Thời sự văn nghệ

Văn học – Nghệ thuật Tp. Hồ Chí Minh, 40 năm góp phần giáo dục chủ nghĩa yêu nước

Bốn mươi năm qua văn học – nghệ thuật thành phổ luôn đồng hành cùng đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phổ trong từng giai đoạn lịch sử, trên từng chặng đường phát triển, góp phần đắc lực và thiết thực giáo dục chủ nghĩa yêu nước, xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng và xây dựng, phát triển thành phổ hồ chí minh văn minh, hiện đại, nghĩa tình.

NHỮNG NÉT ĐẶC THÙ CỦA ĐỜI SỐNG VĂN HỌC – NGHỆ THUẬT THÀNH PHỐ

Đó là sự phong phú đa dạng của lực lượng làm nghề; là tính chiến đấu với tinh thần “văn nghệ sĩ là chiến sĩ’ ở thời bình; là tính năng động, sáng tạo vì sự phát triển.

Sự phong phú, đa dạng của đội ngũ hoạt động văn học – nghệ thuật là nét đặc thù nổi bật nhất, dễ thấy nhất bởi vì mặc dù hiện nay thành phố chỉ là “cấp địa phương” nhưng Sài Gòn trước 30/4/1975 là trung tâm văn hóa – văn nghệ lớn nhất ở phía Nam đất nước. Sau ngày giải phóng, thành phố lại được kế thừa phần lớn lực lượng văn nghệ sĩ của Hội Văn nghệ Giải phóng và các văn nghệ sĩ miền Nam tập kết ra Bắc trở về hầu hết cũng đã chọn thành phố Hồ Chí Minh làm nơi định cư, công tác. Những năm sau này, bên cạnh lực lượng đông đảo văn nghệ sĩ trưởng thành sau 1975 tại thành phố cũng như của các tỉnh thành khác nhập cư vào để phát triển nghề nghiệp, hoạt động văn học – nghệ thuật của thành phố còn có sự góp mặt của không ít những văn nghệ sĩ đã định cư ở nước ngoài, nay trở về nước và tham gia vào các hoạt động văn nghệ trong nước (nhiều nhất là ở lĩnh vực âm nhạc và điện ảnh). Sự đa dạng về thành phần đội ngũ là nét rất riêng và chính yếu tố này đã góp phần tạo nên một nội lực sáng tạo to lớn trong đời sống văn học – nghệ thuật của thành phố Hồ Chí Minh.

Tính chiến đấu với tinh thần “văn nghệ sĩ là chiến sĩ’ theo lời Bác Hồ dạy là một phẩm chất nổi trội trong thời bình của văn nghệ sĩ thành phố mang tên Bác, chính bằng những hành động tự thân của văn nghệ sĩ thành phố và tác phẩm văn học – nghệ thuật của các anh chị đã minh chứng điều này. Từ những ngày đầu mới giải phóng với nhiều khó khăn gian khổ chồng chất, văn nghệ sĩ đã đồng hành cùng nhân dân thành phố “trên nông trường, ra biên giới”. Hình ảnh những ca sĩ, nghệ sĩ tên tuổi của Sài Gòn như Thanh Nga, Kim Cương, Bạch Tuyết, Thẩm Thúy Hằng, Thành Được, Minh Phụng, Diệp Lang, Thanh Lan, Thanh Tòng… cũng xung phong đăng ký đi tham gia đào đất, ôm đất ở các công trình Đầm Sen, khu kinh tế mới Phạm Văn Hai, kinh Đông ở Thái Mỹ – Củ Chi… cùng với học sinh, sinh viên thành phố ngày ấy đến giờ còn đọng lại những vẻ đẹp khó tả. 

