Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Văn Học – Nghệ Thuật TP.HCM 30 Năm Đổi Mới – Hoạt động Văn học – Nghệ thuật TP.HCM qua ba thập niên đổi mới

Sau hơn ba thập niên đổi mới, cùng với những đổi thay – phát triển vượt bậc về kinh tế, khoa học, công nghệ, Văn học – nghệ thuật thành phố cũng chuyển biến mạnh mẽ, trở thành một trung tâm văn hóa lớn của đất nước. Hoạt động Văn học – nghệ thuật thành phố luôn sôi động, tiên phong với những sắc màu đặc sắc riêng, đã phát triển cả về lực lượng lẫn năng lực trong hầu hết các lĩnh vực từ sáng tác đến lý luận – phê bình, từ quảng bá đến phát hành phổ biến tác phẩm. Nét nổi bật của Văn học – nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh trong ba thập niên qua là đặc tính năng động, sáng tạo, nghĩa tình, đề cao ý thức phục vụ và chủ động đáp ứng trào lưu hội nhập. Đội ngũ văn nghệ sĩ các chuyên ngành Văn học – nghệ thuật thành phố hội tụ nhân tài từ khắp các vùng miền đất nước, và từ đây lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống, hướng tới chân thiện mỹ, thấm nhuần tinh thần yêu nước, dân tộc, nhân văn, góp phần tích cực xây dựng tâm hồn, nhân cách, phẩm giá con người Việt Nam thời đại mới.

Hồ hởi đón nhận và thực hiện đổi mới, những người hoạt động Văn học – nghệ thuật thành phố bước vào một khung trời mới rộng thoáng, thuận hòa, cho dù không tránh khỏi chạm trán với không ít thách thức đương nhiên, với nhiều lúng túng ban đầu về cơ sở lý luận cũng như về phương pháp sáng tác. Những yêu cầu phát triển mới, sự chuyển biến nhanh chóng của cuộc sống cùng những đổi thay sâu sắc của môi trường sống và con người đương đại, đã tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến quá trình sáng tạo cũng như tiếp nhận tác phẩm Văn học – nghệ thuật tại thành phố. Thuận lợi cùng khó khăn đan xen nhau trong thời gian khá dài, đã từng khiến một số văn nghệ sĩ không khỏi lúng túng, dè dặt. Vượt qua khó khăn ban đầu, đội ngũ gần năm ngàn rưỡi văn nghệ sĩ đang hoạt động tại các Hội Văn học – nghệ thuật chuyên ngành, đã đóng góp khối lượng lớn tác phẩm, duy trì tích cực đời sống tinh thần cho công chúng thành phố.

Ở lĩnh vực VĂN HỌC, 30 năm đổi mới đã tiếp sức mạnh mẽ cho công cuộc phát triển văn đàn thành phố. Ranh giới loại hình và thể loại được mở rộng, thúc đẩy hiệu quả sáng tác. Đề tài phong phú, bao quát từ lịch sử dân tộc, Cách mạng đến nhiều khía cạnh đa dạng của đời sống đương đại. Sách sáng tác và dịch thuật dành cho các lứa tuổi độc giả khác nhau rất phong phú. Đặc biệt, số lượng đầu sách tăng đáng kể. Tại các chợ sách, phố sách ngày nay, người đọc có thể dễ dàng nhận thấy mức độ đa dạng và phong phú của “thế giới sách”. Tuy nhiên, tồn tại rõ bật ở đây là trên các kệ sách, người ta không dễ tìm ra những tác phẩm văn học xứng danh, có giá trị toàn diện cả ở nội dung tư tưởng, thẩm mỹ lẫn nghệ thuật biểu hiện. Bên cạnh đó, những sách vô bổ, thậm chí nhảm nhí không hề hiếm thấy. Phương thức liên kết tư nhân xuất bản, do quản lý lỏng lẻo, đã có lúc gây tác động tiêu cực. Đầu ra của tác phẩm văn học có thời thiếu thông suốt, thậm chí ách tắc, hầu như chỉ tập trung tiêu thụ ở nội thành; một phần cũng do kết quả sáng tác chưa đủ sức thuyết phục thị trường. Trước mắt cũng như lâu dài, trước tác động nhanh mạnh của các phương tiện truyền thông số hóa, việc hoàn thiện sáng tác, xuất bản cũng như phát hành tác phẩm văn học đủ tạo sức hút cho văn hóa đọc, là đặc biệt quan trọng và cấp thiết.

