Văn học nước ngoài

Văn học và những vấn đề nóng bỏng trong cuộc sống

DANIL GRANIN (SINH NĂM 1919) – ANH HÙNG LAO ĐỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, GIẢI THƯỞNG QUỐC GIA, NGƯỜI ĐƯỢC TẶNG HAI HUÂN CHƯƠNG LÊNIN, HAI HUÂN CHƯƠNG CỜ ĐỎ, HUÂN CHƯƠNG SAO ĐỎ VÀ NHIÊU HUÂN CHƯƠNG KHÁC. ÔNG CŨNG ĐƯỢC TẶNG GIẢI THƯỞNG HENRICH HEINE, LÀ VIỆN SĨ VIỆN NGHỆ THUẬT ĐỨC, TIẾN SĨ DANH Dự CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHÂN VĂN PETERSBURG..’. GRANIN TỪ LÂU ĐÃ QUEN THUỘC VỚI NHIÊU THẾ HỆ ĐỘC GIẢ VIỆT NAM QUA CÁC TÁC PHẨM KỸ SƯ LỒBANỒP, MƯA TRÊN THÀNH PHỐ LẠ, BỨC TRANH, KỲ LẠ THẾ CUỘC ĐỜI NÀY, BÒ RỪNG… ĐƯỢC DỊCH RA TIẾNG VIỆT TỪ NHỮNG NĂM 60 THẾ KỶ TRƯỚC.

MỖI MỘT CUỘC TIẾP XÚC VỚI ÔNG BAO GIỜ CŨNG LÀ MỘT Sự KIỆN ĐỐI VỚI NHỮNG AI YÊU THÍCH VĂN HỌC. SAU ĐÂY LÀ CUỘC TỌA ĐÀM MỚI NHẤT GIỮA ÔNG VÀ PHÓNG VIÊN TỜ LITERATURNAJA GAZETA (BÁO VĂN)

 

Thưa DanilAleksandrovich, đường pho Malaja Posadskaja, nơi ông hiện đang song, cách đây không lâu còn mang tên anh em nhà Vasil’ev. Phải chăng chúng ta đã quá hăng hái trong việc đập phá tất cả những gì đã gắn bó chúng ta với cái quá khứ Xô viết?

Trong trường hợp này tôi có thái độ bình tĩnh đối với việc đổi tên. Mặc dầu ở đây có nhiều cái gắn liền với nghệ thuật điện ảnh, với những người đã tạo ra nó, chẳng hạn với nhà đạo diễn điện ảnh vĩ đại Grigori Kozinsev. Để tỏ lòng kính trọng ông, có thể đặt tên ông cho một đường phố. Việc đổi tên đôi khi có lý do xác đáng về mặt lịch sử, nhưng đôi khi thì không có. Chẳng hạn tại sao lại đổi tên đường phố Gogol? Vả lại đường phố này có từ trước cách mạng cơ mà! Hay đường phố Kuibyshev – một đường phố mà Kuibyshev chả có liên quan gì cả. Thậm chí nếu sẽ phục hồi cái tên ấy thì cũng chẳng ai biết nhà hoạt động đó là ai. Việc phục hồi cái tên đường phố Quý tộc cũng chả liên quan gì với những người hiện nay đang sống ở đấy. Do đó cần có thái độ thận trọng đối với việc đổi tên.

Nhưng có một môn khoa học về địa danh có nhiệm vụ điều chỉnh các tên gọi, chú ý tới địa hình, tới lôgích lịch sử khi đặt một cái tên này hay cái tên khác cho các đường pho.

Môn địa danh học từ lâu đã không được chú ý tới. Người ta treo những biển tên đường phố một cách tùy tiện vì những suy tính nhỏ nhen, xu thời. Vấn đề này rất quan trọng. Nguyên tắc “loại bỏ tất cả những cái tên gọi dưới thời Xô viết” là không thỏa đáng. Có những tên gọi dưới thời Xô viết rất hay và hợp lý và có những cái tên mất đi thật tiếc. Bởi lẽ đó cũng là một phần của lịch sử. Cuộc sống Xô viết đã đi vào dĩ vãng và không trở lại. Về nhiều mặt, nó đã mất đi một cách uổng phí. Bằng cách làm như vậy chúng ta đã từng khước từ tất cả những cái có trước cách mạng, dưới thời Sa hoàng. Bây giờ chúng ta lại níu lấy tất cả, cả những thứ ấy. Cũng như bây giờ chúng ta đối xử với cuộc sống Xô viết một cách ngu xuẩn như thế. Và nhiều cái chúng ta nói bậy. Mỗi một chế độ xã hội chỉ có thể tồn tại trong trường hợp nếu như trong đó có những nhân tố tích cực nào đấy. Dưới thời Xô viết những nhân tố này rõ ràng là có. Bây giờ chúng ta làm ra vẻ như trước đây không có cái gì tốt đẹp cả.

