, trái tim sôi sục căm thù, trái tim vì khát vọng thống nhất đất nước. Trái tim vượt qua mọi thử thách trên tuyến đường huyết mạch nối hai miền Nam – Bắc.

So-556--Ve-dep-tuyen-duong-Truong-Son-trong-Tho-ca-Viet-Nam-thoi-ky-khang-chien-chong-My-cuu-nuoc---Anh-1
Bộ đội hành quân vào chiến trường miền Nam bằng tuyến đường Trường Sơn
(Nguồn: http://baotanglichsu.vn).

Vẻ đẹp của người lính Việt Nam còn được toát lên bởi ý thức trách nhiệm của họ đối với đất nước, giống như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong “Trường ca Mặt đường khát vọng” đã khắc họa với một giọng điệu thật tâm tình, ngọt ngào:

“Em ơi em
Đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời”

Hay như nhà thơ Thanh Thảo cũng đã viết:

“Lớp tuổi hai mươi, ba mươi điệp trùng áo lính
Trùng điệp áo màu xanh là một tiếng trả lời”

Đó chính là hình ảnh của những người con Việt Nam đã nằm lại nơi chiến trường, hóa máu xương cho dáng hình quê hương đất nước. Họ trở thành một phần của quê hương, đất nước, làm nên đất nước muôn đời với truyền thống anh hùng, kiên cường, bất khuất. Dù họ là những con người vô danh hay có danh nhưng sự hi sinh ấy đã trở thành “những cuộc đời đã hóa núi sông ta”.

Sự hy sinh ấy thật cao cả, thật vĩ đại, hy sinh vì chung lý tưởng của cuộc chiến tranh vệ quốc trong thơ Huy Cận:

“Trong đời mỗi người cũng có những ngã ba đường quyết định,
Trong đời mỗi dân tộc cũng có những ngã ba
Những ngã ba vận mệnh
Những cái nút trên dặm dài lịch sử
Gặp những ngã ba đời, con sẽ nghĩ suy
Và con ơi, muốn tìm đúng hướng đi
Con sẽ nhớ đến ngã ba Đồng Lộc
… ngã ba Đồng Lộc làm bằng xương máu”

Đó còn là lời xót thương của những người đồng đội dành cho nhau:

“Về chưa… về chưa?”
“Về chưa… về chưa?”
Cũng đành nhắc lại
Với mồ không tên và mộ có tên”

Hay như Nguyễn Đức Mậu từng viết:

“Chết – Hy sinh cho Tổ quốc” Hùng ơi
Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất
Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc
Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng”

Sự hy sinh của “Biết bao người con gái, con trai” trên tuyến đường Trường Sơn năm ấy đã trở thành vẻ đẹp bất tử của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến Việt Nam, họ bất tử trong lịch sử, và trở thành một tượng đài trong văn học.

“Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra đất nước”

Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước những năm tháng gian khổ, ác liệt ấy đã trở thành một vẻ đẹp kết tinh của giá trị truyền thống yêu nước, tiếp nối mạch nguồn truyền thống quý báu hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam.

Tuy nhiên, trên tuyến đường Trường Sơn năm ấy, những người lính trẻ không chỉ sống vì khát vọng, vì lý tưởng độc lập dân tộc mà họ còn có những tình yêu thật đẹp. Và chính tuyến đường Trường Sơn năm ấy, đã làm nảy nở, kết nối biết bao trái tim. Tình yêu đôi lứa được hình thành trên cơ sở tình đồng chí, đồng đội, trên cơ sở lòng yêu nước, ý chí chiến đấu chống giặc ngoại xâm:

“Từ nơi em gửi sang nơi anh
Những đoàn quân, trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Đông Trường Sơn nối tây Trường Sơn”

“Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây” của Phạm Tiến Duật đã trở thành một bài thơ tiêu biểu cho việc khắc họa vẻ đẹp tình yêu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bài thơ tựa như một lời tâm tình ngọt ngào của hai người con trai, con gái ở hai chiến trường khác nhau nhưng cùng chung một nhịp đập trái tim, cùng chung lý tưởng, cùng chung nhiệm vụ chiến đấu. Lời đối đáp ân tình giữa người con trai và người con gái ấy như lời đối đáp của hai người đồng đội, nối kết nhau vượt qua những tuyến đường Trường Sơn đầy gian nan, hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ.

Tình yêu đó cũng đã được Nguyễn Khoa Điềm khái quát trong đoạn trích “Đất Nước” trong “Trường ca Mặt đường khát vọng”. Với giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, Nguyễn Khoa Điềm đã khái quát tình yêu lứa đôi được hình thành trên cơ sở từ cội nguồn Đất Nước:

“Khi chúng ta cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”

Cái “hài hòa nồng thắm” đó càng trở nên đẹp đẽ, sáng ngời khi vòng tay ấy được nối dài, tình yêu đôi lứa được mở rộng ra với tình yêu cộng đồng, tình yêu nước, khi đó Đất Nước càng trở nên “vẹn tròn to lớn”. Tình yêu của những người lính trên tuyến đường Trường Sơn (559) năm ấy đã tạo nên một vẻ đẹp của cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam. Tình yêu ấy như là sự kết hợp giữa cái “tôi” trữ tình của mỗi cá nhân hòa vào với cái “ta” chung của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Có thể nói rằng, Đường Trường Sơn (559) đã đi vào thơ ca như một tuyến đường thật đẹp, tuyến đường ấy đã sản sinh ra biết bao thế hệ nhà thơ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phản ánh trực tiếp cuộc chiến đấu đầy gian khổ, ác liệt nhưng cũng thật hào hùng của dân tộc Việt Nam. Đường Trường Sơn (559) vừa thể hiện cho ý chí giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của dân tộc, vừa chính là con đường kết nối những tấm lòng, những trái tim sôi nổi, nhiệt huyết của tuổi trẻ Việt Nam, tạo nên một sự đồng lòng vì miền Nam ruột thịt. Đường Trường Sơn (559) là một kết tinh cao đẹp nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

  Hà Triệu Huy
(Khoa Lịch sử – Trường Đại học KHXH & NV – TP. Hồ Chí Minh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 556

Ý Kiến bạn đọc