ĐIỆN ẢNH thành phố Hồ Chí Minh được chính giới và dư luận hiến danh là “Kinh đô điện ảnh Việt Nam”. Hơn 30 năm qua, bộ mặt điện ảnh thành phố thay đổi sâu sắc, khoác một diện mạo căn bản mới, cho dù đã phải trải qua nhiều biến động, thăng trầm, thậm chí từng rơi vào khủng hoảng. Vượt qua nhiều trở ngại, từ cơ chế hoạt động đến nhân lực, từ tài chánh đến kỹ thuật, đến thị trường tiêu thụ… những người làm phim thành phố, cả điện ảnh lẫn truyền hình, đã xây dựng được loạt tác phẩm ghi danh vào lịch sử điện ảnh nước nhà, cơ bản phản ánh được những chuyển động của con người và đất nước trong những tháng năm đổi mới.

Như một sự kiện trọng đại đối với hoạt động Văn học – nghệ thuật, chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước đã làm thay đổi căn bản phương thức cùng phương pháp hoạt động của lĩnh vực này, đã tiếp sức đường dài, mở đường kịp thời cho hoạt động điện ảnh cả nước nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang trong trạng thái hoạt động cầm chừng giữa thời gian cuối của thế kỷ trước. Tuy nhiên, từ chỗ hoạt động bao cấp đã từ lâu trở thành nếp, phải nhanh chóng chuyển sang cơ chế tự trang trải với hàng loạt điều kiện khắc nghiệt về kinh phí, kỹ thuật cũng như thị trường, đã khiến hoạt động điện ảnh lao đao thời gian dài. Từ đây nổi lên bài học sâu sắc về công tác quản lý và tổ chức thực hiện đối với một chủ trương chuyển đổi lớn. Các cơ quan chuyên trách đã kém chủ động, đã thiếu một kế hoạch cụ thể, khả thi nhằm dẫn dắt một tiến trình quá độ cần thiết. Hậu quả là cả ngành điện ảnh nói chung bị thả nổi, phải tự bơi trong thời gian khá dài. Đó cũng là thời gian nảy sinh nhiều bất cập, trì trệ, lãng phí chẳng những đối với đội ngũ, sức sáng tạo, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến nhu cầu thưởng thức của công chúng. Cũng chính trong thời kỳ này đã xuất hiện hàng loạt phim “mì ăn liền” cùng hiện tượng biến rạp chiếu phim thành nơi quảng bá băng đĩa video chất lượng thấp.

Khi xã hội hóa từng bước đi vào đời sống thực tiễn, hàng loạt hãng phim tư nhân lần lượt được thành lập. Một lần nữa thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ khả năng năng động, khi có tới gần 250 hãng phim đăng ký thành lập mới, đạt kỷ lục cả nước. Nếu vào thời kỳ đầu đổi mới, hàng năm thành phố sản xuất chưa tới 10 phim truyện, thì nay, sau 30 năm, con số đó đã đạt tới gần 50 phim, chủ yếu bằng nguồn vốn tư nhân; trong đó có những tác phẩm nổi bật, đạt trình độ thể hiện khá, được đông đảo công chúng hâm mộ. Đó là những: Long thành cầm giả ca, Thiên mệnh anh hùng, Thần tượng, Sài Gòn anh yêu em, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Đảo của dân ngụ cư… Gần đây, phim Em chưa 18 trở thành hiện tượng phòng vé, vượt qua mọi phim bom tấn nước ngoài chiếu ở Việt Nam, đạt doanh thu hơn 170 tỷ đồng trong lúc chưa kết thúc đợt phát hành.