Trật tự viên du lịch trợ giúp và hướng dẫn du khách - một hình ảnh đẹp với khách nước ngoài và người dân thành phố. Nguyễn Công Thành Trật tự viên du lịch trợ giúp và hướng dẫn du khách – NGUYỄN CÔNG THÀNH

 Tư cách chiến sĩ trên mặt trận văn hóa – văn nghệ thể hiện rất rõ trong các đề tài và tác phẩm của văn nghệ sĩ. Các tác phẩm từ thơ, bút ký, ca khúc, tranh – tượng mỹ thuật đến các vở diễn sân khấu kịch – cải lương, phim truyện, phim tài liệu, ảnh nghệ thuật phản ánh công cuộc đổi mới đất nước, sự n ăng động, sáng tạo, đầy ắp nghĩa tình của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và sự phát triển vượt bậc của thành phố đã được anh chị em văn nghệ sĩ trân trọng, thể hiện thành công trong nhiều tác phẩm của mình. Thông qua tác phẩm văn học – nghệ thuật, các văn nghệ sĩ đã nỗ lực phát hiện, khẳng định các nhân tố m ới trong thực tiễn đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo của nhân dân; tham gia đấu tranh lên án cái xấu, cái ác, sự biến chất, thoái hóa về nhân cách, lối sống và đạo đức trong một bộ phận xã hội; tham gia đấu tranh phản bác các khuynh hướng, hành vi sai trái, cực đoan, bảo vệ và phát triển đường lối văn hóa, văn học, nghệ thuật của Đảng.

Phẩm chất năng động, sáng tạo trong hoạt động văn học – nghệ thuật tại thành phố cũng thể hiện rất rõ. Năng động là một phẩm chất rất ưu tú của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và chính phẩm chất này đã góp phần rất lớn vào những thành tựu đầy tự hào trong công cuộc xây dựng, phát triển thành phố nhiều năm qua. Trong đời sống văn học – nghệ thuật thành phố, sự năng động cũng thể hiện rất rõ. Đó là mặc dù nền kinh tế của đất nước đã có nhiều bước phát triển vượt bậc thì trong mười lăm năm qua, có lẽ chỉ có hoạt động văn học – nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh là đang phát triển tiệm cận với nền công nghiệp văn hóa, phù hợp với chủ trương công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, thể hiện rõ nét ở các loại hình âm nhạc, điện ảnh, sân khấu… Phát triển nghề nghiệp, nỗ lực tạo ra nhiều sản phẩm tinh thần cho xã hội, nâng cao đời sống vật chất của cá nhân đồng thời đóng góp thiết thực cho sự phát triển của thành phố bằng sự năng động sáng tạo chính là tinh thần tiến công cách mạng.
Ba nội dung trên (một đặc điểm về đội ngũ và hai phẩm chất đặc biệt của văn nghệ sĩ thành phố) chính là những yếu tố cơ bản, riêng có, góp phần để văn học – nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh làm tốt sứ mệnh của mình trong bốn mươi năm qua.

40 NĂM GÓP PHẦN GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VÀ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG

Có thể nói chủ nghĩa yêu nước luôn là dòng mạch chính, xuyên suốt trong các tác phẩm của tất cả các loại hình văn học- nghệ thuật. Tôi xin tạm chia ra 04 loại đề tài mà các tác phẩm văn học – nghệ thuật thành phố từ sau ngày giải phóng đến nay thể hiện rõ nhất vai trò góp phần giáo dục chủ nghĩa yêu nước:

Một là đề tài ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ kính yêu luôn có vị trí thật đặc biệt trong tâm hồn, tình cảm mỗi chúng ta. Tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ là di sản văn hóa quý báu của dân tộc, nền tảng tinh thần của Đảng, của xã hội mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho hoạt động sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học – nghệ thuật. Mỗi loại hình văn học – nghệ thuật có cách khắc họa hình tượng Bác Hồ riêng, nhưng đều có mẫu số chung là niềm kính yêu vô hạn dành cho Người, vị Cha già của dân tộc.

