Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Văn học và biên tập văn học

 

Từ bài báo Ngộ sự văn chương ngộ nhận văn chương của Lê Thọ Xuân trên Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 624-625, tháng 12-2020, chúng tôi tìm đọc quyển hồi ức tuổi thơ Tôi và làng tôi của nhà văn Lê Bá Thự ở cả hai bản in: Bản tái bản của NXB Hội Nhà văn năm 2019 và bản mới in của NXB Thanh Hóa năm 2020, có thể gọi là bản in lần thứ ba. Sau khi đọc văn bản tác phẩm và các lời bình luận, chúng tôi thấy đây là vấn đề rất đáng quan tâm. Có thể xem là một ví dụ kinh điển trong hoạt động sáng tạo văn hóa, văn học; từ sáng tác văn học đến biên tập xuất bản, bình luận văn học, nghiên cứu văn hóa văn học và giáo dục đào tạo. Vừa có thông tin Luận văn Tâm thức văn hóa làng trong Tôi và làng tôi của nghiên cứu sinh Mai Thị Nhài; người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Cao Thị Hồng được bảo vệ thành công ở Đại học Thái Nguyên do PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp đương kiêm Viện trưởng Viện Văn học – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Việt Nam – làm Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn.

Chúng tôi xin không bình luận về giá trị tác phẩm trên, vì đấy là lĩnh vực của nghiên cứu – phê bình văn học. Chúng tôi chỉ khảo sát dưới góc độ biên tập xuất bản sách văn học. Vì nghĩ rằng biên tập văn học có vai trò quan trọng trong quá trình từ bản thảo của tác giả đến tác phẩm, tức xuất bản phẩm, tức quyển sách văn học, để nhập vào đời sống văn học, cũng là đời sống văn hóa. Người biên tập có thể giúp tác giả hoàn thiện, nâng cao giá trị của tác phẩm. Ngược lại, cũng có thể đưa đến những điều đáng tiếc.

Khảo sát Tôi và làng tôi ở bản in lần thứ ba, NXB Thanh Hóa – 2020, chúng tôi thống kê được 190 trường hợp mà, nếu nhà biên tập nhận ra thì có thể trao đổi với tác giả để hoàn thiện, nâng cao giá trị của tác phẩm. Bản khảo sát của chúng tôi dài 26 trang A4. Vì vậy xin tóm tắt các trường hợp trên thành những nhóm vấn đề để bạn đọc nắm được một cách khái quát. Số trang theo bản in năm 2020.

1/ Về góc độ nhân văn – văn hóa:

- Đôi giày chiến lợi phẩm của ông Khếnh (trang 42): một chiếc giày còn nguyên khúc chân của thằng Tây.

- Nuốt chấy rận đầy máu. Trang 96, bản in 2019.

- Soi ếch (trg.86), man cá (trg.185), móc mồi đánh câu cặm (trg.175), hôi cá (bùa cá) trg.201…

- Ăn bằng tay và ăn phát ra tiếng (trg.35)…

- Chiêu đãi tăm tre… (trg.90).

Về đôi giày chiến lợi phẩm, ông Lê Thọ Xuân đã phân tích rõ trong loạt bài trên VNTP.HCM. Chỉ xin lưu ý: Lỗi này trước đây (thời trước Đổi Mới) có thể bị thu hồi, tiêu hủy ấn phẩm. Và rất vô lý. Một chiếc giày “còn nguyên khúc chân của thằng Tây” có thể do bị đạn, thằng Tây đó bị đứt hẳn một bên chân, nó vung vãi trên trận địa, là có thể, và ông Khếnh nhặt được. Nhưng còn chiếc giày bên kia, ông Khếnh nhặt được từ đâu? Rõ ràng đây là sự bịa đặt của ông Khếnh để ra oai với trẻ con. Ngày bé tác giả có thể tin được. Nhưng nay đã gần 80 tuổi, phải suy xét lại. Trên tinh thần nhân loại và nhân văn – văn hóa dân tộc, câu chuyện trên là không chấp nhận được.

Chuyện bắt chấy rận cắn nuốt chấy rận là có thể. Và cuộc sống đã vượt qua rồi, nên nhìn lại với sự xót xa, sao lại có vẻ hả hê khoái chí như lập chiến công. Chuyện này tác giả có viết lại nhưng không thông tin cho bạn đọc biết.

