Tản văn

Về Bến Tre

 

Từ mấy chục năm về trước, lớp tuổi thanh thiếu niên chúng tôi đã có khái niệm “về Bến Tre”, thay vì vô Bến Tre hay ghé Bến Tre. Khái niệm này bắt nguồn từ truyền thống kết nghĩa giữa một tỉnh miền Nam với một tỉnh miền Bắc trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Từ nhỏ tôi đã thuộc lòng câu “Vĩnh Phú – Bến Tre; Long Châu Sa”. Bởi vậy có một niềm ao ước là được về thăm những tỉnh kết nghĩa với tỉnh mình. Trường học sinh miền Nam số 8 ở Tam Dương (Vĩnh Phúc bây giờ) các anh chị, các em người Bến Tre học ở đó, gặp gỡ chúng tôi, đều nói coi Vĩnh Phú là quê hương thứ hai của họ và có mối quan hệ rất mật thiết. Sau giải phóng miền Nam 30-4-1975, tôi đang đóng quân ở Huế, một chiều mùa thu nắng dịu, có tin nhắn qua điện thoại đơn vị: “Ra bến xe Nguyễn Hoàng ngay gặp người nhà!”. Từ số 2 Trần Cao Vân nơi tôi ở, qua cầu Phú Xuân đi ngược lên chừng cây số là tới bến xe Nguyễn Hoàng. Ở đấy có một chiếc xe khách mang biển Vĩnh Phú. Cô bạn thân thiết vốn là thủ thư Thư viện tỉnh ôm chầm lấy tôi, mừng bạn trai vẫn còn sống.

- Em đi đâu mà lạ vậy?

- Mang sách về Bến Tre lập Thư viện mới! Đi với em không?

Lời mời lúc đó thật hữu tình, nếu như thành phố không còn chế độ quân quản, nhất định tôi sẽ xin phép “về Bến Tre” với nàng vài ngày. Cô bạn thân Nguyễn Minh Thư lập thư viện trong Bến Tre, tỉnh kết nghĩa với Vĩnh Phú, được vài năm rồi ra Bắc lại, sau này là Giám đốc thư viện tỉnh Vĩnh Phú. Tôi lỡ hẹn với người đẹp, để rồi sương gió cuộc đời chia cách mãi, chưa về Bến Tre theo lời hẹn, để 35 năm sau, tôi mới có dịp hội ngộ Bến Tre.

Tháng 6-2010, chúng tôi có mặt tại Bến Tre dự trại sáng tác văn học của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tôi mê mẩn ngay từ khi đặt chân về xứ dừa. Xe mới chạy qua cầu Hàm Luông, con mắt đã bị choáng ngợp bởi hàng hàng lớp lớp dừa nối nhau chạy dài tít tắp. Tình cờ đọc được con số 50.000 ha dừa của Bến Tre bị hủy diệt do chất độc dioxin năm xưa, không thể tưởng tượng nổi, những cánh rừng dừa chết rũ vì chất độc màu da cam thê thảm như thế nào. Hơn 35 năm qua, mạch đất phù sa của 3 cù lao đã vực lại màu xanh bất diệt. Có thể là máu của bao nhiêu anh hùng liệt sĩ đã kịp lọc rửa những di hại chiến tranh, cho triệu triệu thân dừa hồi sinh.

Anh Nguyễn Thái Xây năm đó đương nhiệm Chủ tịch UBND tỉnh, là một người rất mê đàn và hát vọng cổ, đã thân tình đến thăm chúng tôi. Anh giới thiệu rất kỹ về sức sống của hàng triệu cây dừa Bến Tre, về giá trị kinh tế của dừa với địa phương, rồi khẳng định: “Nếu cảng Giao Long hoàn thành, kinh tế Bến Tre nhất định khởi sắc. Người lãnh đạo đầu tỉnh mê văn nghệ đó không nói theo kiểu “văn nghệ” cho vui, nếu ai tới Bến Tre bây giờ, đi dọc đại lộ Huỳnh Tấn Phát rộng thênh thang ra thăm cảng Giao Long tấp nập tàu hàng mới thấy được sự khởi sắc của một vùng kinh tế thuần nông đang chuyển mình lên hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Cách cảng chừng 2 cây số, khu công nghiệp Giao Long cũng đang hoạt động, mang lại công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động. Bến Tre đã chuyển mình, thay đổi. Một lần tôi từ Tây Ninh về Bến Tre với nhà thơ Khaly Chàm. Buổi tối nhậu “quắt cần câu” với cố nhà thơ Cát Hoàng, chủ nhà đố khách:

