Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Văn hóa lãnh đạo soi đường…

Công trình “Văn hóa lãnh đạo – triết lý phát triển bền vững ” trong tư duy văn hóa Hồ Chí Minh” của PGS-TS Thành Duy (NXB Văn hóa Thông tin. H. 2014) đã trình bày rõ tư duy văn hóa Hồ Chí Minh, đặc biệt quan điểm văn hóa lãnh đạo, là vấn đề hết sức quan trọng, cấp thiết cho hiện tại và lâu dài. Vì vậy, vấn đề cần được thấu hiểu, phổ biến rộng rãi.

Khi nói đến văn hóa thường người ta hay bị sa vào hai thái cực: Xem nó là quá quen thuộc quá bình thường, chỉ là chuyện loa-đèn-kèn-trống… tuyên truyền cổ động, là công việc của ngành văn hóa thông tin. Hoặc cao đàm khóat luận mênh mông bể sở dẫn dụ Đông Tây Kim Cổ mà không gắn vào thực tiễn cuộc sống, là chuyện của giới hàn lâm của các ông nghè bà nghè mũ cao áo dài thiên kinh vạn quyển. 

PGS.TS THÀNH DUY

PGS.TS THÀNH DUY

 Văn hóa có thể nói rất rộng bao nhiêu cũng không đủ. Không hết… Mà nói hẹp một vài câu cũng khái quát được. Đó là hiện thực do con người sáng tạo ra, là “thế giới cho ta”. Văn hóa là con người. Một bước đi một lời nói, miếng ăn tấm mặc, một việc làm một hành động hành vi thao tác dù rất nhỏ cũng là văn hóa. Văn hóa là kinh nghiệm, là tri thức, biểu hiện ở đời sống con người từ rất giản đơn cho đến cực kỳ phong phú như ngày nay. Nhưng văn hóa cũng như tri thức, là con dao hai lưỡi. điều quan trọng là con người sử dụng tri thức, sử dụng kinh nghiệm văn hóa như thế nào. Đóng góp trong công trình này của PGS-TS Thành Duy là làm sáng rõ bản chất văn hóa và quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về văn hóa, đặc biệt ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Văn hóa ở Hồ Chí Minh không chỉ là lý thuyết mà con người và cuộc đời của Người là biểu hiện sinh động của văn hóa, ở trình độ am hiểu kế thừa kết tinh rất cao và hành động văn hóa rất thực tiễn.

Khi nói văn hóa lãnh đạo, cần thấy ở hai phạm vi:

Ở các chủ thể lãnh đạo từ cá nhân người lãnh đạo, giới lãnh đạo, bộ phận bộ máy lãnh đạo phải có trình độ văn hóa đáp ứng được công tác lãnh đạo, là những người biết lo cho tập thể quần chúng biết làm.
Ở phạm vi rộng, toàn thể, phải xem văn hóa là trí tuệ soi đường cho hoạt động của con người, từ phạm vi cá nhân đến phạm vi cộng đồng xã hội” “Nói đến văn hóa lãnh đạo hay văn hóa chỉ đường là nói đến vị trí, vai trò của văn hóa nói chung, văn hóa như một sản phẩm của trí tuệ, của văn minh nhân loại, gắn với mỗi bước tiến của thời đại, của mỗi nền văn minh trong quá trình phát triển của xã hội loài người” (Sđd. Trang 102).

Tri thức văn hóa càng sâu rộng thì bản lĩnh, sức mạnh càng lớn. Từ cá nhân cho đến cộng đồng xã hội. Ví dụ của Mác
khi so sánh việc làm của con ong xây tổ và của người kỹ sư đã hình dung tưởng tượng ra công trình trước khi xây dựng, đó là hình ảnh nói rõ vai trò của ý thức con người – nó cũng nói lên vai trò của văn hóa: vai trò soi đường, lãnh đạo, tổ chức lựa chọn các hoạt động thực tiễn. Ở phạm vi xã hội tập thể, cộng đồng, dân tộc, cũng rất rõ.