Tình hình sản xuất và phát hành phim truyện thời gian qua cho thấy sự năng động vươn lên của đội ngũ làm phim truyện thành phố, đã gắng đáp ứng đòi hỏi phát triển của ngành, góp phần thỏa mãn nhu cầu của người xem. Mấy năm gần đây, bên cạnh hiện tượng gia tăng gấp bội số lượng tác phẩm, là những tiến bộ thấy rõ trong nghệ thuật và kỹ thuật thể hiện, từ quy mô dàn cảnh đến thủ pháp tạo hình. Hệ thống đề tài đã và đang được mở rộng đáng kể, khoan khá sâu vào một số khía cạnh của đời sống trong nhiều thể loại khác nhau, kể cả phương thức “đa thể loại”. Một số tác giả đã tiếp cận cách thức thể hiện ngôn ngữ điện ảnh hiện đại với tiết tấu ngắn, tạo được phong cách riêng, lôi cuốn được đông đảo người xem, nhất là người xem trẻ.

Bên cạnh đó, một số khiếm khuyết quan trọng vẫn chưa được khắc phục, như thiếu hụt các tác phẩm đề tài truyền thống; nhiều cốt truyện phim, nhất là nhiều nhân vật trung tâm, chưa đạt tầm bao quát, kém tiêu biểu trước độ phong phú cùng nhịp sôi động của cuộc sống đương đại. Cho tới nay, một cách tổng thể, hoạt động điện ảnh thành phố cũng như cả nước vẫn chưa tích tụ được đà hoạt động vững và mạnh như đòi hỏi thông thường đối với một nền điện ảnh mang tính công nghiệp. Đội ngũ trẻ năng động, có khả năng đột phá đang dần thế chân lớp đi trước một cách đáng tin cậy, trong lúc nguồn vốn chế tác phim vẫn bấp bênh và chưa định hình. Yếu điểm cốt tử của điện ảnh thành phố cũng như cả nước hiện nay là khan hiếm kịch bản tốt và hay. Hệ thống đề tài, như đã nói ở trên, là khá đa dạng; song có phần khuôn hẹp trong đời sống thành phố, tập trung vào giai tầng giàu có. Xu hướng thương mại cực đoan, chiều nịnh thị hiếu tầm thường từng gây nhức nhối xã hội, nay đã được điều chỉnh bước đầu; yếu tố nội dung tư tưởng và nghệ thuật thể hiện đang được nhiều nhà sản xuất cùng các tác giả coi trọng hơn. Việc định hướng sáng tác phim truyện, do đó còn là nhiệm vụ không thể quên lãng trong thời gian tới, nhất là đối với công tác báo chí và phê bình phim.

Giới chế tác phim truyện truyền hình, thời gian qua cũng đạt tiến bộ đáng kể. Từ chỗ bỡ ngỡ, đã từng bước làm quen và làm chủ kỹ năng chế tác phim truyện truyền hình nhiều tập; nay đã đủ sức hoàn thành các dự án lớn hàng trăm tập phim, đáp ứng nhu cầu phát sóng hàng ngày.