- Chớ tỉnh nào 3 Cù, 5 Sông?

Tôi dân Bắc, không rành địa lý Nam bộ lắm, nhìn qua Khaly Chàm thấy hắn cũng lắc đầu mần thinh. Lúc đó Cát Hoàng mới vỗ đét lên đùi, la:

- Bến Tre chứ đâu! Vùng đất này được tạo nên nhờ 3 cù lao là An Hóa, Bảo và Minh! Còn 4 con sông lớn ở đây là Hàm Luông, Cổ Chiên, Mỹ Tho và Ba Lai! Phạt mỗi tên một ly! Zô!

So-611--Anh-minh-hoa---Ve-Ben-Tre---Anh-1

Trước đó, tôi về huyện Thạnh Phú, cũng có tò mò tìm hiểu vài địa danh vùng đất mới. Có những cái tên rất gợi như cồn Phượng do ông Mười Phượng ra khai khẩn rồi kêu bà con ra lập nghiệp. Cồn Đâm đã thành một khu dân cư thuộc ấp Thạnh Lộc, xã Thạnh Phong, đang dần mở mang đất bãi, nhà cửa, ổn định cuộc sống. Vậy mà nguồn gốc cái tên nghe thấy buồn. Mấy chục năm trước, khi cồn mới nổi, một số dân ra cắm cọc, giành đất dẫn đến xô xát, đâm chém lẫn nhau. Lần đó tôi có hỏi bác nông dân tên Hai Tấn (hay Tuấn gì đó), rằng chuyện đó có thật hay không, ông đưa tay ngang cần cổ, khẳng định:

- Nếu sai cắt cần cổ tui luôn nè!

Chuyện cồn Đâm, sau này ra Bắc, tôi có dịp kể cho cô bạn Nguyễn Minh Thư ở thư viện tỉnh Phú Thọ, cô gạt đi:

- Nhảm! Hồi mình ở Bến Tre, có nghe gì đâu?

- Ôi trời! Năm đó chắc em về Bắc rồi! Cồn Đâm mới nổi hồi năm 1980-1981 gì đó thôi!

Tôi hứa với cô bạn, có dịp về Bến Tre sẽ cất công đi Thạnh Phú hỏi cho kỹ vụ này. Đường đi bây giờ cũng dễ hơn trước, phà Cầu Ván đã dừng từ năm 2012, giờ đã có một cây Cầu Ván thật sự bắc qua sông Eo Lói, thuận đường cho tôi về thăm lại mấy anh em đồng hương ở Đồn biên phòng 602 ở Cổ Chiên, được thăm lại cửa biển Khâu Băng lộng gió và dáng mây trắng tựa rồng bay ngoài biển. Cách đây 9 năm đến Khâu Băng, chúng tôi vẫn phải qua 2 bến phà Tân Phú và phà Cầu Ván. Bắt đầu đến ấp 5 xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú, màu xanh của những rừng dừa bát ngát thưa dần. Con đường rải nhựa cũng lùi lại nhường cho lối đi mới đầy bụi đỏ và ổ trâu, ổ gà. Điểm Trường THCS và Tiểu học Đại Thôn, xã Thạnh Phong lưa thưa mấy mái nhà. Đất trơ trụi cỏ úa và những hàng dừa nước khô ngọn.

- Nhưng bây giờ đổi thay nhiều rồi! Vô đi rồi biết!