Có lẽ việc bảo vệ những gen “tích cực” của quá khứ cũng tạo điều kiện cho xã hội hiện đại tiến lên phía trước và nuôi niềm hy vọng. Nếu không thì không còn ý nghĩa của sự tồn tại nữa. Tiện thể, có lần ông đã nói về “những niềm hy vọng quá đáng” mà cần phải loại trừ. Như thế là rất gần với chủ nghĩa hoài nghi rồi còn gì…

Tôi không muốn làm kẻ hoài nghi cũng như không muốn làm kẻ mơ ước hão huyền, làm một người quá lạc quan, luôn luôn tin vào điều “càng ngày càng tốt đẹp”. Đó là một việc làm kém hiệu quả bởi lẽ những người như vậy thường vấp phải sự thất vọng cay đắng.

Nhưng chính trong những tiểu thuyết đầu tiên của ông: Đi vào giông bão, Những người tìm tòi (tức Kỹ sư Lôbanov), niềm hy vọng chiếm ưu thế.

Nó gắn bó khăng khít với chất lãng mạn của các nhân vật Sergei Krylov và Oleg Tulin von là một nét tiêu biểu cho thời hậu chiến.

Tất nhiên rồi. Và dầu sao tôi vẫn cứ thích hy vọng vào con người, có thể anh ta không đáp ứng lòng hy vọng, nhưng khi anh ta được tin cậy thì ở anh ta xuất hiện sức mạnh mới và những khả năng mới. Trong công việc của mình ở Viện khoa học, tôi nhận thấy rằng khi người lãnh đạo đặt niềm hy vọng vào con người, tuy anh ta có đuối sức nhưng anh ta sẽ làm được nhiều hơn những gì mình có thể. Không ai trong chúng ta biết được giới hạn những khả năng của mình. Đôi khi chỉ trong những tình huống nguy cấp mới bộc lộ ra những nguồn sức mạnh tinh thần khiến cho chính con người cũng phải ngạc nhiên về bản thân mình. Trong thời kỳ thành phố Lêningrad bị phong tỏa, tôi thấy rõ ràng mọi người đã sống sót bất chấp cả những quy luật y học, cái chết đã lùi bước trước sức mạnh của tình yêu.

Vào những năm 60 khoa học cũng mang tính chất lãng mạn. Và bỗng nhiên xảy ra một bước ngoặt, khi liên minh giữa các nhà trữ tình và các nhà vật lý bị tan rã. Khoa học bị gạt sang một bên. Ở đây nguyên nhân là gì?