Ngay trong những năm đầu sau giải phóng, đề tài ca ngợi Hồ Chủ tịch đậm nét nhất là ở hai lĩnh vực âm nhạc và mỹ thuật. Về âm nhạc là các ca khúc đã đi cùng năm tháng và cho đến hôm nay vẫn luôn làm lay động con tim chúng ta, đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng và phát triển của thành phố: Dấu chân phía trước của Phạm Minh Tuấn – Hồ Thi Ca; Viếng lăng Bác của Hoàng Hiệp – Viễn Phương; Bài ca nhớ Bác của Xuân Quang; Những bông hoa trong vườn Bác của Văn Dung… Về mỹ thuật, bên cạnh các tác phẩm hội họa đề tài Bác Hồ có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, không ai không có lần chiêm ngưỡng bức tượng nghệ thuật Bác Hồ với thiếu nhi của Diệp Minh Châu được đặt ở trước Ủy ban nhân dân thành phố đã trở thành biểu tượng của thành phố mang tên Bác, gắn bó máu thịt đối với đời sống tinh thần của nhân dân thành phố suốt nhiều thập kỷ qua.

Đặc biệt khi cuộc vận động sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học – nghệ thuật chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được Trung ương và Thành phố phát động từ năm 2008 đến nay, tác phẩm văn học – nghệ thuật về đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nở rộ, đơm hoa kết trái ở hầu hết các loại hình nghệ thuật. Điện ảnh có các phim tài liệu Bác Hồ trong trái tim miền Nam (tác giả Dương Cẩm Thúy), Hồ Chí Minh – cội nguồn cảm hứng sáng tạo (tác giả Tô Hoàng), Hồ Chí Minh, một hành trình (đạo diễn Lý Quang Trung; kịch bản Trần Đức Tuấn)… Sân khấu có vở kịch Điều ước thiêng liêng (tác giả Nguyên An). Âm nhạc có các ca khúc Thì thầm tháng 5 (Hữu Xuân – Lê Tú Lệ), Bài ca tháng 5 (Hoàng Cương), Viên gạch hồng trên phố Compoint (Tôn Thất Lập), Một thời Rừng Sác (Trần Long Ẩn), Lòng dân – ơn Bác (Võ Đăng Tín), Nguồn sáng dẫn đường (Ca Lê Thuần), Đêm đêm con vẫn gọi Bác (Phan Huỳnh Điểu)… Văn học có tác phẩm Hồ Chí Minh – về kiều dân và kiều bào (sách sưu khảo của Trần Trọng Đăng Đàn), Trong tù nhớ Bác (truyện ký của Chinh Văn), tập thư họa chữ Hoa Nhật ký trong tù (Hội VHNT các dân tộc thiểu số TP.HCM)… Tác phẩm mỹ thuật có Bản sonate đại thắng mùa xuân 1975 (tranh sơn dầu của Nguyễn Thanh Châu), Hồ Chủ tịch năm 1946 (tượng điêu khắc của Trần Việt Hưng), Chúc thọ Bác Hồ (tranh sơn dầu của Nguyễn Đức Thọ)… Nghệ thuật múa có vở Mặt trời trong tim (Kim Quy)…

Hai là đề tài về lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, về chiến tranh cách mạng với rất nhiều cung bậc tái hiện ký ức lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc và hai cuộc kháng chiến vệ quốc chống Pháp, chống Mỹ xâm lược. Thế mạnh của đề tài này thuộc về các loại hình văn học, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh và mỹ thuật. Lĩnh vực điện ảnh trước hết phải nói đến hai bộ phim Mùa gió chướng và Cánh đồng hoang của nhà văn Nguyễn Quang Sáng vào năm 1978-1979 đã gây tiếng vang lớn trong đời sống văn học – nghệ thuật cả nước. Phim Cánh đồng hoang ngoài gặt hái các giải thưởng trong nước còn nhận được giải Nhất Liên hoan phim quốc tế Mát-xcơ-va năm 1980. Cùng thời điểm đó là các phim Cô Nhíp, Địa chỉ để lại, Giữa hai làn nước, Ván bài lật ngửa, về nơi gió cát, Vùng gió xoáy…; sân khấu có các vở cải lương như Khách sạn hào hoa, Hai Bà Trưng, Thái hậu Dương Vân Nga… Cho đến bây giờ sau gần bốn mươi năm, các bộ phim, các vở cải lương nêu trên vẫn là tư liệu quý, hấp dẫn để các thế hệ trẻ ngày nay hiểu, khâm phục và tự hào về sự ngoan cường, tinh thần xả thân vì Tổ quốc của cha ông và dân tộc mình.