Không có sự phát triển kế thừa văn hóa thì không có xã hội hiện đại như ngày nay. Không có sự tổng hợp và sáng tạo văn hóa sẽ không có Mác – Lênin, không có Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn Độc lâp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776), Tuyên ngôn của Cách mạng Pháp (1789)… Là những bước tiến của văn hóa nhân loại. Đến Tuyên ngôn cộng sản (1848) và Tuyên ngôn Độc lâp (Việt Nam – 1945) là những bước tiến hơn nữa về văn hóa cũng là của lịch sử. Nhìn lại lịch sử dân tộc, từ Chiếu dời đô (1010) đến Tuyên ngôn độc lâp (1945) đến Hội nghị chính trị đặc biệt (1965) và Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (khởi thảo 1965. Công bố 1969) qui luật phát triển văn hóa và văn hóa lãnh đạo, soi đường cho quốc dân càng rõ. Vấn đề quan trọng cấp thiết hiện nay là nhận thức được vai trò lãnh đạo của văn hóa từ phạm vi cá nhân, nhân cách văn hóa cho đến phạm vi quốc gia – xã hội. Đây là vấn đề cấp bách mà tác dụng hay tác hại diễn ra từng ngày từng giờ trong mọi lĩnh vực đời sống. Cần đi vào thực tiễn, cụ thể về văn hóa lãnh đạo.

Tác giả có nêu lên hai trường hợp cụ thể là Quỳnh Lưu (Nghệ An) và Định Công (Thanh Hóa). Đó là hai ví dụ rất điển hình về văn hóa lãnh đạo: “Việc nhân danh mo cơm, quả cà với tấm lòng cộng sản để hô hào nhân dân di dời cả làng, xã lên miền núi không điện, nhất là không nước, như Quỳnh Lưu đã làm trước đây, quả là một việc làm thiếu văn hóa. Nhưng tại sao một việc làm thiếu văn hóa như thế nhân dân vẫn nghe theo. Rõ ràng, ở đây có sự lợi dụng ý thức dân tộc một cách vô nguyên tắc. Đúng là, vì chủ nghĩa dân tộc, nhân dân có thể bỏ làng để đánh giặc cứu nước như chủ trương vườn không nhà trống trước đây, nhưng lợi dụng chủ nghĩa dân tộc vào mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách thiếu văn hóa như Quỳnh Lưu, Định Công chẳng hạn.. thì hoàn toàn sai. Tại sao Đảng cầm quyền không ngăn chặn mà còn khuyến khích? Chỉ có thể giải thích thái độ đó là, do thiếu hiểu biết văn hóa trong lãnh đạo. Đó chính là lĩnh vực triết lý văn hóa lãnh đạo trong tư duy văn hóa Hồ Chí Minh” (Sđd. Tr. 297-298)

Đây là hai trường hợp rất điển hình của tình trạng thiếu văn hóa lãnh đạo như tác giả đã nêu. Nhưng không chỉ có thế. Đấy là điển hình của chủ nghĩa duy ý chí, không hiểu biết qui luật kinh tế – xã hội trong việc tổ chức xây dựng xã hội mới.
Trước đây đã có rất nhiều và sau đấy, cho đến hôm nay và sau này sẽ vẫn còn rất nhiều. Vì vậy cần phải hiểu và rút ra những kinh nghiệm cần thiết. 

1. Quỳnh Lưu: Là huyện Quỳnh Lưu, cực Bắc tỉnh Nghệ An giáp Thanh Hóa. Là huyện ven biển vừa có vùng trung du giáp với các huyện Như Xuân (Thanh Hóa), Nghĩa Kỳ (Nghệ An). Vùng trung du này không rộng và đất đai phần nhiều khô cằn. Quỳnh Lưu là huyện đông dân, nhất là các xã ven biển. Đưa dân lên xây dựng vùng kinh tế mới thì không sai. Chứng cứ là ngày nay vùng đất này đã được khai thác tốt. Nhưng chuyển dân đi mà không chuẩn bị điều kiện cơ sở để người dân có thể định cư, là rất sai lầm. Nhưng thời đó, cán bộ địa phương và cả trung ương, đang say mê trong ý chí: muốn làm là làm. Có hai câu khẩu hiệu ở Quỳnh Lưu thời đó (cuối những năm bảy mươi đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước): Với mo cơm quả cà và tấm lòng cộng sản chúng ta quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Vắt đất ra nước thay trời làm mưa! Thay trời đoi đất sắp đặt lại giang sơn. Khung cảnh này được nhà văn Nguyễn Minh Châu mô tả rất sinh động chân thực trong các truyện ngắn Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát. Lúc đó khí thế hừng hực như xé trời đi lên. Về bối cảnh, nó thừa tiếp, nhân lên khí thế sau chiến thắng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Người ta nghĩ rằng đã chiến thắng được những siêu cường quân sự thì cái gì cũng có thể làm được! Nhưng về qui luật kinh tế – xã hội, về văn hóa lãnh đạo, văn hóa kinh tế, văn hóa kỹ thuật, văn hóa quản lý, tổ chức… đều mơ hồ, thực ra là còn thấp. Đó là cái Khung cảnh Đại công trường thủ công như một nhà lãnh đạo cao cấp nhận định và khích lệ. Nó bất cập ở chỗ này: Đại công trường thủ công là một trình độ thấp của chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ tập trung, tích luỹ tư bản, là khái niệm mà Mác đã nêu ra. Nó phải qua thời kỳ đó để tiến tới chủ nghĩa tư bản tập trung, công nghiệp, tài chính, tư bản lũng đoạn như sau này ta thấy. Trái qui luật, nên đã thất bại. Cái sai không chỉ ở duy ý chí, vận dụng sai qui luật kinh tế, mà sai ở chỗ không thể giải quyết vấn đề kinh tế – xã hội có tính qui mô đòi hỏi cơ sở vật chất và trình độ quản lý, hay văn hóa quản lý rất cao bằng một cơ sở và trình độ thấp. Sai lầm này diễn ra đồng thời ở Định Công (Thanh Hóa) 

