Người tốt - Việc tốt

Văn hóa Hồ Chí Minh

Vì sao Bác Hồ được UNESCO vinh danh là “Danh nhân văn hóa” (Great man of culture)?

- Vì Bác là người có văn hóa nhất và coi trọng văn hóa nhất. Từ cách ăn, cách ở, cách xử sự, cách viết, cách nói… Bác đều đưa văn hóa vào đó. Cho nên, Bác làm việc có hiệu quả cao. Bác viết, Bác nói, người ta dễ hiểu. Bác cư xử đẹp lòng người.

“Vì lợi ích trăm năm, phải trồng người!”.

Câu nói đơn sơ đó, đượm chất văn hóa sâu xa. “Trồng người” là trồng làm sao? Trước tiên là phải “trồng người còn trẻ nhất”. Tức là “trồng trẻ nhỏ”. Bác Hồ là người yêu nhi đồng nhất và chăm sóc nhi đồng chu đáo nhất.

Để chăm sóc và dạy dỗ trẻ, Bác đi từ việc nhỏ đến việc lớn cho vừa sức các em. Bác không nóng vội, không đòi hỏi quá cao, quá sức các cháu. Bác viết:

“Trẻ thơ như búp trên cành,
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”

Chỉ vậy thôi. Trước hết hãy làm được như vậy đã.

Tiến lên một bước, Bác khuyên nhủ:

“Tuổi nhỏ làm việc nhỏ
Tùy theo sức của mình
Các cháu hãy xứng đáng
Cháu Bác Hồ Chí Minh”

Với người lớn thì Bác đòi hỏi phải biết chữ và thực hiện “Đời sống mới”.

Anh-minh-hoa---Van-hoa-Ho-Chi-Minh

Đời sống mới là gì?

Thực chất, đó là sống, lao động và học tập một cách có văn hóa.

Lâu nay, chúng ta có phần buông lơi khâu văn hóa trong xã hội nên văn hóa xuống cấp trầm trọng. Văn hóa xuống cấp thì làm việc gì cũng kém hiệu quả. Như thế là ta chưa biết cách học tập Bác Hồ. Muốn thực sự học tập Bác thì phải đi vào từng việc cụ thể, có ích cho xã hội, chứ không phải chỉ hô khẩu hiệu suông.

Để thực hiện “Đời sống mới”, Bác chỉ cần nêu 8 chữ: “Cần, kiệm, liêm, chính; chí công vô tư”. Vậy mà, cả đời ta làm còn chưa đủ. Ngày nay lắm kẻ còn đi ngược lại lời khuyên của Bác Hồ. Như thế, đất nước làm sao phát triển được? Dân làm sao giàu có, hạnh phúc được? Tham nhũng, dù là một đồng, một cắc cũng xấu rồi. Lười biếng, bê tha, dù là một phút, một giờ cũng là có lỗi. Vậy mà lắm kẻ tìm mọi cách để hạch sách dân, vòi tiền doanh nghiệp, đục khoét của công, rong chơi, nhậu nhẹt suốt ngày, thì sao gọi được là “Cần, kiệm, liêm, chính; chí công vô tư”?

Bác dạy chúng ta rất căn cơ và cặn kẽ, chỉ có điều, người nghe chịu làm hay không mà thôi. Lời lẽ của Bác thật dễ hiểu. Cách làm của Bác thật gần gũi, chẳng khó khăn gì.

Với việc tăng gia sản xuất, Bác chỉ rõ “cần, kiệm, liêm, chính” có lợi như thế nào, rất cụ thể và thiết thực. Bác bảo:

“Muốn tăng gia sản xuất, nếu không Cần thì phí thời giờ nhiều mà sản xuất được ít. Không Kiệm thì làm được bao nhiêu, dùng hết bấy nhiêu, rút cuộc cũng như sản xuất ít”…

Đời sống mới, với từng con người, Bác dạy:

“Do nhiều người nhóm lại mà thành làng. Do nhiều làng nhóm lại mà thành nước. Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành làng xấu, nước hèn. Nếu mỗi người đều tốt thì thành làng tốt, nước mạnh. Người là gốc của làng nước. Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường”.

