Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Văn học – Thời gian và Quan chức

Nhiều vấn đề quan thiết đến đời sống văn học đã xuất hiện qua các ý kiến phát biểu tại Đại hội chuyên ngành (Đại hội nội bộ, trù bị) của Hội Nhà văn Hà Nội sáng 30/10/2016. Dưới đây chúng tôi xin trao đổi với các nhà văn Lê Minh Khuê và Phạm Ngọc Tiến.

Nhà văn Lê Minh Khuê nói không nên mất quá nhiều thời gian vào Luận văn của một cô sinh viên Đại học.

Không đơn giản như thế. Có những cái đúng là không cần mất thời gian quan tâm như hành vi ứng xử thiếu văn hóa của các nhà văn Vũ Ngọc Tiến và Hoàng Quốc Hải trong phát biểu tại Đại hội. Nhưng một vấn đề học thuật xuất hiện thì phải xem xét thấu đáo, không ngại mất thời gian. Vụ việc Luận văn Vị trí kẻ bên lề… ở Đại học Sư phạm Hà Nội được nêu ra vào tháng 6/2013 và khép lại vào tháng 4/2014, với kết cục hủy bỏ Luận văn, thu hồi học vị Thạc sĩ. Song vấn đề mà Luận văn đặt ra chưa thể nói là khép lại. Là xong xuôi. Bởi ông Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội vẫn tiếp diễn tư tưởng bảo vệ Luận văn trong các hoạt động như trao giải thưởng cho nhà văn Nguyên Ngọc, Trần Đình Sử, Nguyễn Bình Phương… hay mời Nguyên Ngọc, Huy Đức đến nói chuyện… Bởi vì có những đạo lí đời sống phải bảo vệ, nếu vượt qua đó, phá bỏ nó… người ta sẽ tiếp tục đến tất cả. Đạo lí đó là gì? Trong rất nhiều vấn đề, chúng tôi chỉ nêu lên hai:

* Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thắng lợi làm tiền đề cho công cuộc xây dựng đất nước như hôm nay. Đó là một giá trị lịch sử – văn hóa không thể xuyên tạc, làm lu mờ, giễu cợt, nặng nề hơn, coi như một sai lầm làm tổn hại xương máu nhân dân, làm chậm lịch sử dân tộc.

* Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh tiêu biểu của sự kết tinh những tinh hoa văn hóa của nhân loại, của dân tộc. Tấm gương đó phải noi theo một cách thật sự. Phải bảo vệ trọn vẹn. Đó cũng là giá trị văn hóa.

Vấn đề này sẽ được nhắc lại ở phần sau.

- Nhà văn Lê Minh Khuê nói việc trao giải cho Mình và Họ là đủ thủ tục qui trình từ Ban Văn xuôi trở lên…

Xin thưa, thủ tục ban bệ là cần thiết nhưng nó không bảo đảm cho nội dung công việc, ở đây là nội dung tiểu thuyết Mình và Họ và quan niệm đánh giá, trao giải thưởng.

Luận văn của Đỗ Thị Thoan là đủ và đúng thủ tục đấy!

Sẹo độc lập (đã trao giải, phải thu hồi) cũng có sai có thiếu thủ tục đâu.

Thụy Khuê rất khen ngợi đánh giá cao tiểu thuyết này của Nguyễn Bình Phương.

Minh Khuê hãy đưa ra lời bình luận cụ thể của Ban Văn xuôi của Hội Nhà văn Hà Nội và cũng là thay mặt cho Hội Nhà văn Hà Nội. Giúp bạn đọc đủ thông tin.

Nhà văn Phạm Ngọc Tiến nói nhà văn Nguyễn Bình Phương hôm nay là đại tá. Nhưng sẽ là tướng, là một trong những trụ cột quốc gia… vì vậy xem xét Mình và Họ nên như thế… như thế.

Như thế là thành vấn đề ngoài văn học, hoặc là vận dụng Nhân tướng học tác giả thay cho xem xét tác phẩm. Phê bình văn học tiếp nhận tác phẩm ở thời hiện tại của nó, từ thời điểm nó ra đời để đánh giá. Nhà phê bình có biệt nhãn, có thể nhìn thấy giá trị lâu dài. Trong tương lai của tác giả tác phẩm (nếu nó có thực). Rất khác với việc đoán định tương lai của tác giả để đánh giá tác phẩm hiện tại.