Với khoa học cũng như với nghệ thuật, đã diễn ra những biến đổi rất quan trọng. Khoa học ở nước ta bị đẩy xuống hàng thứ ba, điều đó đã dẫn tới tai họa mà chúng ta phải hứng chịu. Trong nhiều lĩnh vực, chúng ta đã đánh mất đi trình độ phát triển cao. Trước khi bom nguyên tử xuất hiện, trong khoa học mọi người phần lớn đã làm việc vì nhiệt tình, do tính tò mò, do tình yêu, do những thôi thúc chân thành. Chẳng bao lâu sau những người thực hiện bước đột phá trong khoa học và kỹ thuật của chúng ta được đề cao, được ca tụng, được coi là những anh hùng chủ chốt của đất nước, là chỗ dựa của xã hội. Quả vậy: Bom nguyên tử này, nhà máy điện nguyên tử này, Internet này, máy tính này – tất cả những cái đó là kết quả của những thành tựu to lớn trong khoa học. Chúng ta đã đứng ở hàng đầu. Và cả trong sinh học, cả trong các công trình khoa học về vật lý học. Sau cuộc cải tổ perestroika, người ta đã quyết định rằng khoa học không phải là cấp thiết. Khoa học không đem lại thu nhập nhanh chóng, không thích hợp cho việc kiếm chác, như vậy là không cần thiết. Bởi thế có thể trả lương cho các giáo sư, tiến sĩ như trước đây, thí cho họ ba, bốn nghìn rúp và dìm họ xuống mức bần cùng hóa. Các viện nghiên cứu cũng nghèo xác xơ. Không có bất kỳ một sự trợ cấp nào. Các cơ sở khoa học này đang ngắc ngoải và một số đã chết hẳn. Khoa học không còn mang tính chất phổ cập nữa. Hiện nay hình như thanh niên bắt đầu quay trở lại với khoa học. Do những nguyên nhân khác nhau: Phải chăng vì có nhu cầu đối với các chuyên gia của chúng ta đang sống ở nước ngoài hoặc phải chăng vì xã hội chúng ta rút cuộc đã thấm thía rằng chỉ có những nước nào yêu quí khoa học, biết tôn trọng và nhận thức được tầm quan trọng của nó thì mới có thể cầu mong sự tiến bộ. Khoa học sẽ hồi sinh, nhưng biết đến bao giờ? Những tổn thất quá lớn, chúng ta không biết hết được qui mô của chúng, chẳng hạn việc “chảy máu chất xám” vào thập kỉ gần đây như thế nào…

Thưa Danil Aleksandrovich, những kiến thức khoa học của ông, von song của ông trong ngành năng lượng và sau hết là văn học mà ông đã dành cho biết bao nhiêu năm tháng, còn trong những cuốn tiểu thuyết của mình, ông đã kết hợp thế giới của nhà khoa học và thế giới của nhà thơ – có lẽ tất cả những cái ấy là bí quyết của tuổi thanh xuân trong nghề viết văn của ông.

Tôi xin nói với anh điều này: Chính tôi cũng ngạc nhiên là cho đến nay tôi được nghe mọi người nói rằng những cuốn sách của tôi về nhiều điều đã xác định con đường đời của họ, việc họ đi vào khoa học. Không phải do những phẩm chất nghệ thuật xuất chúng trong các tác phẩm của tôi, mà do có sự trùng khớp thế thôi. Đây là một yếu tố rất quan trọng của văn học sự trùng khớp. Ngoài ra, cho đến nay chính tôi vẫn tin tưởng một cách thành tâm rằng những con người sáng tạo, kể cả sáng tạo khoa học – đó là những người ít bị vướng mắc vào thói kiếm chác, và tệ đầu cơ, vào những suy tính bon chen danh lợi… Viện nghiên cứu khoa học, xét về một mặt, mang lại cho họ sự thỏa mãn đáng kể, nhưng mặt khác, họ lại lâm vào tình thế đấu tranh với sự thiếu hụt tài năng của mình, vào sự thiếu tin tưởng – liệu họ có đủ ý chí để đạt tới mục đích hay không, và khi ấy, họ đắm mình vào cái thế giới chưa hề biết với sự nỗ lực ghê gớm, với sự căng thẳng tột độ đến nỗi tất cả những cái khác đều trở nên chẳng có ý nghĩa mấy. Đó là một phần quan trọng và tuyệt vời của đời sống khoa học. Bởi lẽ con người sáng tạo là Con Người viết hoa. Con người ấy được sinh ra cho tình yêu và sự sáng tạo.

Truy kích Phát-xít – HS FEDOR IVANOVICH DERYAZHNYI – Ảnh: http://stardaily.vn

Xin quay trở lại với nền văn học Xô viết… Trong đó, như một dãy núi noi lên sừng sững một lớp nhà văn kiệt xuất nếu thiếu họ thì không thể có khái niệm về văn hóa nói chung, theo cách hiểu mang tính chất lịch sử của nó. Đang ngự trị hiện nay là một nền văn học hoàn toàn khác và không phải có những thay đoi về phương diện xã hội trong xã hội (mặc dầu cũng có điều đó) mà do sự xa lạ với thời đại hùng tráng của chúng ta. Tôi dám nói rằng do tính phi chính trị.

Có chuyện gì vậy?