Còn nhớ một chuyện đáng xấu hổ xảy ra cách đây không lâu, có một chiếc xe tải chở bia bị lật xuống đường. Bao nhiêu người đổ xô ra “hôi của”. Có ông còn nảy ra “sáng kiến” là dùng xe ba gác ra hốt bia để “lượm” được nhiều hơn. May mà còn có người tốt bụng, gom bia lại trả cho người bị tai nạn. Việc làm vô cảm như vậy là trái với đạo lý của dân ta: “thương người như thể thương thân”, “chị ngã, em nâng”, trái với chủ trương “Đời sống mới” của Bác.

Cần nhớ rằng, tài liệu “Đời sống mới” được Bác cho in ra từ năm 1947. Và đến bây giờ, và mãi đến sau này, nó vẫn còn có ích lắm. Thế mới biết, Bác là người có văn hóa và coi trọng văn hóa đến thế nào!

Bác luôn luôn dạy bảo chúng ta cư xử có văn hóa. Trong một trận đánh, quân ta bắt được một số tù binh Pháp. Anh em sợ nó bỏ chạy nên bắt đi chân không. Biết được, Bác bảo:

- Người châu Âu phải đi chân không, họ khổ lắm. Ít ra, các chú phải cho họ mang bít tất.

Một lần khác, thấy một nữ tù binh người Pháp đang co ro vì rét, Bác cởi ngay chiếc áo ấm mình đang mặc, tặng cho cô nữ tù binh và còn dặn: “Cho cô ta được thả trước tiên”.

Nhân dân ta từ xưa đã có nền nếp dạy dỗ trẻ em sống có văn hóa rất đáng quý. Sự uốn nắn các em lúc còn bé tạo vốn liếng cần thiết cho các em bước vào đời. Khẩu hiệu “Đi phải thưa, về phải trình” được trẻ em tuân theo răm rắp. Đứa trẻ nào ngổ ngáo, người ta đưa về tận nhà để cho cha mẹ nhắc nhở. Mỗi người có nếp sống văn hóa, giữ vững và phát triển thuần phong mỹ tục, cả nước sẽ có văn hóa, cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.

Sau khi miền Nam được giải phóng, nhà thơ Thanh Tịnh có dịp vào Sài Gòn. Tôi hỏi anh: “Anh thấy cách sống của người Sài Gòn như thế nào?”. Anh bảo: “Người Sài Gòn là như thế này: Một người đi trên đường bị gió thổi bay chiếc nón. Chiếc xe từ sau chạy trờ tới, né qua không cán lên chiếc nón. Một chiếc xe khác dừng lại lượm chiếc nón và chạy lên trả cho người rớt nón. Đó, người Sài Gòn là như thế đó!”.

Tôi lại được nghe người ta khen ngợi nhân dân thành phố Leningrad rất lịch sự. Chẳng hạn như, gặp một người khách lạ hỏi đường, người gặp khách đầu tiên chỉ vẽ rất tường tận. Nếu gặp ai đi về hướng khách cần đến, họ “bàn giao” khách cho bạn, nhờ họ dẫn khách đi tiếp.

Thì ra, ở đâu người ta cũng cần đến văn hóa, coi trọng văn hóa. Văn hóa giống như hương thơm của một bông hoa, độ dẻo của hạt cơm, cái duyên của người con gái vậy. Có văn hóa, cuộc sống sẽ thanh cao hơn, đáng yêu hơn. Từ nhu cầu văn hóa mới đẻ ra nghệ thuật, văn chương. Không có văn hóa thì đời sống sẽ xuống cấp tệ hại, cả về tinh thần lẫn vật chất.

Nhân dân ta từ ngày xưa vốn là một tộc người có văn hóa rất cao. Chính văn hóa Việt Nam đã góp công lớn, giữ cho Tổ quốc trường tồn, không bị đồng hóa. Chính cái bản sắc văn hóa Việt Nam đã làm nên sự khác biệt đáng quý của Việt Nam. Thử đơn cử một vài thí dụ thiết thực, như truyện Kiều của Nguyễn Du, hay thơ Hồ Xuân Hương chẳng hạn, ngoài nội dung phong phú, các tác phẩm ấy còn có cái đẹp, cái duyên đến kỳ lạ. Hay như món ăn Việt Nam, giờ đây đã được cả thế giới hâm mộ như thế nào?