Anh-minh-hoa---Van-hoa-thoi-gian-va-quan-chuc---Thay-do-viet-cau-doi
Thầy đồ viết câu đối. Ảnh: Internet

Phạm Ngọc Tiến có thể vì tình bạn với tác giả Nguyễn Bình Phương mà suy nghĩ, mong chờ như vậy. Hoặc từ một nguồn thạo tin rò rỉ… Nhưng dù sao cũng không phù hợp với phê bình văn học. Cầu mong cho Đảng và Nhà nước phát hiện bồi dưỡng được một vị tướng tài văn võ song toàn. Đó là vấn đề của tương lai. Có thể diễn ra… Còn hôm nay, tác phẩm của vị tướng tương lai cần được đánh giá đúng với giá trị hiện tại của nó. Cũng là một dịp để nhà văn tự ý thức về mình để phấn đấu tiến lên. Nói ngắn gọn, bình luận, đánh giá tác phẩm văn học không thể vận dụng tư duy quan chức cho tác giả ở thì tương lai. Qua phát biểu của nhà thơ Bằng Việt mới thấy. Ông Phạm Xuân Nguyên đã độc đoán chuyên quyền lại tham quyền cố vị. Cứ nấn ná lấn cấn mãi với cái ghế Chủ tịch Hội. Trong phát biểu, ông tỏ ra muốn lại làm Chủ tịch Hội nữa đây. Ông Phạm Xuân Nguyên thật thiếu lòng tự trọng. Thời buổi dân chủ, ông có thể theo gương ông Nguyên Ngọc. Hoặc đứng riêng ra một ngọn cờ. Sao cứ bắt cá nhiều tay thế. Đằng nào cũng muốn. Thực ra là ông cố tình lợi dụng Hội, lợi dụng cái ghế Chủ tịch Hội để chuyên chở cái đoàn văn độc lập của ông. Nhìn vào cách trao giải thưởng là biết mà. Ông ạ, sự tham cầu mà quá lên là ngược lại với phẩm chất nhân văn đấy.

Chúng tôi trở lại ý đã nói ở đoạn trên. Về tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Nguyên Ngọc mấy năm nay trương lên “Bài thuốc Phan Châu Trinh” là để nhằm làm lu mờ đường lối, hình ảnh Hồ Chí Minh. Và ông Phạm Xuân Nguyên thì tiếp sức cho Nguyên Ngọc. Các ông cố tình to lời lớn tiếng gan góc trong sự dối trá. Sao không đem bài thuốc này cho người Pháp năm 1946? Sao không đem bài thuốc này cho ông Giôn-xơn năm 1965? Bây giờ mọi chuyện xong xuôi rồi, mới hô lên rằng… Không nên chống lại giặc ngoại xâm thực dân đế quốc, để mà khai dân trí. Đúng là cái logíc của “chàng ruồi La Phong ten”!

Nghiên cứu lịch sử để học lấy kinh nghiệm. “Bài thuốc Phan Châu Trinh” là một kinh nghiệm sai lầm phản lịch sử. Những người bốc thuốc và chữa bệnh thật sự thời hiện đại ở nước ta, thì các vị Đỗ Tất Lợi, Tôn Thất Tùng là những danh y, thế giới tôn vinh như thế. Họ nói gì? Dược sĩ Đỗ Tất Lợi viết: Tôi coi việc giành độc lập là tiên quyết. (Trí thức tinh hoa… Hàm Châu. Trg 266. NXB Trẻ. 2014).

Giáo sư Tôn Thất Tùng kể lại: Mỗi lần ra đường là một lần tức giận. Đường đi đều phải nhường cho đám Tây đầm thực dân hay trẻ con Tây lai. Lắm khi chúng rất láo xược đối với trẻ con và người dân lao động nước ta. Chúng nói chuyện với nhau ngay trước mặt tôi, chê cười những tập quán của dân tộc mình, coi tôi như một kẻ đã tách khỏi dân tộc mình rồi! Có lúc tôi cáu tiết, nổi khùng lên với chúng thì chúng quắc mắt nhìn tôi, cười khẩy, rồi nói với cái thế của kẻ thắng trận “Anh quên là người Pháp đã chiếm thành Nam Định và thành Hà Nội chỉ với vài ba chục người lính Pháp thôi ư?”.

(Hàm Châu. Trí thức tinh hoa… Sđd. Trg 457). Ông Nguyên Ngọc sinh năm 1934, thời đất nước còn nô lệ, ông còn bé lắm, chưa hiểu được thân phận nô lệ. Bây giờ cao niên rồi, ông cũng không chịu nghiền ngẫm cho phải lẽ, mà nói liều: Độc lập là cần nhưng có thể trước, có thể sau…