Một bạn viết ở Bến Tre nhắn tôi như vậy. Lòng chợt bồi hồi nỗi nhớ, ngày ấy tôi cùng sánh vai với người đẹp, nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu chân không mang dép, lội dọc ngang những thửa ruộng khô mặn, nứt nẻ ngang dọc. Lội theo lối mòn dẫn vào Đồn biên phòng 602, ngắm mấy cây phượng già tỏa bóng mát và vườn rau xanh mướt, bụi bình bát mơn mởn, giàn bí đao lúc lỉu trái mẹ trái con. Lại được cưỡi tàu biên phòng hướng ra cửa biển, xuất phát từ ngay bến tiếp nhận vũ khí năm xưa, vượt nhánh sông nhỏ chừng 2 cây số để ra tới sông Hàm Luông. Càng ra xa, sóng nước càng mở mênh mông, hai bên bờ những hàng bần lừng lững cắm rễ xuống nước, san sát đứng xếp thành rào bao chắn sóng. Tôi đã từng tiếp xúc nhiều với cây bần ở sông rạch, cù lao miền Tây Nam bộ. Đã từng ăn những trái bần chua chát, khi chín rụng đầy mép nước. Nhưng chưa thấy nơi nào bần đứng đông đúc tạo nên cảnh đẹp mê hồn như ở cửa vàm Khâu Luông này. Hoặc ghé chợ Giao Thạnh mua mấy cặp cua về làm quà, vì cua ở đây rẻ lắm, nghe đâu có 150 ngàn một ký, mà lỡ đụng cua đã rụng càng thì giá chỉ còn 50 ngàn một ký thôi. Mấy người bạn ở đó có cảnh báo tôi, coi chừng mua phải cua rụng càng mà vẫn trả giá như cua nguyên con, vì một số người họ có cách gắn càng cua hay lắm, khách lạ có mắt cũng như… mờ thôi.

Đầu tháng 7-2010, tôi may mắn về An Đức, Ba Tri đúng dịp lễ hội Nguyễn Đình Chiểu. Một thời trẻ thơ cắp sách tới trường, chúng tôi thuộc lòng những trích đoạn truyện thơ “Lục Vân Tiên”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, mà mấy chục năm sau mới có vinh dự được hiện diện trước phần mộ và Khu tưởng niệm cụ Đồ. Ba Tri những ngày này mở rộng tấm lòng đón bà con cả nước về dự lễ hội, để tưởng nhớ tới một nhân sĩ lớn với tuyên bố bất hủ: “Dù đui mà giữ đạo nhà”. Tôi và nhà văn Phùng Văn Khai bữa đó ngồi rất lâu trước ngôi mộ đơn sơ của cụ Đồ, thầm khấn khứa xin cụ phù trợ cho sự nghiệp văn chương của lớp hậu thế chúng tôi.

- Hai lão này khấn vái lâu thế, năm nay chắc vào giải “Nobel Việt”!

Không nhớ ai nói vui như vậy, nhưng quả thật sau đợt ấy, tôi được ra Hà Nội, vào Nhà hát Lớn nhận giải thưởng cuộc thi viết về “Sự hi sinh thầm lặng” của ngành y tế, được truyền hình trực tiếp và đêm đó nhận rất nhiều lời chúc mừng qua điện thoại của bạn văn cả nước, trong đó có cả bạn Bến Tre. Nữ nhà văn Nhất Phượng dịp đó cũng chắp tay trước mộ nữ sĩ Sương Nguyệt Anh rất lâu. Chị nói từ hồi nào tới giờ, vẫn biết có nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái cụ Đồ Chiểu, từng trèo lên tận đỉnh núi Bà Đen, Tây Ninh đề thơ “Vịnh bạch mai trên núi Điện Bà”, một bài thơ nổi tiếng được nhiều văn hữu hồi đó đề họa. Hai tác giả Tây Ninh chúng tôi ước gì cũng họa được một bài thơ tả cảnh sắc núi Bà Đen hiện tại để trình trước mộ nữ sĩ, mà bó tay, nguồn mạch văn thơ biến đi đằng nào.