2. Định Công: Đây là Hợp tác xã cấp cao – toàn xã – thuộc xã Định Công huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa. Xã Định Công ở cuối huyện Yên Định, giáp Ngã ba Bông, giáp huyện Thiệu Hóa cũng ở phần cuối này. Thiệu Hóa là quê của tác giả Thành Duy, từ làng quê PGS-TS Thành Duy đến Định Công chỉ mấy cây số. Định Công có một số điều kiện thuận lợi về thủ công: các làng Trâu Chướng Cẩm Chướng từ xưa nổi tiếng về nghề làm gạch ngói, lại ở giáp ngã ba sông nên lưu thông về phía sông Mã hay sông Chu, cả lên thượng lưu lẫn xuống hạ lưu đều thuận tiện. Nhưng quan trọng hơn là tỉnh Thanh Hóa và cả trung ương dồn sức xây dựng Định Công thành mô hình điển hình cho phương thức lãnh đạo bằng xây dựng điển hình. Đây chính là vấn đề cần phải bàn trong phạm vi văn hóa lãnh đạo. Ngày đó, Tỉnh uỷ Thanh Hóa mà cố Bí thư là ông Hà Trọng Hoà – một bậc lão thành cách mạng, hoạt động từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, đưa ra khẩu hiệu không kém gì Quỳnh Lưu, thậm chí là điển hình rõ nhất của phương thức lãnh đạo bằng mô hình điển hình. Rất trái qui luật: Định Công hóa Thanh Hóa. Thanh Hóa hóa Định Công. Thanh Hóa mà hóa được thì cả nước sao không hóa được? Đó là niềm say sưa nguy hiểm của chủ nghĩa duy ý chí.

Khi đã tập trung dồn sức xây dựng điển hình thì nó cũng như chuyện nuôi con giống trồng cây giống, như chăm chút cho đứa con độc đinh cầu tự. Dĩ nhiên là nó sẽ tốt lên hơn lên. Chưa kể là những chiêu phù phép bằng báo cáo, tuyên truyền. Nhưng một điển hình dù rất điển hình cũng chỉ là một cá thể. Vấn đề là phải xem cá thể đó mang ít nhiều qui luật chung và cái gì có thể nhân ra được. Nó rất khác với việc xây dựng một mô thức, công thức để chế tạo một sản phẩm công nghiệp hay chăn nuôi trồng trọt. Không nhất định Định Công làm được thì tất cả mọi nơi phải làm được. Kinh nghiệm, tinh thần, ý chí có thể noi gương học tập nhưng qui luật kinh tế – xã hội thì lại không “nhân bản” ý chí lên được. Và Định Công cũng đi theo qui luật với Quỳnh Lưu, ngày nay chỉ còn là giai thoại, là tài liệu tư liệu cho nghiên cứu, ôn cố tri tân là kinh nghiệm cho văn hóa lãnh đạo.