Vì ông Nguyên Ngọc nói không biết mệt như thế nên chúng tôi đâu dám tìm sự nhàn nhã im hơi lặng tiếng. Nhưng dù sao đấy cũng là câu chuyện lịch sử và đạo lí lịch sử. Cần trở lại hiện tại. Ngày nay đất nước đang đứng trước vô vàn khó khăn. Thù trong giặc ngoài. Không lúc nào yên. Chính lúc này càng phải thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo lí Hồ Chí Minh. Trong muôn vàn, tôi chỉ nói đến tấm gương thanh đạm, giản dị của Cụ Hồ. Tôi nghĩ đấy là điều cốt lõi. Cứu được mình. Mà rộng ra là cứu được đời. Sống thanh đạm giản dị trước hết lợi lạc cho mình: Sống quen thanh đạm nhẹ người… (Hồ Chí Minh). Nằm trên giàu sang phú quí mà ốm yếu thì… như các vua chúa thời mạt vận, như… Lê Ngọa Triều. Ai cũng thấy rõ điều đó. Dễ thấy, dễ nói nhưng khó làm. Mấy nghìn năm nay, Phật giáo tuy phát triển, nhưng đến nay cũng độ 500 triệu Phật tử. Trong đó được mấy triệu chân tu? Vì ăn chay “sống chay” nó khó lắm. Cũng hàng ngàn năm nay Nhà Nho bảo phải lo trước thiên hạ vui sau thiên hạ (Phạm Trọng Yêm), ăn chẳng cầu no ở chẳng cầu yên… kế trăm năm không gì bằng trồng người (Quản Tử, trước Công nguyên)… nhưng thực sự, đâu phải là nhiều. Tại sao nó khó thế? Nguồn gốc sâu xa là ở cảm giác đã trở thành thói quen. Cảm giác trở thành khoái cảm khi sở hữu, khi tận hưởng rất đáng sợ. Nó nuôi dưỡng và mở ra đến vô tận sự tham cầu. Xã hội tư bản, dựa trên phương thức sản xuất theo qui luật lợi nhuận. Nó tìm mọi cách đáp ứng nhu cầu và còn sản xuất ra nhu cầu. Thấy không ít người hôm nay, hàng hóa chiếm hữu gần như toàn bộ con người của họ, từ trong ra ngoài. Trang điểm từ móng tay đến sợi tóc, lông mi, hàm răng, vòng nhẫn khắp tai, mũi, ngón tay, cổ tay, cổ chân, xăm trổ vẽ hình trên da, rồi thay đổi giới tính… Ăn uống cũng thế. Đi lại, nghe nhìn cũng thế… Chưa xong công việc là dán mắt vào màn hình nhỏ. Đáp ứng mọi cảm giác, tạo ra nhiều cảm giác dẫn đến tham cầu – như nghiện ma túy – tham cầu đi đến lòng tham vô đáy – Lòng tham sinh ra tất cả hệ lụy nhân sinh. Phật giáo rất sâu sắc khi đặt tham trước sân (giận) si (si mê), những tập tính phải diệt trừ, từ bỏ (Tham- Sân-Si).

Tại sao chống tham nhũng mà tham nhũng càng nhiều càng tinh vi?

Tại sao giảm biên chế mà biên chế càng tăng?

Tại sao một địa phương, một đất nước còn nghèo mà công sở nhiều, to như thế. Xe công nhiều như thế? Mua sắm công nhiều như thế. Dự án thay nước Hồ Gươm thay nước Hồ Tây trước đây (may mà không thành khả thi) có phải ngây thơ không? Không đâu. Chỉ vì có chỗ cho vay tiền. Phải có cớ để vay chứ. Trả thì đã có con cháu.

Một nhà thơ đã nói với tôi: Nếu chống được nạn tham nhũng thì giữ yên được đất nước, yên được lòng dân.

Đúng thế. Chống tiệt nọc thì khó nhưng có thể hạn chế được. Cái cách của một nước trong khu vực là làm cho viên chức không muốn không dám không thể tham nhũng cũng là diệu kế nhưng vẫn là biện pháp tình thế, và cũng phải có điều kiện, nhiều điều kiện mới thực thi được.

Phải đi đến cái gốc của nó: lòng tham.

Chữa được lòng tham, bài thuốc thanh đạm, giản dị là công hiệu nhất.

Người ta sống, phải có những thức để nuôi sống, những nhu cầu sống, ai cũng như ai. Cảm giác được nuôi dưỡng thành thói quen thành tham cầu.

Trong muôn vàn điều kiện, nhu cầu sống, lựa chọn những yêu cầu hợp lí hợp lẽ, vừa đủ. Đó là cái gốc của thanh đạm giản dị. Tuy thanh đạm giản dị còn có nội hàm sâu sắc hơn. Như về ham muốn lành mạnh, nhân văn: Ham muốn tận thiện, cống hiến cho đồng bào, cho dân tộc, cho đồng loại, như cuộc đời Cụ Hồ: Ham muốn tột bậc của tôi là Tổ quốc tôi được độc lập, đồng bào tôi được tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành… Ham muốn tận thiện cống hiến như thế nhưng Cụ sống thanh đạm, giản dị. Điều đó thì ai cũng biết. Biết mà khó theo. Như chuyện cá Anh Vũ. Có lần Cụ bảo nghe nói cá Anh Vũ ở Ngã ba Bạch Hạc – Việt Trì Phú Thọ – ngon lắm. Các đồng chí phục vụ lo món cá Anh Vũ cho Cụ. Bữa đầu Cụ khen ngon. Hôm sau, lại thấy bày ra món cá Anh Vũ. Nhưng Cụ không đụng đũa. Thưa với Cụ. Cụ bảo đại ý: Ngon thì ngon thật, nhưng hôm nào cũng ăn thì các chú phải lo. Tốn kém, vất vả cho các chú… Thắng được cảm giác nó cụ thể như thế.

