Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Vấn đề “Góc nhìn tính cách Nam bộ” – Đôi điều cần nói lại

Trong bài viết “Lịch sử Nam bộ kháng chiến từ góc nhìn tính cách Nam bộ” của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thống, đăng trong tuyển tập “Những vấn đề lịch sử” (Nhiều tác giả. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2017), Ts Nguyễn Đình Thống có nhận xét về bộ sách“Lịch sử Nam bộ kháng chiến” (*). Tác giả nêu một số vấn đề mà ông cho rằng có những “độ lệch” khi xem xét lịch sử “từ góc nhìn tính cách Nam bộ”.

Trong đoạn mở đầu tác giả cho rằng bộ sách“Lịch sử Nam bộ kháng chiến”: “Trên những tầm sự kiện và kiến giải có thể nhận thấy những (hạn chế về) “độ sâu” và “độ lệch” khi thể hiện tính cách Nam bộ” (Sđd, trang 373). Tiến sĩ Nguyễn Đình Thống phân tích nguyên nhân của những hạn chế này là do: “… Người trong cuộc, người làm nên lịch sử viết về lịch sử của mình thì khó tránh khỏi”. Tác giả cho rằng: “Ý tưởng của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người thiết kế ý tưởng của “Nam bộ trong lòng Tổ quốc Việt Nam”, ý tưởng đó đã thể hiện khá thành công trong phần Mở đầu của công trình, song trong từng thời đoạn những người biên soạn có “độ lệch” khi tiếp cận từ tầm nhìn góc hẹp”. Tác giả viết: “Trên những tầm sự kiện và kiến giải khác cũng dễ nhận thấy “độ sâu” và “độ lệch” khi thể hiện tính cách Nam bộ”. Ý tưởng “Nam bộ đi trước về sau” được nhấn đậm nét trong luận điểm “Nam bộ đứng lên chiến đấu bằng sức của bản thân mình lúc chưa có sự chi viện và cùng chiến đấu của cả nước”.

Và tác giả kết luận: “Mỗi công trình khoa học viết ra đều chứa đựng giá trị tự thân và giá trị phổ biến. Giá trị tự thân chỉ giới hạn trong một phạm vi nhưng lại được phổ biến quá giới hạn phạm vi đó trở thành phản tác dụng” (Sđd, tr. 381).

Tựu trung Ts. Nguyễn Đình Thống cho rằng bộ “Lịch sử Nam bộ kháng chiến” (LSNBKC) vì quá nhấn mạnh tính đặc thù Nam bộ nên đã hầu như xem nhẹ vai trò quyết định chủ yếu của cả nước trong kháng chiến chống Pháp, của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

Sự thật thế nào?

Chúng tôi xin có đôi điều nói lại.

Về tính chất của LSNBKC, ngay trong Lời nói đầu của bộ LSNBKC, cố Chủ tịch Võ Văn Kiệt, Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo biên soạn công trình LSNBKC, đã xác định: “Lịch sử Nam bộ kháng chiến” là một bộ phận của lịch sử kháng chiến Việt Nam, một bộ phận đặc thù mà nếu làm rõ được nét đặc thù trên các mặt của nó thì sẽ bổ sung có ý nghĩa vào lịch sử dân tộc nói chung. Đương nhiên chỉ riêng mình nó Nam bộ không thể hoàn thành sứ mạng trọng đại được cả nước giao phó là Thành Đồng Tổ Quốc, “cái riêng trong cái chung” của Nam bộ chính là điểm sáng tạo nổi bật trong sự nghiệp cách mạng của cộng đồng người Việt Nam ở Nam bộ, một địa bàn trong toàn thể lãnh thổ Việt Nam, theo quy trình “từ cái chung đẻ ra cái riêng, rồi từ cái riêng cống hiến vào cái chung“ trên tất cả các phương diện hình thành và phát triển của dân tộc chúng ta” (LSNBKC, sđd, tr. 25-26).