- Thôi em đừng buồn! Tụi mình đứng trước những ngọn núi lớn tài năng, thì cảm hứng bị mất đi cũng là chuyện thường. Thôi về nhà viết sau, đăng báo trình bà nữ sĩ sau cũng được!

Tôi an ủi bạn Nhất Phượng. Rồi chúng tôi đi từ huyện Chợ Lách (Cù lao Minh) sang Cù lao An Hóa. Hồi đó còn phải qua phà Tân Phú. Trước đó, từ thành phố Bến Tre đi tới đây phải qua 3 cây cầu sắt nhỏ lát ván bắc qua 3 con rạch trên Quốc lộ 57. Giờ đây cả 3 cây cầu đã được xây bê tông cốt thép, lớn hơn, dài rộng hơn, khang trang, thuận tiện lắm. Buổi trưa đó trời xìu xìu ển ển, nhưng không khí bạn hữu rất vui, cởi mở. Chúng tôi được dẫn tới khu vườn riêng nhà vợ chồng anh Ba Lẹ tại ấp Hàm Luông. Vườn trái cuối vụ nên chỉ còn rải rác mấy chùm chôm chôm chín muộn. Bữa trưa toàn món quê, đủ các loại rau lá lốt, cải xanh, sà lách, đọt trâm, đọt bứa, lá xương sông, lá xoài… để ăn với bánh xèo, cá diêu hồng hấp cả con. Rượu chuối hột vừa thơm vừa ngọt. Chủ khách sau bữa cơm đã trở nên thân mật trong chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn. Mấy em chủ nhà ca hát “hết mình”, trong khi một vị khách chơi ghi-ta thì ông chủ nhà biểu diễn trên giàn trống. Mưa hoài không dứt mà chúng tôi phải đi, che tàu lá chuối, chạy lúp xúp dưới mưa để ra ô tô. Một gốc dừa làm tôi chú ý. Cây dừa có dáng đẹp, lại đứng ở khúc cua đường, chùm lá buông dài như mái tóc người con gái Bến Tre. Buổi chiều đó, ngồi đụt mưa ở bến phà Tân Phú bên Cù lao An Hóa, thấy rổ bắp luộc của cô chủ quán nước thơm ngon quá thì mua mấy trái. Hai ngàn đồng một trái vừa vừa, hạt bắp mềm và ngọt, không hề bỏ đường hóa học và nát nhừ như bắp thành phố. Vừa cạp bắp, vừa nghe thêm một thông tin về những mạch đất riêng của từng cù lao, “Bắp An Hóa, mì Cù lao Minh”. Tức là cây bắp mang từ Cù lao An Hóa, chỉ vượt qua con sông Hàm Luông, sang trồng ở Cù lao Minh thì sự ngon ngọt không bằng bên này. Cũng như củ mì bên Cù lao Minh, vừa bở vừa thơm sẽ dở hơn nếu đem trồng bên Cù lao An Hóa. Cây dừa ở đây cũng mang thương hiệu Bến Tre, đang vươn xa ra thị trường trong và ngoài nước. Con người ở đây mang trong mình dòng máu quật khởi của quê hương đồng khởi. Đi đâu, làm gì, không bao giờ thay đổi bản chất. Đó cũng chính là mạch đất thiêng từ thuở xa xưa cha ông mang gươm đi mở cõi, đã nhờ vượng khí mà hình thành nên bao nhân tài, hào kiệt…

Khí thiêng từ mạch đất xứ dừa còn nhiều lắm. Muốn hiểu cho hết những Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Thị Định, hiểu về những đổi thay từng ngày của quê hương đồng khởi, tôi biết mình còn phải về Bến Tre nhiều lần nữa. Vậy mà những cuộc hẹn theo thời gian cứ thưa dần, do thời gian, sức khỏe và công việc. Tuy vậy, tình yêu Bến Tre còn nồng ấm trong tim, tôi vẫn hứa về thăm lại…

Tháng 7/2020

Phùng Phương Quý
(Tỉnh Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 611

Ý Kiến bạn đọc