Nhiều người nói Nguyễn Tuân sinh hoạt, ăn uống rất cầu kỳ. Không phải đâu. Đúng là cụ Nguyễn rất cầu kì nhưng không phải cầu kì vụ thực mà cầu kì của sự thanh đạm. Người đời được giò chả ngập răng lấy làm khoái. Cụ lại xắt ra từng mẩu nhỏ, dùng que tăm lẩy lên đưa cay chút một, nhấm nháp, suy nghĩ và viết, gạch gạch xóa xóa, như lời cụ Nguyễn bà từng nói với chúng tôi. Nghe nói quán bánh cuốn trên Bưởi ngon lắm. Tô Hoài đưa Cụ lên. Gọi gánh ra. Cụ Nguyễn chỉ ăn hai cái rồi thôi. Hỏi, Cụ bảo: Ăn cho biết. Cái khó của sự ăn uống có lẽ ở chữ BIẾT của cụ Nguyễn. Sinh thời Cụ có thể uống rượu đàm đạo thâu đêm. Vì Cụ không Zô Zô trăm phần trăm mà chỉ nhâm nhi…

Sống giản dị thanh đạm đâu phải đơn điệu nghèo nàn. Chỉ lựa chọn những nhu cầu cần thiết nhất, hợp lí nhất (xin thêm: hợp cơ địa), dành tâm lực cho công việc. Và không sợ thiếu sức. Thiền sư Thích Nhất Hạnh mỗi năm còn thực hành nhịn ăn hai lần, mỗi lần hai tuần hoặc hơn, chỉ uống nước lọc. Mà làm việc như thế nào? Ai cũng biết.

Về vật chất, kinh tế, bài thanh đạm, giản dị giải quyết được có khi tới 50% nhu cầu thường nhật, từ cá nhân, gia đình cho đến cả nước, toàn xã hội. Nhưng muốn sống thanh đạm, giản dị phải trên cơ sở kết tinh được văn hóa dân tộc và nhân loại, kết hợp được tinh hoa Phật giáo, Nho giáo và dân tộc. Thương người như thể thương thân; ít no nhiều đủ, thêm bát thêm đũa ai thêm nồi thêm niêu, dai dải áo vải bền lâu… Đây phải là nội dung cơ bản của nền giáo dục, từ mầm non cho đến cao học. Cụ Phạm Phú Thứ nói chữa được bệnh ngu may ra có sách vở. Nói rộng là giáo dục, là sự học.

Nói như vậy vì cũng từ chút ít trải nghiệm bản thân. Sáu năm nay ăn chay mặc Phật. Chưa thấm gì so với nhiều vị khác nhưng cũng đã thấy không bị câu thúc về sự cơm áo gạo tiền. Bệnh tật giảm đi nhiều. Tấm thân được phần thanh nhẹ. Chỉ còn lo phần tâm. Nên viết để luyện tâm.

Luyện thân luyện tâm theo tấm gương thanh đạm giản dị của tiền nhân, mà gần gũi nhất là Cụ Hồ, thì chắc chắn được phần lợi lạc trước hết cho bản thân gia đình. Sau đó, ít nhiều góp phần làm thanh đạm, giản dị cho môi trường, chẳng đáng nên sao. Cho nên chúng tôi cực lực phản đối bài thuốc của ông Nguyên Ngọc và kiên trì theo bài thanh đạm, giản dị của tiền nhân.

Xin nói với nhà văn Hoàng Quốc Hải rằng nhà văn hôm nay phải nói lên nỗi thống khổ của nhân dân. Đúng lắm nhưng chưa đủ. Cần nói ra nguyên nhân của sự đau khổ và con đường giải thoát. Nghèo mà tiêu xài sang như ném tiền qua cửa sổ. Lượng rượu bia tính theo đầu người cao nhất Đông Nam Á… Bao nhiêu là tệ nạn đau lòng… Với nhà văn, nội dung tác phẩm chưa thấy đâu mà chỉ lo in giấy tốt bìa đẹp, đóng hộp kì khu sang trọng thì làm sao đến được nhân dân thống khổ!

Hà Nội, 2-11-2016

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 427

Ý Kiến bạn đọc