Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Về cái gọi là “còn giới hạn về tự do tôn giáo” ở Việt Nam

Những năm gần đây, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thường có những báo cáo phúc trình về tình hình tôn giáo quốc tế. Ngày 10-8-2016, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố Phúc trình tự do tôn giáo quốc tế năm 2015, trong đó có phần nói về tình hình tôn giáo ở Việt Nam với những đánh giá không khách quan và chưa chính xác.

Ngày 19-8-2016, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình đã khẳng định báo cáo tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2015 của Hoa Kỳ có “một số đánh giá không khách quan, trích dẫn những thông tin sai lệch về Việt Nam”.

* Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo

Thực ra không phải gần đây mà đã từ lâu, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến các hoạt động tôn giáo và ban hành những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động đúng tôn chỉ mục đích và Hiến pháp, pháp luật. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của người dân. Những quan điểm nhất quán này đã được ghi rõ ràng trong Hiến pháp, kể từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013.

Trong các văn kiện của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011) – một văn kiện có giá trị pháp lý cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng ghi rõ: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”.

Ngày 12-3-2004, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW “Về công tác tôn giáo”. Đến nay, nghị quyết này vẫn được xem là “kim chỉ nam” cho công tác tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Nghị quyết 25-NQ/TW khẳng định những chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tôn giáo. Nghị quyết khẳng định tín ngưỡng và tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc. Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật được bảo đảm. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Việc mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật được tạo điều kiện thuận lợi. Nghị quyết cũng chỉ rõ việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật…

* Thực tiễn sinh động về tôn giáo ở Việt Nam

Tất nhiên, sẽ có người nói rằng nói và làm là một khoảng cách, những quy định đầy đủ và rạch ròi như vậy nhưng thực hiện chưa hẳn đã đúng theo quy định. Đúng vậy, nhưng lại phải nhắc lại một câu nói quen thuộc của người Việt Nam, đó là “trăm nghe không bằng một thấy”. Thực tiễn sinh động về tôn giáo ở Việt Nam mới là minh chứng thuyết phục nhất về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Ở Việt Nam hiện nay, những ngày lễ lớn của các tôn giáo, nhất là lễ Phật đản, Vu lan, Noel… không chỉ là của những người theo các tôn giáo mà trở thành ngày vui chung, ngày hội lớn của mọi người. Nếu không có những chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, làm sao có những hình ảnh sinh động này. Ngày lễ Noel trong dòng người nườm nượp đổ về các nhà thờ không chỉ có những người theo đạo Công giáo hoặc Tin lành, mà còn có đông đảo những người theo các tôn giáo khác hoặc không theo tôn giáo nào. Cũng vậy, ngày lễ Phật đản của Phật giáo đâu phải chỉ có người theo đạo Phật mới đến chùa. Có lẽ vì vậy mà trong những năm qua, chùa chiền, nhà thờ mọc lên ở khắp mọi nơi, số tín đồ của các tôn giáo ngày một tăng lên không ngừng, nhiều tôn giáo, hệ phái tôn giáo mới đã được Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện cấp phép hoạt động. Các tổ chức tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, đúng tôn chỉ, mục đích luôn được Nhà nước và cấp chính quyền quan tâm, tôn trọng và tạo điều kiện hoạt động, phát triển.

Trước đây, khi có dịp về thăm Việt Nam, Phó tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Cao Kỳ đã từng phát biểu: “Không phải riêng tôi, mà cả trăm, cả ngàn Việt kiều về thăm quê hương đều thấy chùa chiền được xây cất ngày càng nhiều, người đi chùa, đi nhà thờ đông nghìn nghịt, hoàn toàn không có sự cấm đoán. Nếu mà nói về tự do tôn giáo thì thật sự có tự do, không ai có thể chối cãi được”. Kể từ cuộc về thăm này của ông Nguyễn Cao Kỳ, hòa chung với sự hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mọi mặt của đất nước, hoạt động tôn giáo ở Việt Nam ngày càng sôi động, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo ngày càng cởi mở hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động tôn giáo.

Quyền con người, quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam được bảo đảm ngày một tốt hơn; các tôn giáo đã phát triển nhanh cả về số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự. Nếu như năm 2006, cả nước mới có 6 tôn giáo và 16 tổ chức tôn giáo được công nhận và đăng ký hoạt động, thì đến nay đã có 41 tổ chức thuộc 14 tôn giáo khác nhau được công nhận với khoảng 22 triệu tín đồ, khoảng 80 ngàn chức sắc, nhà tu hành, gần 114 ngàn chức việc; gần 26 ngàn cơ sở thờ tự, cơ sở sinh hoạt tôn giáo; 101 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành và trên 760 cơ sở hoạt động từ thiện nhân đạo (Thông tin Công tác Mặt trận 10-2015). Các cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo với đủ các cấp học đã và đang hoạt động với sự giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương. Các ấn phẩm về tôn giáo được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi trong in ấn và phát hành. Nếu thực sự “còn giới hạn tự do tôn giáo ở Việt Nam” thì các tổ chức tôn giáo có thể xác lập được vị trí, phát triển ổn định như hiện nay, đời sống và sinh hoạt tôn giáo của người dân có sôi động, tự do như hiện nay?

Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nhất quán rằng, ở Việt Nam không có cái gọi là tù nhân lương tâm, tù nhân tôn giáo; ở Việt Nam chỉ có những người bị bắt, bị xử phạt vì vi phạm pháp luật Việt Nam. Thực tế từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và thực tiễn sinh động về tôn giáo ở Việt Nam chính là minh chứng hùng hồn nhất bác bỏ những đánh giá không khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.

Trung Kiên
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 419

Ý Kiến bạn đọc