Với lĩnh vực SÂN KHẤU, phương thức hoạt động xã hội hóa theo Nghị quyết số 90 năm 1997 của Chính phủ được thực hiện rất sớm. Từ cuối thập niên 80 thế kỷ trước, với các mô hình đầy sáng tạo, giới sân khấu thành phố đã năng nổ cho ra đời nhiều loại hình nhà hát kịch mini; chẳng những duy trì ánh đèn sân khấu thành phố, mà còn đem đến cho công chúng những vở diễn thú vị và bổ ích, trong đó có thể nhắc đến Sân khấu kịch IDECAP, Công ty cổ phần đầu tư giải trí Phước Sang, các Công ty TNHH: Sân khấu – điện ảnh Vân Tuấn, Nụ cười mới, D và D, Mỹ phát, Sân khấu kịch Tao đàn, Trịnh Kim Chi, Hoàng Thái Thanh… đã bản lĩnh vượt qua nhiều trở ngại, dần định hình lối đi và phong cách riêng để đến với công chúng. Các đơn vị nghệ thuật công lập mới đầu cũng ngỡ ngàng trước phương thức hoạt động tự chủ, đã dần nỗ lực tìm kiếm con đường phát triển phù hợp, cố gắng huy động nguồn vốn xã hội, thể nghiệm mô hình liên kết dàn dựng vở diễn, thu hút các thế hệ nghệ sĩ để xây dựng chương trình… Tuy nhiên nhìn chung, đến thời điểm này, sân khấu thành phố vẫn đang vướng vào hàng loạt khó khăn không dễ giải tỏa nếu không được chính quyền đặc biệt hỗ trợ: đó là những khó khăn về nguồn vốn, về địa điểm trình diễn, về đào tạo đội ngũ, về thị phần… đặc biệt về nhiệm vụ vực dậy các loại hình sân khấu truyền thống dân tộc.

Cũng cần nhấn mạnh rằng trong bao năm qua, thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung cao độ nguồn lực, tích cực đầu tư nâng cấp các công trình, thiết chế văn hóa ở nội, ngoại thành. Với trên 80 Trung tâm văn hóa, Nhà văn hóa trải khắp thành phố, đã tạo điều kiện hỗ trợ hiệu quả đối với một số hoạt động văn nghệ.

Có lẽ ÂM NHẠC là chuyên ngành nghệ thuật gặp nhiều thuận lợi hơn trong quá trình đổi mới hoạt động. Là bộ môn nghệ thuật hoạt động thường xuyên, sôi động, có sức lôi cuốn đông đảo các tầng lớp công chúng; cao trào xã hội hóa đã tạo thêm điều kiện cho hoạt động âm nhạc phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu thông qua các hình thức quảng bá trình diễn khác nhau, trong đó có sóng truyền hình. Hàng loạt tụ điểm ca nhạc được dựng nên: Sân khấu Lan Anh, Sân khấu 126, Câu lạc bộ ATD, Phòng trà ca nhạc M và Tôi, Đồng dao, Trống đồng… là những điểm hẹn quen thuộc của nghệ sĩ ca nhạc với công chúng. Bên cạnh đó, các live show ca nhạc với những quy mô khác nhau được tổ chức hoành tráng với nguồn lực xã hội, lôi cuốn đông đảo người nghe. Trong lúc âm nhạc chính thống gồm giao hưởng, hợp xướng, opera… hoạt động cầm chừng do đòi hỏi đầu tư lớn, do sáng tác chưa theo kịp nhu cầu và do thị trường chật hẹp thì âm nhạc dân gian truyền thống đa phần hoạt động tự phát, gặp khó do thiếu đồng nhất giữa hình thức thể hiện đặc trưng của loại hình với nhu cầu thị hiếu hiện nay của công chúng, nhất là công chúng trẻ. Trong lúc đó, âm nhạc đời sống với ca khúc nhạc mới, pop, rock, rap… thịnh hành đột phá trong giới trẻ, có khả năng thu hút lớn và sinh lãi. Tuy nhiên, âm nhạc đời sống cũng là tâm điểm băn khoăn của dư luận khi dấy lên nguy cơ làm nhạt màu bản sắc dân tộc. Nhạc trẻ khoác tấm áo tươi mới, phong phú, phóng túng; một số nhạc phẩm xen lẫn những ca từ dễ dãi, có khi thô lậu, ảnh hưởng tiêu cực người nghe trẻ. Nói chung, nhu cầu thưởng thức âm nhạc ở thành phố luôn lớn, mấy năm qua đã xuất hiện một số tác phẩm gây tiếng vang nhất định; song sáng tác âm nhạc thường thiếu kịp thời và thiếu độ sâu mong đợi, nếu đo với ca khúc Cách mạng – những bài ca không thể nào quên một thời, thì nhược điểm này càng nổi rõ hơn.