Ở lĩnh vực mỹ thuật, ký ức hai cuộc kháng chiến cũng là đề tài trăn trở của những họa sĩ, nhà điêu khắc đã có một thời tuổi trẻ gắn bó với vận mệnh dân tộc trước họa ngoại xâm như Huỳnh Phương Đông, Thanh Châu, Trang Phượng, Nguyễn Hiêm, Nguyễn Hải, Huỳnh Văn Gấm, Quách Phong, Nguyễn Kao Thương, Phạm Mười… Đặc biệt loại hình điêu khắc, không kể tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thì hầu hết các tượng đài chiến thắng ở công viên trung tâm, ở nghĩa trang liệt sĩ hoặc phù điêu hoành tráng về chiến tranh cách mạng của các tỉnh đồng bằng Nam bộ đều là tác phẩm của các họa sĩ, nhà điêu khắc của thành phố Hồ Chí Minh, như: tượng đài Chiến thắng Ấp Bắc và Rạch Gầm – Xoài Mút ở Tiền Giang, tượng đài Trận Bến Lức ở Long An, tượng đài Chiến thắng Bàu Bàng ở Bình Dương và cả tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ tại Lai Châu đều của nhà điêu khắc Nguyễn Hải; tháp tượng đài tưởng niệm núi Bà Đen ở Tây Ninh của họa sĩ Quách Phong; tượng đài Chiến thắng Gò Quản Cung ở Đồng Tháp của họa sĩ Phạm Mười…
Đề tài chiến tranh cách mạng đặc biệt sôi động ở lĩnh vực văn học, không chỉ các nhà văn, nhà thơ đã từng kinh qua kháng chiến như Lê Văn Thảo với tiểu thuyết Con đường xuyên rừng, Cơn giông; Nguyễn Quang Sáng với tiểu thuyết Mùa gió chướng, Cánh đồng hoang; Anh Đức với tập truyện và ký Miền sóng vỗ; Lam Giang với tập ký Những tiếng nổ rung chuyển Sài Gòn; Thanh Giang với các tác phẩm tiểu thuyết, truyện ký Vùng tranh chấp, Đánh trong lòng địch, Chiến sĩ Mậu Thân; Phạm Tường Hạnh với tiếu thuyết Anh hùng Phạm Ngọc Thảo; Lê Thành Chơn với tiếu thuyết Đọ cánh, tập ký Tầm cao… mà còn thu hút những nhà văn trưởng thành sau ngày giải phóng như Ung Ngọc Trí với tiếu thuyết Hạ sĩ quan, Trầm Hương với tiếu thuyết Người đẹp Tây Đô, Sài Gòn những đêm trắng. Ở mảng thơ thì do đặc thù riêng của loại hình văn học này là “kiệm chữ” nhưng chắt lọc và lắng đọng nên ít có “toàn tập” về đề tài chiến tranh cách mạng mà thế hiện đa số ở dạng các “bài thơ” về ký ức chiến tranh, ca ngợi các Anh hùng, Liệt sĩ, các Bà Mẹ Vi ệt Nam anh hùng với các nhà thơ: Chim Trắng, Nguyễn Chí Hiếu, Hoàng Đình Quang, Lê Thị Kim, Thái Thăng Long, Lê Tú Lệ, Trương Nam Hương, Hồ Thi Ca, Trần Thị Khánh Hội, Trần Khuyến, Phan Hoàng…

Thế mạnh nhanh chóng đi vào lòng người của thế loại âm nhạc luôn là các ca khúc. Ở đề tài chiến tranh cách mạng có thế kế đến các tên tuổi gạo cội với nhiều ca khúc cách mạng bất hủ và dòng mạch ấy, đề tài thiêng liêng ấy vẫn được tiếp nối trong thời bình như Xuân Hồng với Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh, Người mẹ Việt Nam, Khi người lính trở về; Phạm Minh Tuấn với Đất nước; Hoàng Hiệp với Nhớ về Hà Nội; Phan Huỳnh Điếu với Sợi nhớ sợi thương; Trần Long Ẩn với Tình đất đỏ miền Đông…