Trong một lần tiếp đoàn nhà văn Liên Xô, chúng tôi đãi bạn những món ăn Việt Nam chánh hiệu. Món nào, các bạn cũng khen ngon. Đến cuối bữa tiệc, chúng tôi mới đem ra món canh chua Nam bộ đúng bài bản. Một vị khách đã no quá rồi, nhưng không đụng đến món lạ này cũng tiếc. Anh bèn rỉ tai phiên dịch viên Thái Hà: “Mày cho tao một muỗng nước canh chua xem sao?”. Thái Hà múc cho anh, không phải một muỗng mà là nhiều muỗng. Anh nếm từ từ và thấy bụng đói trở lại, có thể tiếp tục “chiến đấu” nữa. Anh bèn thổ lộ với Thái Hà: “Bây giờ, tao mới hiểu thế nào là văn hóa ẩm thực Việt Nam”.

Bác Hồ là một người am hiểu hơn ai hết giá trị của văn hóa, sức mạnh của văn hóa. Bác từng nói: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Cho nên dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn đều đặn tập thể dục và khuyên mọi người năng tập thể dục. Ăn uống thì Người chủ trương ăn uống hợp lý, cân đối. Người có câu thơ giản dị rất hay: “Món ăn thanh đạm khỏe người”. Ở, thì Người thích ở đơn sơ thôi, nhưng cách xa mặt đất và xung quanh có hoa, có cỏ… Người rất yêu hoa, cũng như rất yêu trăng. Ngay trước khi qua đời, Người còn nhắc các cô phục vụ ra vườn cắt hoa vào cắm trong phòng. Người bảo: “Hoa làm cho người ta càng thêm yêu đời”. Còn trăng thì, Người yêu say đắm. Người có nhiều câu thơ rất đẹp về trăng. Chẳng hạn như:

“Trong tù không rượu,
cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi
ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa,
ngắm nhà thơ”
(Nhật ký trong tù)

“Tiếng suối trong
như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ,
người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

Người hết sức coi trọng văn hóa và bản thân rất công phu trau dồi bản lĩnh văn hóa trong lời ăn, tiếng nói, giọng văn. Nhờ vậy, Người có khả năng ứng phó cực nhạy và duyên dáng, bất ngờ, thú vị. Còn nhớ, bữa tiệc ở Cam Ranh năm 1946 do Đô đốc Pháp D’Argenlieu chiêu đãi. D’Argenlieu là con cáo già, muốn chơi khăm Bác. Ông ta xếp Bác ngồi giữa, ông ta và viên đại tướng tổng chỉ huy bộ binh Pháp ở Việt Nam ngồi kè hai bên và nói xách mé rằng: “Thưa Chủ tịch! Ngài được đóng khung rất khéo giữa lục quân và hải quân Pháp rồi!”. Bác Hồ thản nhiên nói ngay: “Nhưng mà, Ngài thấy đấy, thưa Đô đốc! Chính bức tranh làm nên giá trị cho cái khung đó thôi!”. D’Argenlieu ngượng đỏ mặt.

Rồi một lần sang thăm Ấn Độ, khi nước ta còn bị chia cắt. Trong một cuộc họp báo rất lớn, các nhà báo Ấn Độ đã dành cho Bác một câu hỏi rất hóc búa:

“Thưa Chủ tịch, trước khi Chủ tịch qua đây, ông Ngô Đình Diệm đã nói xấu miền Bắc Việt Nam hết lời. Chủ tịch có ý kiến gì với những lời nói xấu ấy?”.

Bác đáp:

“Tôi sang đây là để thăm nhân dân Ấn Độ chứ không phải để nói xấu ông Diệm.

Các bạn có gì thắc mắc, xin cứ hỏi ông Diệm!”.

Cả hội trường đứng phắt dậy, vỗ tay như sấm và trầm trồ: “Chưa thấy chính khách nào trả lời báo chí hay như thế”.

Chuyện của Bác với văn hóa thì còn nhiều lắm. Chung quy, cần ghi nhớ một điều là: tuy văn hóa là vô hình, nhưng nó vô cùng quan trọng; nó khiến cho công việc có chất lượng hơn, cuộc sống tươi đẹp hơn, con người đáng yêu hơn, đất nước đáng ca ngợi hơn. Xem nhẹ vai trò của văn hóa trong giáo dục quần chúng sẽ là một sai lầm, một thiếu sót lớn mà hậu quả tồi tệ của nó chắc chắn sẽ tới. Chừng đó mới hay thì đã muộn rồi.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 403

Ý Kiến bạn đọc