So-492--Van-de-Goc-nhin-tinh-cach-Nam-bo---Doi-dieu-can-noi-lai---Anh-1
Bìa sách Lịch sử Nam bộ kháng chiến và Những vấn đề lịch sử

Trong chương viết về tính cách con người Việt Nam ở Nam bộ, đồng chí Tổng chủ biên Trần Bạch Đằng đã viết: “Tính cách con người Việt Nam ở Nam bộ là một cách nói có nội hàm riêng của người Việt Nam… Người Việt Nam phát triển về phương Nam trên một lãnh địa liền với cái nôi sản sinh ra cội nguồn của mình… Sự toàn vẹn về văn hóa dân tộc được cơ bản bảo tồn… tính thuần nhất không bị vi phạm“ (LSNBKC, sđd, tập 1, Chương 5, tr. 209).

Kết luận phần lịch sử kháng chiến chống Pháp, bộ LSNBKC đã khẳng định: “Nam bộ kháng chiến với nhiều đặc thù của địa phương vẫn là kết tinh của trí tuệ, tâm tưởng dân tộc Việt Nam, là kết quả của quá trình kế thừa và phát triển của văn hóa Việt Nam trên vùng đất Nam bộ” (LSNBKC, sđd, tập 1, tr. 588).

Trong phần Tổng luận, bộ sách đã nhấn mạnh: “Trong cả hai cuộc kháng chiến Nam bộ đứng đầu sóng ngọn gió, đã cùng cả nước “đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải bảo vệ độc lập tự do thống nhất đất nước”; và trong trận quyết chiến cuối cùng đã mưu trí và kiên cường làm phá sản mưu đồ của địch hy vọng bám mảnh đất này đến cùng để chống lại cách mạng.

Cách mạng Nam bộ đi trước về sau, được Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương là Thành Đồng Tổ Quốc. Nam bộ làm được điều đó vì hai lẽ:

• Một là, Nam bộ có cả nước, cả dân tộc tiếp sức, bởi Nam bộ là của cả nước, “Vì cả nước cùng cả nước”.

• Hai là, Nam bộ có những con người đi lên từ văn minh sông Hồng, khổ công khai phá vùng đất mới, sớm đi vào nền kinh tế hàng hóa, trưởng thành qua tiếp cận nền văn minh phương Tây (với thân phận người dân mất nước), từ vị thế địa chính trị của mình tích tụ thêm chất liệu mới qua hai cuộc đọ sức ác liệt với kẻ thù có trình độ công nghiệp khoa học kỹ thuật rất cao, tức qua thực tiễn mà ngày càng hoàn thiện tính cách của con người Nam bộ trên cái nền văn hóa Việt Nam. Đó là những con người của một vùng đất có sức hút, sức chuyển hóa và sức lan tỏa độc đáo, một vùng “động lực phát triển” luôn năng động sáng tạo, một mảnh đất đặc thù của Tổ quốc Việt Nam.

Tổng luận nhấn mạnh:

• “Mỗi địa phương trong cả nước, khi góp phần mình vào sự nghiệp chung đã luôn đặt mình trong mối quan hệ máu thịt với cả nước, bởi chiến công của mỗi địa phương, mỗi tập thể, mỗi cá nhân đều là kết quả của sự phối hợp làm nên sức mạnh chung, là kết quả của sự cộng hưởng của nhiều nhân tố cấu thành.

• Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, khi Nam bộ bắt đầu kháng chiến thì cả nước dấy lên phong trào ủng hộ Nam bộ: những đoàn quân Nam tiến, những bộ đội hải ngoại tiếp sức cho quân dân Nam bộ. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam bộ gặp khó khăn, Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Tạm ước 14/9/1946 đã đem đến cho Nam bộ sự trợ sức vô cùng quý giá, vừa là liều thuốc hồi sinh cho cuộc kháng chiến ở Nam bộ, vừa là điều kiện cho Nam bộ tiến công địch bằng đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, mà sau này trong kháng chiến chống Mỹ phương thức tiến công đó đã trở thành quy luật của cách mạng miền Nam. Trận Điện Biên Phủ kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, dù diễn ra ở Tây Bắc nhưng là niềm tự hào của mỗi con người Việt Nam dù sống ở bất cứ nơi đâu, kể cả định cư ở nước ngoài, vì nó là biểu trưng chói lọi về khả năng chiến thắng của một dân tộc nhỏ bé bị áp bức bóc lột đã kiên quyết, dũng cảm chống lại chủ nghĩa đế quốc hùng mạnh, tàn bạo.

• Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhân dân Nam bộ thừa hưởng di sản tinh thần quý giá của 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp: sự thống nhất về chính trị và tinh thần của toàn dân Việt Nam, “Nam Bắc một nhà”, tinh thần và tình cảm đó thể hiện xuyên suốt 21 năm trong khẩu hiệu của nhân dân miền Bắc: “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Cũng như tấm lòng của nhân dân miền Nam đối với cả nước: “Miền Bắc gọi Miền Nam trả lời”… Dù trải qua bao thăng trầm, dù ở mỗi bước ngoặt hiểm nghèo của chiến tranh, Tình Nghĩa Bắc Nam vẫn sắt son một dạ. Những địa danh gây kinh hoàng cho kẻ thù nhưng lại khơi niềm phấn khích trong quân dân cả nước: Khe Sanh, Đường 9, A Sầu, A Lưới, Bác Ái, Nam Ngãi, Bình Phú, Đắk Tô, Ia-Drang, Lộc Ninh, Tam giác sắt Củ Chi, Bù Đăng, Phước Long, Chiến khu D, Dương Minh Châu, Đồng Tháp, U Minh…

• Cho nên nói đến Nam bộ, nói đến miền Nam trong trang sử kháng chiến hào hùng 30 năm, điều chính yếu là nói ân tình của cả nước đối với từng mảnh đất vốn là một bộ phận máu thịt của cơ thể toàn dân tộc, tức mạch nguồn vô tận cho từng địa bàn, từng con người, vừa giúp mình vượt qua được những thách thức khắc nghiệt nhất trong quá trình trưởng thành, vừa là động lực thúc đẩy mình góp sức cùng cả nước làm nên vòng hoa Chiến Thắng (LSNBKC, tập 2, tr. 1078-1080).

Riêng về nội dung đánh giá giai đoạn 11 năm, từ 1954 đến 1965, bộ LSNBKC đã nêu nhận định: “Trong thời gian 11 năm nói trên, nhất là thời gian 5 năm từ 1961 đến 1965, Mỹ đã thua trong cuộc chiến tranh đặc biệt, một hình thái chiến tranh trong chiến lược toàn cầu của Mỹ cũng là một cuộc chiến tranh mà Mỹ chưa từng gặp ở đâu. Thời gian 11 năm, thực tế quân dân miền Nam đương đầu với chính sách thủ đoạn xâm lược phản động của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, chủ yếu chỉ bằng lực lượng của quân dân Nam bộ với một số cán bộ khung của miền Bắc chi viện, lực lượng cách mạng của Nam bộ đã đứng lên từ đôi chân của chính mình, bằng sức của chính mình là chủ yếu dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Xứ ủy Nam bộ, Trung ương Cục Miền Nam”.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thống cho rằng “qua nội dung đánh giá đó, những người biên soạn LSNBKC đã xem nhẹ sự chi viện của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng miền Nam”. Ông dẫn chứng: Ngay từ năm 1959 với các nguồn cán bộ, vũ khí và phương tiện chiến tranh được tải qua đường Hồ Chí Minh vượt Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển…; và trong suốt 21 năm kháng chiến của Việt Nam, miền Bắc đã thể hiện là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc chống Mỹ, cứu nước.

Thực tế như chúng ta biết: 11 năm đó đã có một số cột mốc đặc biệt nổi bật:

1/ Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đòi thi hành Hiệp định Genève kéo dài 2 năm 1954-1956.

2/ Cuộc khủng hoảng đường lối kéo dài từ 1956 đến 1959 nhân dân miền Nam kiên trì chịu đựng để tìm ra con đường cứu mình, cứu nước.

Cách mạng miền Nam chịu tổn thất lớn, hơn 90% cán bộ ở lại bị địch diệt hoặc bắt giam.