Ngoài ý chí hóa Định Công hóa Thanh Hóa, ông Hà Trọng Hoà cũng còn những ý tưởng ý chí động trời khác: đó là con đường đi lên của Thanh Hóa bằng mấy chữ “L”: Lúa – Lang (Khoai lang) – Lạc – Lợn – Luồng… Cây luồng là thứ lâm sản rất quí, dễ phát triển ở miền núi Thanh Hóa, cần bảo vệ và phát triển thì ông lại cho làm nhà máy chế biến măng luồng xuất khẩu!… Ngoài ra ý chí “hóa hóa..”, lúa-lang-lạc-lợn.. còn diễn ra những mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ Tỉnh uỷ Thanh hóa, và về dư luận xã hội, khi người đồng hương của ông – nhà văn Phùng Gia Lộc tung ra Cái đêm hôm ấy… đêm gì đã góp phần kết thúc câu chuyện của một người đáng quí – đáng kính trọng và rất đáng thương như ông. Tôi chỉ tiếc là công trình “Văn hóa lãnh đạo…” này của PGS- TS Thành Duy cũng là điển hình của mô hình lý thuyết hàn lâm kinh viện.. nên bạn đọc còn hạn chế về văn hóa đọc sẽ rất khó tiếp thu. Nếu ông phân tích kỹ cái điển hình ở ngay chính quê hương ông – Định Công – Thanh Hóa- cũng là quê hương tôi, với những con người cùng sinh ra trên mảnh đất “địa linh nhân kiệt” được hình thành bồi đắp bởi các con sông: Sông Chu – Sông Mã – Sông Truỳ Giang (Cầu Chày)… thì sẽ làm sáng rõ ra cái hạn chế cái khó khăn của một đất nước một xứ sở nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu manh mún đi xây dựng chủ nghĩa xã hội với ý chí thay trời đổi đất, hóa hóa tất cả. Tôi nhấn mạnh điều này vì ông Hà Trọng Hoà người làng Chỉ Tín xã Xuân Tín huyện Thọ Xuân Thanh Hóa, ở trên làng của Phùng Gia Lộc, chỉ cách một cái hồ. Phùng Gia Lộc ở làng Láng (Yên Lãng), xã Phú Yên, cùng huyện. Ông Hà Trọng Hoà là người có học, đã học trung học từ thời Pháp thuộc. Ông rất quí trọng nhà văn Nguyễn Đức Hiền – người đồng sự của tôi ở Nhà xuất bản văn học – và rất có công trong việc đưa Nhà thờ Cổng Quỳnh thành di tích Lịch sử văn hóa quốc gia. Giới văn nghệ và những người có uy tín như cố nhà thơ Xuân Diệu khi về Thanh Hóa, đến thăm nhà thờ Cống Quỳnh (Bột Thượng – Hoằng Lộc – Thanh Hóa) đều được Bí thư tỉnh uỷ Thanh Hóa tiếp đón thịnh tình, qua cầu nối là nhà văn Nguyễn Đức Hiền, vốn là bạn học chí thân với anh ruột của ông Hà Trọng Hoà. Làng Chỉ Tín lại rất gần vùng núi Thanh Hóa. Một thôi đường đến Ngọc Lạc, Thường Xuân rừng núi trập trùng… Làng này lại nằm bên bờ sông Chu cũng đủ nghề buôn bán lâm thổ sản,… Tuổi thơ, lẽ nào ông Hà Trọng Hoà không biết không nhìn thấy thuyền bè xuôi ngược, những bè luồng vĩ đại từ miền núi Thanh Hóa theo dòng sông Chu xuôi về Ngã Ba Giàng, sang sông Mã, theo Ngã Ba Bông xuôi sông Lèn đi Nga Sơn, ra Phát Diệm – Ninh Bình nhập vào sông Đáy sông Luộc… Trước năm 1945, ông xã Hoàn, buôn thuốc Bắc, ở nhờ đất nhà tôi, đã mua một bè gỗ tốt đủ chân tay cho căn nhà năm gian, từ sông Chu ra tận sông Luộc ngược về quê ông thuộc huyện Tiên Lữ – Hưng Yên. Xưa Nguyễn Tuân cũng theo đường ấy mà đi đò dọc từ Thanh Hóa ra tận bến Phà Đen. Lẽ ra ông Hà Trọng Hoà phải biết giá trị của cây luồng mà bảo vệ và nhân lên, sao lại cho làm cái nhà máy chế biến măng luồng đũa luồng xuất khẩu…