Hoạt động Văn học – nghệ thuật thành phố đang đối diện với đòi hỏi đổi mới hiệu quả hơn nữa trong nhiệm vụ khó khăn, là bằng phương tiện của mình, xây dựng và phát triển thành công mẫu hình nếp sống, quan hệ, con người không tách rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời phù hợp với đặc điểm thời đại. Sau đây là một số cảm nghĩ và đề xuất theo mục tiêu này:

1. Cho dù chánh quyền thành phố, các hội đoàn và cả bản thân văn nghệ sĩ thời gian qua đã cố gắng rất nhiều, song thành quả đạt được vẫn chưa đáp ứng yêu cầu rất lớn hiện nay. Tác phẩm ưu tú, tác phẩm đỉnh cao còn quá hiếm hoi. Đây là câu hỏi lớn về trách nhiệm và lương tâm đối với thế hệ văn nghệ sĩ đang sống và cống hiến trong thời đại bản lề hiện nay của đất nước.

2. Trong tiến trình phát triển, ngoài những thành tựu mà Văn học – nghệ thuật thành phố đã đạt được, một bộ phận sản phẩm văn nghệ được sáng tác và phổ biến cho thấy lệch đích. Chủ nghĩa thương mại đơn thuần từng đưa ra những sản phẩm vô bổ, có loại o bế thị hiếu lạc hậu của bộ phận công chúng, có loại gây ảnh hưởng xấu tới thẩm mỹ và nhận thức. Điều này nhắc chúng ta cảnh giác, cần kịp thời uốn nắn.

3. Sau các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương cũng như của thành phố về hoạt động Văn học – nghệ thuật, cần có thêm các hướng dẫn hoặc kế hoạch thực hiện, sau đó cần tổ chức kiểm tra, chấn chỉnh nhằm đạt kết quả cụ thể trong thực tiễn hoạt động. Điều này lâu nay luôn thiếu và yếu, khiến tình hình ít chuyển biến hoặc chuyển biến chậm, gây lãng phí nhiều mặt.

4. Hoạt động Văn học – nghệ thuật thành phố sau 30 năm đổi mới đã có những biến chuyển căn bản và sâu sắc, hình thành những cấu trúc và mô hình hoạt động mới với sự tham gia ngày càng hiệu quả của xã hội. Tuy nhiên, trong giai đoạn quá độ hiện nay, chuyển biến chưa ổn định vững chắc, vì vậy chính quyền thành phố cần tiếp tục hỗ trợ kinh phí cùng các chính sách ưu đãi phù hợp, nhằm định hướng và phát triển văn nghệ thành phố bền vững.

5. Đội ngũ hoạt động Văn học – nghệ thuật thành phố được tăng cường đáng kể về số lượng cũng như một phần về phẩm chất và năng lực. Các văn nghệ sĩ trẻ năng động, nhiệt tình đã và đang thay vai lớp đi trước gánh vác công việc. Quá trình chuyển giao thế hệ hứa hẹn kết quả thuận chiều, tuy nhiên giờ đây rất cần có kế hoạch cụ thể tiếp tục chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ; không chỉ trước mắt mà thường xuyên, lâu dài.

6. Bên cạnh sáng tác, hoạt động lý luận – phê bình là bước đi song song. Mặc dù đội ngũ lý luận – phê bình Văn học – nghệ thuật thành phố khá đông đảo, tập trung ở các viện, trường và hệ thống báo chí, hùng hậu hàng đầu cả nước. Nhưng hoạt động lý luận – phê bình chưa khởi sắc như mong đợi, thậm chí còn nhiều hạn chế, không tập hợp được lực lượng, chưa phát huy được hết chức năng cũng như thế mạnh nghề nghiệp. Trong một số chuyên ngành nghệ thuật, lý luận – phê bình chưa đồng hành cùng sáng tác và chưa làm được cầu nối hữu ích với công chúng. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là môi trường hoạt động chuyên môn bị hạn chế gắt gao, thiếu diễn đàn và không đủ sống nếu hành nghề chuyên nghiệp. Xin lưu ý là điều này đã được lên tiếng nhiều nhưng hầu như không được quan tâm cụ thể, nên qua thời gian dài tình trạng vẫn không thay đổi.