3/ Cuộc Đồng khởi từ các tỉnh Nam bộ, chủ yếu là các tỉnh Khu 8 (tỉnh Bến Tre đi đầu), chiến thắng Tua Hai (Tây Ninh) và sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam năm 1960… sau khi có Nghị quyết TW 15 – năm 1959.

4/ Để cứu nguy chế độ Sài Gòn, từ 1960 Mỹ đã huy động những chuyên gia từ Mỹ, Anh, Malaysia, Philippines… bày mưu tính kế, sử dụng toàn bộ sức mạnh của bộ máy quân sự khổng lồ của chế độ Sài Gòn (10 sư đoàn quân chính quy, cùng lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát, mật vụ các loại…), với phương tiện chiến tranh tối tân là trực thăng, xe bọc thép lội nước, tàu nhỏ trên sông… nhằm tạo thế cơ động tuyệt đối hơn hẳn quân du kích miền Nam; đồng thời thực hiện “quốc sách Ấp chiến lược” rất thâm độc, gom dân để bóp chết cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam, được Mỹ mệnh danh là “Chiến lược chiến tranh đặc biệt”.

Nhưng sau trận Ấp Bắc (Tiền Giang) tháng 1/1963, quân dân Nam bộ đã chống lại hiệu quả chiến thuật “Bủa lưới phóng lao” của Mỹ, nêu cao khẩu hiệu “Cắm cọc phá lưới, trụ lại bẻ lao”, làm thất bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, bình định miền Nam trong 18 tháng của Mỹ.

5/ Trước sức ép của phong trào đấu tranh cả ở nông thôn và đô thị, của 3 mũi giáp công trên 3 vùng chiến lược, Mỹ đã thấy nguy cơ bị thua trong chiến lược chiến tranh đặc biệt. Mỹ đảo chính Ngô Đình Diệm với mộng tưởng tìm nhóm tay sai mới khá hơn, nhưng tình thế vẫn không thay đổi: ngược lại sự kiện Ngô Đình Diệm bị lật đổ tạo thời cơ mới thúc đẩy phong trào cách mạng từ đô thị đến nông thôn đạt được những bước phát triển chưa từng thấy…

Như vậy rõ ràng trong thời gian 11 năm đó Nam bộ đứng lên từ đôi chân của chính mình, bằng sức của chính mình là chủ yếu, đương nhiên có sự tiếp sức của cán bộ khung từ miền Bắc – phần lớn là những cán bộ miền Nam đã tập kết ra Bắc năm 1954, nhất là từ đường lối thống nhất “Đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang” do Trung ương Đảng chỉ đạo.

Và chính thực tế đó đã làm nhân dân thế giới rất đồng tình với tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng mà Việt Nam tiến hành chống chủ nghĩa thực dân mới Mỹ.

Chúng tôi cho rằng đánh giá như vậy là thỏa đáng, đúng với thực tế lịch sử, nhất là đúng với đường lối do TW chỉ đạo, tranh thủ được sự đồng tình của nhân dân tiến bộ thế giới, nhưng không hề vì thế mà cho rằng bộ LSNBKC đã xem nhẹ nhân tố có ý nghĩa quyết định của miền Bắc, hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam.

Như vậy trong toàn bộ gần 5 nghìn trang sách, bộ LSNBKC đã thể hiện nhất quán tư tưởng chỉ đạo được xác định trang trọng trong Lời nói đầu của cố Chủ tịch Võ Văn Kiệt, như đã nói ở trên: “Lịch sử NBKC là một bộ phận của LSVN”. Cho nên vội vã phê phán về “độ lệch” khi nhìn LSNBKC từ góc nhìn tính cách Nam bộ – như cách nói của TS. Nguyễn Đình Thống – rõ ràng thiếu căn cứ.

Nguyễn Trọng Xuất
(Nguyên Tổng thư ký BBS CT LSNBKC)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 492

_________________________

(*) Lịch sử Nam bộ kháng chiến, Võ Văn Kiệt, Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo biên soạn; Trần Bạch Đằng chủ biên – Nxb. CTQG – ST, Hà Nội, 2010.

Ý Kiến bạn đọc