Ba là đề tài về bảo vệ biên giới, hải đảo, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Đây là một đề tài sôi động, nhất là khi có các diễn biến thời sự liên quan đến chủ quyền đất nước. Ngay từ những năm 78-80 của thế kỷ trước, khi chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam Tổ quốc nổ ra, lớp lớp thanh niên, sinh viên thành phố xếp bút nghiên lên đường ra trận. Cùng với hành trang chiến đấu là các giai điệu mang theo mệnh lệnh từ trái tim như Những đôi mắt mang hình viên đạn của Trần Tiến, Hãy yên lòng mẹ ơi của Lư Nhất Vũ, Ngày mai anh lên đường của Thanh Trúc (thơ Lê Giang), Hát về anh của Thế Hiến…

Những năm gần đây, dòng sáng tác về đề tài biến đảo, về truyền thống bộ đội Cụ Hồ càng dấy lên mạnh mẽ với các tác phẩm sân khấu (kịch Sống mãi tuổi xuân – tác giả Lê Chí Trung), điện ảnh (các phim tài liệu về biến đảo), và các bài thơ, truyện ngắn, bút ký, ca khúc, tranh tượng mỹ thuật, ảnh nghệ thuật, bài ca cổ… Đặc biệt ca khúc Tổ quốc gọi tên mình của nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn (thơ Nguyễn Phan Quế Mai) đã đạt đến tầm vóc tác phẩm đỉnh cao về tính tư tưởng và nghệ thuật, có sức lan tỏa, tác động mạnh mẽ trong công chúng cả nước. Có thế nói đề tài này luôn hấp dẫn người sáng tác và đồng điệu với công chúng vì nó liên quan đến an nguy của Tổ quốc. Văn nghệ sĩ có thế nhiều thành phần khác nhau, nhiều khuynh hướng sáng tác và thậm chí có chính kiến khác nhau nhưng khi “Tổ quốc gọi tên mình” thì như có đường dây vô hình kết nối thành “vòng tròn bất tử” cho Tổ quốc thiêng liêng.

Bốn là các tác phẩm văn học – nghệ thuật đề tài xây dựng quê hương, đất nước. Đây là mảng đề tài rộng nhất và bao trùm tất cả các loại hình văn học – nghệ thuật. Tác phẩm có thế là ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, của những thành quả lao động, sáng tạo của nhân dân, ca ngợi những tấm gương người tốt việc tốt, những số phận kém may mắn nhưng đầy nghị lực vươn lên. Tác phẩm có thế là những chiêm nghiệm về nhân sinh, hay là về lẽ sống với những hoài bão, ước mơ của tuổi trẻ. Tác phẩm có thế là về công cuộc đổi mới đất nước, về sự năng động, sáng tạo của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và sự phát triến vượt bậc của thành phố. Tác phẩm cũng có thế là nói về đấu tranh, phê phán những cái xấu, tiêu cực trong đời sống xã hội…

Đề tài xây dựng quê hương, đất nước cũng góp phần giáo dục chủ nghĩa yêu nước bởi nó chuyến tải những thông điệp về trách nhiệm công dân, về khát vọng sống, một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn trong một đất nước phát triến và một thành phố mang tên Bác ngày càng văn minh, hiện đại nhưng cũng đầy ắp nghĩa tình.

ĐÔI ĐIỀU BĂN KHOĂN CÒN LẠI

Trong thời gian mười lăm năm trở lại đây, khi công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế mang lại nhiều thành tựu và nếu như các loại hình văn học, âm nhạc, mỹ thuật (chỉ với hội họa), điện ảnh (chỉ với thế loại phim tài liệu), nhiếp ảnh, múa tiếp tục gặt hái được nhiều tác phẩm góp phần tích cực vào việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước thì ba loại hình nghệ thuật chủ lực là điện ảnh (thế loại phim truyện nhựa), mỹ thuật (tượng đài, tượng nghệ thuật) và sân khấu lại có khuynh hướng dừng lại, thậm chí thụt lùi.