7. Công chúng văn nghệ thành phố ngày nay đã trải qua quá trình chuyển biến lớn, có tính chất vừa mở rộng hơn lại vừa bó hẹp hơn. Mở rộng ở chỗ số lượng công chúng các loại hình nghệ thuật tăng lên gấp bội, trong tất cả các thành phần cư dân; họ thường ngày đến với phim điện ảnh và truyền hình, đến với âm nhạc và các nghệ thuật khác. Ở mặt khác, sự phân hóa thị hiếu cùng nhu cầu thưởng thức ở họ cũng diễn ra rất mạnh mẽ: một số tập trung vào loại hình này, số khác quan tâm sâu hơn vào những đề tài – thể loại cụ thể khác. Sự đa dạng kèm phức tạp đó ảnh hưởng, chi phối trực tiếp đến khuynh hướng, chất lượng sáng tác cũng như phổ biến tác phẩm. Điều này đòi hỏi cơ quan quản lý cùng văn nghệ sĩ phải thấu hiểu công chúng thông qua các đợt điều tra xã hội học chuyên nghiệp, theo những chủ đề và mục tiêu cụ thể. Việc tổ chức điều tra nên được tiến hành đúng dịp và cơ quan chủ quản điều tra phù hợp hơn hết, có lẽ là Liên hiệp các Hội Văn học – nghệ thuật thành phố.

8. Kết quả đổi mới kinh tế đã đem lại nhiều thành quả lớn cho thành phố. Hoạt động văn nghệ nhờ đó cũng thuận lợi, khởi sắc hơn. Tuy nhiên, đối chiếu tinh thần các Nghị quyết của Đảng và đòi hỏi thực tại, chúng ta chưa thật sự cân xứng giữa trình độ phát triển kinh tế với mức độ phát triển Văn học – nghệ thuật. Quy luật phát triển con người và xã hội văn minh không cho phép để mức độ phát triển đời sống tinh thần tụt hậu so với phát triển đời sống vật chất. Vì vậy, trong hoạch định các chương trình, kế hoạch phát triển, thành phố cần coi Văn học – nghệ thuật là đối tượng và mục tiêu hàng đầu, không coi kinh phí dành cho phát triển Văn học – nghệ thuật là khoản chi phụ.

9. Nằm trong nội dung và tiến trình đổi mới, thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã nhanh chóng hình thành và bám rễ trong đời sống cư dân thành phố. Thị trường văn nghệ thành phố hình thành sớm và có đà phát triển mạnh mẽ nhất nước. Điều đó khớp hợp với điều kiện, môi trường cùng thế mạnh của thành phố. Chuyên ngành nghệ thuật điện ảnh là chuyên ngành đặc trưng gắn với tài chính, kỹ thuật và lưu thông phân phối. Chính nhờ khả năng sản xuất và cơ sở hạ tầng của hệ thống chiếu phim mà điện ảnh thành phố trở thành trung tâm của cả nước. Hiện thành phố dẫn đầu cả nước về nhịp độ tăng trưởng chiếu phim và theo tính toán của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Hoa Kỳ, Việt Nam dẫn đầu thế giới với tỷ suất đặc biệt cao là 611%. Tuy nhiên, nhìn thực chất và toàn diện, thị trường điện ảnh nói riêng, thị trường Văn học – nghệ thuật của chúng ta nói chung đang phát triển trong tình trạng cơ bản tự phát, tự lập, thiếu quy hoạch, thiếu dẫn dắt và định hướng; nên manh mún, kém quy củ và thiếu sức mạnh nội tại tổng hợp. Điều này bộc lộ rõ rệt khi cạnh tranh với sản phẩm văn nghệ nước ngoài, hoặc khi đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế. Chúng ta biết rằng thị trường là một phần, là phân khúc quan trọng trong chu trình hoạt động của bộ máy công nghiệp văn hóa. Điều đó có nghĩa rằng, muốn phát triển công nghiệp văn hóa thì phải đồng thời phát triển thị trường văn hóa, bởi, chỉ khi thị trường văn hóa được mở mang thì mới có thể thúc đẩy thuận lợi sáng tác và chế tác. Đó là quy luật cân bằng giữa “đầu vào” với “đầu ra” của chu trình hoạt động văn nghệ. Vì vậy, cần đặc biệt quan tâm, chăm sóc, vực dậy thị trường văn nghệ thành phố; nhằm tạo đầu ra vững chắc, tin cậy để văn nghệ sĩ cùng những người làm văn nghệ tự tin phát triển nghề nghiệp.