Soi ếch, man cá, móc mồi câu… ngày thơ ấu nó có như thế. Nhưng ngày nay cũng phải suy ngẫm lại. Săn bắt động vật vào mùa sinh sản là rất vô văn hóa. Vấn đề không chỉ là phá hoại cuộc tình của đôi ếch mà là tiêu diệt nguồn sinh sản đến tận gốc loài vật có ích này. Man cá man rợ cũng thế. Làm sao móc lưỡi câu bằng thép vào đít con nhái mà nó không bị thương được.

Ăn bằng tay thì tùy tộc người, tùy người tùy lúc, không nên đề cao. Những tộc người biết ăn cơm bằng đũa là rất văn minh. Vì bàn tay của con người có rất nhiều công dụng. Có lúc phải dang ra. Có lúc phải thu lại. Có lúc làm xong một việc phải rửa ngay bằng xà phòng.

Ăn uống phát ra thành tiếng xì xụp, chôm chốp, đôm đốp, v.v… là cái ăn của sự lam lũ, no dồn đói góp, háu ăn… Nên nhớ câu “Miếng ăn quá khẩu thành tàn”, “Ăn coi nồi ngồi coi hướng”…

Khi chưa có xà phòng và bàn chải, người Việt thường dùng tăm để xỉa răng. Không phải cái gì của ngày xưa cũng hay ho hơn bây giờ… Hôi cá (bùa cá) như tác giả là một thói xấu. Nên nhớ lại với tinh thần phê phán, từ bỏ!

2/ Về tri thức đời sống – vốn sống cụ thể:

Các công việc đồng áng của nhà nông như trồng khoai, cấy lúa, trồng bông, ươm tơ dệt vải, v.v… chứng tỏ tác giả có làm nhiều việc của nhà nông nhưng chưa hiểu đến nơi đến chốn một công việc, một sự việc.

Tác giả chỉ kể lại từ thu hoạch, chế biến và… ăn (khoai lang, bánh đúc, cơm gạo chậu, nhộng tằm…). Sự hời hợt này thể hiện trong cách dùng từ và hành văn rất lúng túng. Cụ thể ở việc kể lại công việc trồng bông dệt vải (trg.208). Chỉ nói từ đoạn “… ra ruộng hái những hoa bông xơ trắng nở bung (trg.208)…” rồi “đống hoa bông” khi cung bông (trg.209)… Nghề trồng bông dệt vải không có các từ đó. Khi bông nở, hái về, gọi là bông tai, vì múi bông còn gắn với quả bông đã khô, xòe ra, gọi là tai bông. Từ bông tai, phải nhặt bông, tức là lôi các múi bông ra khỏi tai bông, nhặt kỹ rác, được bông hạt. Dùng xa cán bông để tách hạt ra, thì được bông xơ. Bông xơ đem cung thì được bông mịn. Từ bông mịn để làm mền chăn hay chần áo và xe thành con cúi để kéo ra sợi, gọi là kéo sợi. Từ các bắp sợi nhỏ đưa vào guồng để có tay sợi. Tay sợi thực chất là cuộn sợi tròn đường kính rộng. Có các tay sợi rồi phải hồ sợi. Hồ sợi là trộn cơm (tẻ) nóng vào các tay sợi, cho vào cối, đập cho nhuyễn ra, để nhựa cơm thấm vào sợi. Cối đập vải bằng đá, tròn rộng, đường kính khoảng hơn 1m, có thành. Sợi đã hồ đem phơi khô rồi rũ (giặt) sạch rồi lại phơi khô, rồi lại guồng lại, rồi lên go là công đoạn rất tỉ mỉ… để lên khung cửi mới dệt được. Chúng tôi nhớ không đầy đủ nhưng đại loại như thế. Nhà tôi trồng bông và bán bông xơ. Hàng xóm, người Hưng Yên, làm nghề dệt; nên biết và nhớ đại khái thế. Không thể nào viết như tác giả “Cuối cùng là khâu dệt vải trên khung dệt, từ những cuộn sợi bông…” (trg.210).

Tác giả viết về nếp cái hoa vàng “… vì giống lúa này rễ rất dày và sâu, ngốn nhiều phân và phải thường xuyên làm cỏ lúa”… (trg.140); làm cỏ lúa chỉ có mỗi việc nạo cỏ (đánh nạo) ở trg.244; cảnh đập mạ (trg.128) hay cảnh gặt đập (trg.136), v.v… bộc lộ rất rõ, tác giả có làm đấy, nhưng chưa hiểu thấu đáo công việc đó. Lúa nào cũng chỉ làm cỏ có ba kỳ mà nạo cỏ là kỳ cuối. Khi lúa đứng cây, làm đòng thì không được đụng đến gốc nó nữa! Không ai nói quai buộc đon lúa (trg.139) hay đon rơm (trg.139). Tác giả chắc chưa gặt lúa nên không hiểu tay lúa, đon lúa, gánh bó mấy (mỗi đầu bao nhiêu đon. Tám đon là bó tám, mười đon là bó mười…). Cái đon rơm như tác giả viết, gọi là cái bã kẹp…Giũ rơm khác giũ bã kẹp!