Thời hoàng kim của các phim Mùa gió chướng, Cánh đồng hoang, Ván bài lật ngửa, các vở cải lương, kịch nói Hai Bà Trưng, Người ven đô, Khách sạn hào hoa đình đám một thời về đề tài lịch sử chống ngoại xâm và chiến tranh cách mạng giờ chỉ còn là kỷ niệm của thời bao cấp.

Ở lĩnh vực điêu khắc, ngoài bức tượng Thích Quảng Đức hóa thân được khánh thành cách đây ba năm thì mảng tượng đài, tượng nghệ thuật quả thật cũng quá im ắng. Trong khi các họa sĩ, các nhà điêu khắc của thành phố được các tỉnh mời gọi về dựng tượng tại các công viên của họ (Vũng Tàu, Đà Nẵng, Nha Trang, Bình Thuận…) thì các công viên, hoa viên như Tao Đàn, Bách Tùng Diệp, 23/9, hay các khu đô thị mới, các đại lộ thênh thang, hiện đại mà điến hình là đại lộ Võ Văn Kiệt với nhiều mảng xanh dọc hai bờ sông nhưng lại vô cùng trống vắng…

Đội ngũ văn nghệ sĩ thành phố vừa hùng hậu vừa có tầm, có tâm, có tài. Lãnh đạo thành phố cũng cực kỳ quan tâm và tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi đế phát huy sáng tác, nhất là gắn với 04 loại đề tài đáp ứng nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa yêu nước được trình bày ở phần trên. Tuy nhiên, dường như trong bản hùng ca ấy vẫn còn có chỗ lỗi nhịp.
Thực ra, khắc phục các hạn chế nêu trên không phải quá khó. Đối với điện ảnh và sân khấu, thành phố cần có chiến lược đầu tư dài hơi cả về sáng tác kịch bản và dàn dựng, sản xuất, quảng bá tác phẩm về đề tài Bác Hồ và chiến tranh cách mạng. Thời gian qua cách làm của chúng ta còn chắp vá, thiên về phát động “cho có” và thiếu đầu tư cho dàn dựng, sản xuất tác phẩm, chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của lực lượng xã hội hóa vốn là thế mạnh của thành phố ở chính hai loại hình nghệ thuật chủ lực này. Có đề án chiến lược và khoa học với các giải pháp, lộ trình, bước đi phù hợp thì mới khắc phục được những hạn chế lâu nay. Đối với vấn đề tượng đài, tượng nghệ thuật thì giao Hội Mỹ thuật thành phố phối hợp Sở Văn hóa – Thế thao có đề án hoàn chỉnh tổ chức trại sáng tác điêu khắc quy mô về tượng nghệ thuật đề tài lịch sử chống ngoại xâm, chiến tranh vệ quốc, bảo vệ biên giới, hải đảo đế trang bị tại các công viên, hoa viên, các khu đô thị m ới, các đại lộ trong thành phố, vừa làm tăng tính mỹ thuật, tạo vẻ đẹp đô thị, thu hút khách du lịch vừa góp phần thiết thực giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Được biết cách đây ba năm, lãnh đạo Hội Mỹ thuật thành phố cũng đã đề xuất kế hoạch này nhưng đã bị rơi vào… im lặng! Vấn đề tư duy phát triến văn hóa, nghệ thuật dưới tác động của kinh tế thị trường xem ra còn phải bàn nhiều.

Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Anh hùng, văn minh, hiện đại, nghĩa tình và chúng ta cũng như các văn nghệ sĩ tự hào là công dân của thành phố. Giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau đế “giữ yên bờ cõi”, đế đất nước phát triến “sánh vai với các cường quốc năm châu”, đế bản sắc văn hóa dân tộc ngày càng tỏa sáng không chỉ là trách nhiệm công dân mà còn là mệnh lệnh trái tim của tất cả mọi người dân thành phố, trong đó có một “binh chủng” đặc biệt tinh tế của văn hóa, đó là văn học – nghệ thuật. 

LÊ TÚ LỆ

(Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận – phê bình Văn học – nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh)

 

Ý Kiến bạn đọc