10. Hồ Chí Minh là thành phố trung tâm, có quy mô hoạt động văn nghệ lớn và rất đa dạng, cần được kịp thời xây dựng nền tảng cấu trúc công nghiệp văn hóa phù hợp với vai trò của thành phố đối với cả nước cũng như ở khu vực, trong trước mắt và tương lai; trong đó, trước mắt nên tập trung vào hai chuyên ngành có nhu cầu và điều kiện hơn là điện ảnh và âm nhạc. Về nguyên tắc, để trở thành nền công nghiệp nghệ thuật, chuyên ngành nghệ thuật đó phải đáp ứng các yêu cầu là hình thành một hệ thống hoạt động thống nhất, cấu thành quy trình chế tác và sản xuất chuyên nghiệp khép kín, tạo ra hàng loạt sản phẩm đạt chất lượng được thị trường đón nhận rộng rãi; ngoài ra còn phải hoạt động thường xuyên, đạt quy mô công nghiệp, tạo ra thương hiệu và có thị trường ổn định. Với những tiêu chuẩn cơ bản trên, thành phố chúng ta có thể từng bước chủ động hoạch định và xây dựng nền công nghiệp Văn hóa, khởi đầu bằng các chuyên ngành kể trên.

11. Để định hướng sáng tác và phổ biến tác phẩm văn nghệ, đồng thời để khuyến khích, tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ đầu tư đường dài, có chiều sâu theo mục tiêu giáo dục truyền thống, xây dựng con người mới trong tình hình hiện nay; chính quyền thành phố nên tiếp tục tăng cường hỗ trợ, đầu tư có trọng điểm vào các chương trình mục tiêu, các kế hoạch sáng tác và phổ biến tác phẩm hằng năm, nhằm thực sự đưa Văn học – nghệ thuật thành phố trở thành động lực góp phần phát triển hơn nữa kinh tế, xã hội, con người thành phố.

12. Để tạo nguồn vốn ổn định và lâu dài nhằm hỗ trợ hiệu quả hoạt động Văn học – nghệ thuật thành phố nên nghiên cứu thành lập “Quỹ hỗ trợ phát triển hoạt động văn nghệ”. Ý kiến này đã được đề xuất nhiều lần, song vẫn chưa trở thành hiện thực.

13. Đất nước chúng ta sau hơn ba thập niên đổi mới, hội nhập và phát triển; ngày nay đã trở thành một quốc gia trung bình lớn trên thế giới. Với số dân không lâu nữa sẽ đạt mốc 100 triệu, có quan hệ với hơn 130 quốc gia trên địa cầu, chúng ta giờ đây có thể và cần tư duy xa rộng hơn, hoài bão mạnh mẽ hơn, quyết tâm sắp đặt cơ đồ Văn học – nghệ thuật bài bản, phát triển mạnh chắc hơn. Cụ thể, cần tiến hành quy hoạch, chọn ra sản phẩm mũi nhọn, tập trung chế tác – sản xuất – quảng bá – phổ biến khắp trong và ngoài nước; thiết thực đưa văn nghệ trở thành phương tiện dẫn đường và hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, giao thương quốc tế.

GS-TS Trần Luân Kim
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 471

Ý Kiến bạn đọc