Những chi tiết chi li như thế bạn đọc thời nay có thể khó hiểu. Nhưng muốn nói đến giá trị dân tộc học… thì lại phải cụ thể, chân xác.

3/ Giá trị tư liệu:

Về giá trị dân tộc học, như nói trên, là rất mơ hồ. Có người nói tác giả Tôi và làng tôi… sưu tầm nghiên cứu để đưa ra một số tư liệu gốc (dạng quặng thô) có giá trị. Đó là đóng góp của hậu phương Thanh Hóa vào chiến dịch Điện Biên Phủ; đập Bái Thượng; công trái, v.v… Chỉ có trường hợp dẫn Báo Cứu Quốc về công trái quốc gia là có giá trị tư liệu (trg.160). Còn lại là vô giá trị, vì không có xuất xứ. Những thông tin tác giả có được là từ nguồn nào? Chẳng hạn về đập Bái Thượng thì Robequain trong Le Thanh Hoa (NXB Thanh Hóa – 2015) viết đầy đủ, chi tiết hơn.

Nói Thanh Hóa hồi kháng chiến chống Pháp, nhất là ở Rừng Thông, rất nhiều cướp, có vụ giết người cướp của là nói liều. Hay Thanh Hóa cực kỳ khó khăn gian khổ, nghèo nàn, lạc hậu do phải tách rời với Liên khu 3 cũng là nói liều. Nghèo nàn lạc hậu mà đóng góp cho kháng chiến nhiều như thế.

Tác giả kể nuôi lợn ỉ nhưng chưa nói được cái “văn hóa” của công việc này. Thuần dưỡng chăn nuôi gia súc là thành tựu chung của nhân loại. Ở mỗi tộc người có khác nhau chút ít. Ở Việt Nam, nuôi lợn có những công dụng sau: có nguồn thực phẩm, lấy phân chuồng (Nhất nước nhì phân…), tiết kiệm mỗi ngày một ít để có “tiền cục”, tận dụng cơm thừa canh cặn, đồ ăn ôi thiêu, đầu thừa đuôi thẹo khi làm bếp (rau, củ…), làm sạch môi trường trong phạm vi gia đình. Nhà nông, làm ruộng gắn với chăn nuôi là vì vậy. Lợn có ngu hay không phải hỏi món giò lụa, xúc xích, tiết canh cháo lòng…

Có những câu văn mới đọc thấy xuôi tai nhưng ngẫm lại, không đơn giản. Như “Không biết từ bao giờ, ở làng tôi đã hình thành một sự phân công tự nhiên, đi cấy là công việc của phụ nữ…” (trg.127). Đây chính là chỗ thể hiện giá trị dân tộc học, tín ngưỡng học… Vì người phụ nữ có chức năng, khả năng sinh đẻ. Mong muốn sự sinh sôi nảy nở được đặt vào công việc gieo trồng… Xin xem Phan Ngọc, Một thức nhận về văn hóa Việt Nam. NXB Thế giới – 2018. Trg.43-44.

Đây là tình trạng phổ biến trong Tôi và làng tôi.

Cũng cần nói đến tình trạng viết liều viết ẩu. Làng Đầm ở Thọ Xuân tức xã Xuân Thiên không phải ở cạnh đập Bái Thượng mà cách khoảng 10km. Làng Đầm (quê nghệ sĩ xiếc Tâm Chính) ở tả ngạn sông Chu, phải qua đò, lên đường cái – đường ô tô Thanh Hóa đi Bái Thượng có từ thời Pháp – mới lên Bái Thượng được (xem trg.278. Mục Trường làng). Hoặc gọi mẹ đẻ là chị không phải do dị đoan mê tín. Xưa con vợ hai, vợ ba… đều phải gọi vợ cả là mẹ còn mẹ đẻ ra mình phải gọi bằng chị (trg.27). Đường làng xưa, nối với làng khác, gọi là đường liên hương. Nghĩa địa của làng không bao giờ ở gần đường đi, mà ở nơi cao ráo, xa làng xóm và đường đi (trg.28). Hoặc mũi dao “làm xiếc” vây quanh đầu chính xác đến từng milimét (trg.19).