Nói đến Định Công, Quỳnh Lưu, đến những con người như Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hóa Hà Trọng Hoà, là người có học tạm gọi là đến nơi đến chốn.. cho đến Bí thư Huyện uỷ Quỳnh Lưu nghe nói tên là Bường xuất thân là một người lái trâu lái bò… là nói đến những thế hệ người việt Nam mà lòng yêu nước yêu chế độ yêu Đảng… và ý chí quyết xông lên hàng đầu thật là ngất trời nhưng không đúng với qui luật với con đường xây dựng con người và xã hội trong thời bình. Đó là những người như thơ Bút Tre: … Thi đua ta quyết tiến lên hàng đầu/Hàng đầu chẳng biết đi đâu/ Đi đâu chẳng biết hàng đầu cứ đi… Nói ra để cảm thương và cám ơn các ông, thuộc vào những thế hệ tiền phong đi đầu hi sinh cống hiến. Thế hệ các ông, sự nghiệp của các ông dẫu có cái sai lầm ấu trĩ đều là những cống hiến hi sinh, là những viên đá lát đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau. văn hóa lãnh đạo không chỉ là chuyện lãnh đạo phải có văn hóa mà văn hóa là trí tuệ, là tri thức, là trí khôn, là kinh nghiệm, là tình cảm biết yêu thương biết căm giận biết tránh xa biết lại gần, biết hài hoà gắn bó… văn hóa như vậy là trí tuệ, trí khôn chỉ huy mọi hành vi hành động của từng con người trong đời sống thường nhật. văn hóa lãnh đạo là một triết lý trong tổng thể vai trò vị trí của văn hóa. Mà văn hóa là con người. Con người là văn hóa. Mỗi bước tiến của văn hóa, là một bước tiến tới tự do (Ăngghen). văn hóa cũng vô cùng như con người và cuộc sống. Hiểu được giá trị của văn hóa, vận dụng vào đời sống, sống có văn hóa, dù ở mức độ nào hoàn cảnh nào con người đều được sự lợi ích. Một thực trạng đau lòng là các tệ nạn xã hội: nạn nhân – thủ phạm ở đây đều là do thiếu văn hóa, thiếu văn hóa tối thiểu nên không có bản lĩnh sống, sa vào ham muốn tầm thường, thậm chí phạm tội mà không biết. Mời nhau một chén rượu. Rồi uống hay không uống. Rồi cãi cọ lời qua tiếng lại. Rồi thành án mạng. Chuyện này nhiều lắm. Quá nhiều. Hoặc ở lĩnh vực khác, qui mô khác. Như đầu tư cho viện Toán học thấp hơn rất nhiều so với đầu tư cho đội tuyển bóng đá và thuê cầu thủ nước ngoài. Một đội bóng chuyên nghiệp, mạnh cũng tốt. Nhưng trước hết phải lo cho dân giàu nước mạnh. Lúc này một nhà toán học, một chuyên gia kỹ thuật cần hơn hay một chân sút bóng cần hơn. Thái Lan trong hơn một trăm năm đến nay mới có 159 trường Đại học. Còn ở việt Nam trong mấy chục năm, đã có hơn bốn trăm trưòng đại học. Chợ đại học mở ra. Lợi vào túi nhà đầu tư. Còn xã hội thì thừa thầy thiếu thợ, phải đào tạo lại, tốn kém không kể xiết. Đường ống dẫn nước sông Đà – Hà Nội mới vận hành thời gian ngắn đã vỡ đến chín đoạn. Phải đưa nhau ra toà. Con người kỹ thuật có tách rời con người văn hóa được không?

Không nên nghĩ văn hóa, trình độ văn hóa, bản lĩnh văn hóa là cái gì cao xa, bằng cấp hàm vị này nọ mới có được. Sống có đạo lý, dù chưa biết chữ, cũng là có văn hóa. Con người cá nhân sống giản dị, thanh đạm, thiết thực, hướng thiện là đã có văn hóa, thậm chí văn hóa ở trình độ cao. văn hóa chân chính – văn hóa nhân văn vì con người, là hướng thiện. văn hóa của Mác – Lênin – Hồ Chí Minh là văn hóa nhân văn, hướng thiện. Tìm hiểu văn hóa lãnh đạo là một hành động hướng thiện, cần thiết và hữu ích, thiết thực cho tất cả. Hà Nội, Tiết Nguyên Tiêu Ất Mùi – 2015.

Chu Giang

Ý Kiến bạn đọc