Như các bạn thấy đấy, có một nhóm nhà văn khá lớn hí hửng cố chứng minh rằng không có nền văn học Xô viết, còn cái đã tồn tại thì chẳng có giá trị gì. Trên thực tế thì ngược lại. Chính nền văn học Xô viết, nền điện ảnh Xô viết, nền sân khấu Xô viết, nền âm nhạc Xô viết là có giá trị nhất và quan trọng nhất trong lịch sử nghệ thuật của nước Nga và không chỉ của Nga mà còn của cả thế giới. Có thể kể ra hàng chục cái tên, bắt đầu từ những nhà văn từng bị truy nã nhưng vẫn được in như Platonov, Paustovski, Prishvin, Bulgakov, Sholokhov, Olesha, Tynjanov, Shklovski, Kazakov, Zoshenko. Một nền thơ ca tuyệt vời – Akhmatova, Majakovski, Tvardovski, Sluski, Samoilov. Chỉ cần đặt lên bàn cân phần văn học Xô viết và phần văn học hậu Xô viết và thử so sánh mà xem. Trong âm nhạc cũng như vậy: Khachaturjan, Prokofev, Shostakovich, Svirilov, Gavrilin – tất cả những vị này đều sáng tác dưới thời Xô viết. Trong điện ảnh và trong nghệ thuật sân khấu cũng như thế: Tairov, Efros, Vakhtangov, Tovstogov, Meierhold. Cách đánh giá tiêu cực đối với nghệ thuật ở thời kỳ Xô viết là không thỏa đáng. Đấy là tôi chưa nói đến các nhà văn dân tộc vĩ đại như Rasul Gamzatov, Kaisyn Kuliev, Mustai Karrim, Chingis Aitmatov… Chỉ cần chăm chú quan sát và hiểu rằng đó là một thời kỳ có nội dung phong phú như thế nào. Đã từng có một thế kỷ Bạc trong thơ ca nhưng, cho dù điều này lạ lùng đến mấy đi nữa, cũng có một thời kỳ Hoàng kim trong điện ảnh, trong văn học dưới thời Xô viết. Có thể điều này có vẻ cường điệu nhưng chẳng nhẽ không phải như vậy sao? Hãy nhớ tới các nhà văn viết về chiến tranh: Viktor Nekrasov, Grigori Baklanov, Juri Bondarev, Viktor Astafev… Họ có bầu nhiệt huyết hướng tới mọi người với nỗi đau xé lòng và sự phản kháng mà bây giờ không có: “Tôi muốn nói lên sự thật đích thực về chiến tranh!”. Điều đó cũng liên quan đến các tác giả của dòng văn xuôi viết về nông thôn và thành thị… Đó là thứ văn xuôi chân thực, mang đậm dấu ấn cá tính và được trải nghiệm. Đó là một ưu thế rất lớn đã bị mất đi. Tại sao hiện nay văn học lại xa rời những vấn đề nóng bỏng nhất của cuộc sống? Tại vì nó không quan tâm đến những vấn đề xã hội, những vấn đề phản kháng. Các nhà văn thường trả lời: “Đó không phải là công việc của văn học, chúng tôi không can thiệp vào chính trị”.

Tôi cho rằng đó là một luận điểm rất đáng ngờ. Trước đây văn học buộc phải thay thế cho triết học. Nhưng tôi muốn hỏi các bạn rằng hiện nay chẳng lẽ đã xuất hiện thứ triết học của mình, lịch sử của mình hay sao? Cho tới nay chúng ta chưa có lịch sử về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, lịch sử về cuộc sống Xô viết, và cho tới nay chưa có lịch sử về thời hậu Xô viết. Chúng ta quá thừa thãi nhà văn chứ không thừa độc giả.

Thế ai có lỗi trong việc này?

Tôi không rõ. Tôi chỉ biết rằng loại độc giả mà tôi am hiểu, mà tôi cùng sống phần lớn đời mình, loại độc giả từng viết thư cho tôi, từng đến dự những buổi giao lưu văn học, những buổi thảo luận, từng nổi giận hay vui sướng, từng phẫn nộ hay chào đón – loại độc giả này hiện nay khá hiếm. Hoặc họ hoàn toàn biến mất. Liệu họ có quay trở lại hay không – điều này tôi chưa rõ…

(Theo Literaturnaja Gazeta)

DANIL GRANIN (Nga)
LÊ SƠN (dịch và giới thiệu)


 

 

 

 

 

Ý Kiến bạn đọc