Có nhiều chi tiết có lẽ được chế biến từ văn hóa chung của người Việt. Như bánh đúc. “Dân quê tôi thường nói “Cô kia bánh đúc bẻ ba…” (trg.34). Không ai cầm tấm bánh đúc mà lại bẻ ba! Ca dao Việt có câu Những người bánh đúc bẻ ngang / Mắm tôm quệt ngược tan hoang cửa nhà”. Cái hay ở câu này còn là chỗ đối bẻ ngang / quệt ngược bộc lộ rõ tính cách nghiện bánh đúc (trg.34). Hoặc món cốm hồn làng (trg.142), có thể là “chế biến” từ cốm Vòng (Dịch Vọng) Hà Nội. Thanh Hóa không có truyền thống làm cốm… Từng nhà có thể làm chút ít, nhưng cả làng thì không. Một bát cốm bằng bảy tám bát gạo. Mà người Thanh Hóa thì rất thiết thực!

Tác giả quá lạm dụng từ hồn làng: Bánh đúc hồn làng (trg.34); thuốc lào hồn quê (trg.40); hương cốm hồn làng (trg.142); mắm tép hồn làng (trg.195); chợ Tết hồn làng (trg.275)… Chợ Tết hồn làng thì đúng. Còn các hồn làng kia là chế biến, vay mượn. Như món mắm tép. Món này nếu là hồn làng thì là của các làng vùng Tiên Lữ, Phù Cừ – Hưng Yên, vùng chiêm trũng. Người Thanh Hóa biết làm là từ người Hưng Yên truyền cho. Mắm tép làm bằng tép riu mới ngon. Làm bằng tôm gạo như của nhà tác giả cũng được nhưng không bằng tép riu, và phải nhặt sạch cá con cũng gọi là tép. Làm mắm tép không được có gia vị gì cả. Chỉ tép – muối và thính. Tỷ lệ và ngon đến đâu là do tay người làm có kinh nghiệm. Gọi là tép riu vì thứ tép này phải dùng dụng cụ là cái riu mới bắt được.

Chúng tôi ngờ rằng các nhà bình luận bị điệp từ hồn làng ám ảnh nên thấy hiện lên cái hồn làng do tác giả Tôi và làng tôi “gọi ra”. Thực ra thì không phải thế.

Ưu điểm của Tôi và làng tôi là tình yêu làng và trải nghiệm của tuổi thơ đến tuổi trưởng thành, năm 21 tuổi (1963) được kể rất hồn nhiên và quá thực thà. Đây là điểm mạnh và cũng là điểm yếu. Vì trong thể hồi ký, phải lựa chọn cái gì để kể chứ không phải có gì, biết gì kể nấy theo tinh thần cho mình và cho đời, vì mình và vì đời (Tự bạch. Nhà văn Việt Nam hiện đại. NXB Hội Nhà văn – 2010. Mục Lê Bá Thự) .

Chúng tôi rất thông cảm với nhà văn Tạ Duy Anh, người dày công biên tập lần đầu và nghiên cứu sinh Mai Thị Nhài. Bởi hiểu được làng quê Thanh Hóa là việc làm có thể quá sức các bạn. Ngay người Thanh Hóa hiểu được làng quê Thanh Hóa – dù chỉ ở giai đoạn 1950 – 1960 cũng đã rất khó. Vì Thanh Hóa là vùng đất cực kỳ phong phú mà không một làng quê nào có thể tiêu biểu cho cả xứ Thanh. So với những làng cổ đến hơn ngàn năm như làng Trung Lập quê Lê Đại Hành; làng Phong Mỹ quê Lê Đột – bố nuôi Lê Đại Hành ở huyện Thọ Xuân; làng Bột Thượng quê Trạng Quỳnh; làng Quỳ Chữ ở Hoằng Hóa; làng Tào Sơn ở Tĩnh Gia; làng Cổ Đô ở Nông Cống; làng Bồng ở Vĩnh Lộc; làng Cổ Đông Sơn… thì làng quê trong Tôi và làng tôi chỉ là một ốc đảo thanh bình, quá nhỏ nhoi và đơn giản. Và đấy là kinh nghiệm cho người biên tập văn học. Với những bản thảo có khối lượng tri thức xa chuyên môn của mình hay quá sức mình thì không nên chủ quan hay cả tin mà nên tham khảo các cộng tác viên có khả năng thẩm định.

Tháng 1-2021

NGUYỄN VĂN HỌC
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 629

Ý Kiến bạn đọc