Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Văn học – nghệ thuật TP.HCM ở đâu trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam?

Ngày 8/9/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” với quan điểm xác định các ngành công nghiệp văn hóa là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn lực từ các doanh nghiệp và xã hội để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; phát triển có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phát huy được lợi thế của Việt Nam, phù hợp với các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các ngành, các khâu sáng tạo, sản xuất, phân phối, phổ biến và tiêu dùng.

Cách đây đúng 8 năm, ngày 30/8/2009, cuộc hội thảo đầu tiên, quy mô cấp quốc gia với chủ đề “Công nghiệp văn hóa ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp” được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tại Hà Nội. Trong khi vấn đề công nghiệp văn hóa đối với các nước phát triển và nhiều nước đang phát triển đã không còn xa lạ, trở thành một bộ phận quan trọng, thậm chí là mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội (một số quốc gia còn hình thành Cục Công nghiệp văn hóa thuộc Bộ Văn hóa như Hàn Quốc), thì tại hội thảo này, đa số các tham luận vẫn đang loay hoay giải mã khái niệm thế nào là công nghiệp văn hóa. Cho đến bản trình sau cùng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để Chính phủ xem xét phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam thì mới đưa ra một khái niệm được nhiều người đồng thuận, đó là: Công nghiệp văn hóa là các ngành sản xuất sản phẩm, dịch vụ văn hóa bằng phương thức sản xuất công nghiệp; phát triển dựa trên sự sáng tạo, khoa học công nghệ và bản quyền trí tuệ; khai thác tối đa yếu tố kinh tế của các giá trị văn hóa.

Anh-minh-hoa---Van-hoc---nghe-thuat-TPHCM-o-dau-trong-chien-luoc-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-Viet-Nam

Trong bối cảnh hầu hết các ngành kinh tế Việt Nam đang đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng dường như riêng ngành “kinh tế văn hóa” vẫn đứng ngoài sân chơi công nghiệp hóa này. Sau nhiều năm tháng trông chờ, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam ra đời đối với những người làm văn hóa, văn học – nghệ thuật có thể được coi là sự kiện văn hóa lớn không thua gì việc ra đời của Nghị quyết 33-NQ/TW Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đề ra mục tiêu phát triển với 5 nhóm ngành. Ngoài du lịch và quảng cáo thì khối nghệ thuật với 3 nhóm ngành có chỉ tiêu phát triển cụ thể là điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn và mỹ thuật. Đồng thời kiến trúc, thiết kế, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và xuất bản thuộc nhóm “định hướng và từng bước phát triển”. Nếu như nhóm ngành nghệ thuật biểu diễn được hiểu bao gồm các loại hình ca nhạc, sân khấu, múa và tác phẩm văn học thuộc ngành xuất bản thì có thể nói toàn bộ hoạt động văn học – nghệ thuật và giới văn nghệ sĩ đều nằm trong “tầm phủ sóng” của Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam từ cơ chế, chính sách, ưu tiên đầu tư đến phát triển khoa học công nghệ, xây dựng nguồn nhân lực, xây dựng thị trường…

Đối với thành phố Hồ Chí Minh, địa phương có nhiều cái nhất về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời hoạt động xã hội hóa lĩnh vực văn học – nghệ thuật cũng mạnh nhất cả nước. Có thể kể đến các loại hình sân khấu kịch, điện ảnh, ca múa nhạc, phát hành sách với rất nhiều các sân khấu tư nhân, hãng phim tư nhân, vũ đoàn tư nhân cùng hệ thống rạp – cụm rạp chiếu bóng và các trung tâm băng dĩa, trung tâm phát hành sách của các doanh nghiệp… Tuy nhiên, có một thực trạng là sau thời hoàng kim của hoạt động nghệ thuật theo cơ chế xã hội hóa thì một số loại hình đang bế tắc lối ra hoặc tiếp tục phát triển với chiều hướng xấu. Sân khấu kịch nói tư nhân trong hai mùa Tết vừa qua ế khách sau khoảng 15 năm sôi động. Theo Nghệ sĩ nhân dân Hồng Vân nhận định thì đây là đợt thoái trào thứ 2 của sân khấu kịch nói thành phố từ sau ngày giải phóng. Điện ảnh tư nhân sau giai đoạn nở rộ kèm doanh thu ngất ngưởng những năm 2000 thì bây giờ là cuộc chạy đua hụt hơi với những bộ phim mới nhất của nước ngoài trong những cụm rạp hiện đại bởi không có một cơ chế bảo hộ hữu hiệu đối với phim Việt. Mặt khác, muốn có một bộ phim đủ độ hoành tráng và có chất lượng nghệ thuật cao nhưng phim trường ở đâu, hậu kỳ ở đâu, kinh phí ở đâu? Còn thị trường tranh mỹ thuật cùng hệ thống gallery lại phối với nhau thành những mảng màu rối rắm giữa thật và giả, giữa thủ thuật kinh doanh và sáng tạo chân chính… Tất cả những bất cập đó có phải chăng là chúng ta đang thiếu một chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa của thành phố Hồ Chí Minh?

Tại cuộc họp ngày 22/6/2017 do Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hồ Chí Minh chủ trì nhằm lấy ý kiến của các sở ngành thành phố và quận, huyện đóng góp cho dự thảo đề cương quy hoạch phát triển ngành văn hóa thành phố đến năm 2030, bà Lê Tú Lệ, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học – nghệ thuật thành phố trong phát biểu của mình đã lưu ý việc 6 quan điểm phát triển mà dự thảo đưa ra đều rất đúng nhưng mang tính chất “dàn mặt trận”, không có mũi nhọn, không có đột phá. Bà đề nghị trong quan điểm phát triển phải đưa vào việc xây dựng chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên tiềm lực, tiềm năng, thế mạnh của thành phố. Nếu không có quan điểm về chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa thì cái gọi là chủ động tiếp thu công nghệ tiên tiến của một số loại hình dịch vụ mới mà dự thảo đề ra trong phần mục tiêu cũng chỉ là thụ động phát triển.

Quả thật, nếu như quy hoạch phát triển ngành văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030 mà không có sự “hiện diện” của chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa thì việc quy hoạch phát triển này thiếu hẳn một động lực quan trọng, thiếu tính khoa học và thực tiễn bởi Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã đưa vào một trong những nhiệm vụ là hình thành và phát triển 3 trung tâm công nghiệp văn hóa tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. Điểm mới mà nhiều người trông chờ trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI là nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa. Nghị quyết của Trung ương ban hành đã hơn 3 năm, thành phố cũng xây dựng nội dung này trong Chương trình hành động của Thành ủy nhưng Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của thành phố Hồ Chí Minh đến nay vẫn chưa có là quá chậm.

Thành tựu xã hội hóa hoạt động văn học – nghệ thuật đã từng là niềm tự hào của văn nghệ sĩ và người dân thành phố. Những thăng trầm, vinh quang và mồ hôi nước mắt của người làm nghề không phải ai cũng đồng cảm và thấu hiểu. Sứ mệnh lịch sử của thuật ngữ xã hội hóa dường như đang đè nặng lên sáng tạo nghệ thuật của giới văn nghệ sĩ. Hơn ai hết văn nghệ sĩ là những người đang trông chờ nhất việc thành phố sớm xây dựng và ban hành chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa cho hiện nay và tương lai.

Nhị Hà
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 463

Ý Kiến bạn đọc