Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Văn Cao và Phạm Duy cần làm rõ những chuyện đã bị “tam sao thất bản”

Văn Cao và Phạm Duy là hai nhạc sỹ nổi tiếng của nền âm nhạc Việt Nam. Họ là hai người bạn đồng nghiệp từng thân thiết với nhau trong nhiều năm và có sự giao lưu, khích lệ nhau trong những sáng tác ở giai đoạn 1944-1950. Sau đó họ xa nhau, mỗi người một phương do những thăng trầm của lịch sử và sự lựa chọn con đường đi của mỗi người. Tuy nhiên, về mặt nghề nghiệp hai người vẫn tôn trọng nhau.

Là con trưởng trong gia đình, tôi đã được nghe cha tôi kể nhiều chuyện về mối quan hệ giữa ông và nhạc sỹ Phạm Duy. Là một nhà văn, tôi cũng đã bỏ nhiều thời gian đi tìm hiểu mối quan hệ của hai người qua những người bạn của cha tôi, có quen biết Phạm Duy. Sau ngày cha tôi mất, tôi đã đọc và nghe nhiều thông tin trên báo, trên các trang mạng trong và ngoài nước viết về quan hệ và những tác phẩm âm nhạc có liên quan đến hai người… Tôi thấy nhiều điều không chính xác, thiếu trung thực, kể cả hồi ký Phạm Duy. Vì thế tôi thấy cần thiết phải lên tiếng để đính chính lại những thông tin không chính xác để bạn đọc hiểu rõ hơn về những mối quan hệ giữa Văn Cao và Phạm Duy trong một số tác phẩm do Văn Cao sáng tác.

1. Phạm Duy tên thật là Phạm Duy Cẩn, tham gia gánh Cải lương Đức Huy Charlot Miều tại Hà Nội, với chức năng: bán vé, xếp chỗ ngồi, viết quảng cáo và nhiều những việc tạp vụ khác… Mùa xuân năm 1944, gánh hát Đức Huy xuống Hải Phòng biểu diễn ra mắt lần đầu tại rạp Trần Mỹ Ngọc. Biết Phạm Duy có một giọng hát hay và hay hát những bài hát tân nhạc thời bấy giờ, ông chủ gánh hát đề nghị Phạm Duy ra hát phục vụ khán giả để lấp chỗ trống giữa hai màn diễn trong khi chờ chuyển cảnh (Hồi ký Phạm Duy – tập 1, chương 18). Là một thanh niên điển trai, cao ráo, ăn mặc chải chuốt với chiếc kính cận trên mắt, Phạm Duy dựng ngược cây đàn ghi-ta vừa đệm vừa hát. Phong cách biểu diễn lãng tử, với giọng hát ấm áp, truyền cảm qua những bài hát đang được ưa chuộng thời bấy giờ như: Bản đàn xuân của Lê Thương, Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong, Phạm Duy đã chinh phục được khán giả Hải Phòng. Tại Hải Phòng, Phạm Duy đã gặp nhạc sỹ Hoàng Quý và ca sỹ Kim Tiêu (một giọng ca vàng của đất cảng). Kim Tiêu đã giới thiệu cho Phạm Duy một số nhạc phẩm của Văn Cao mà Kim Tiêu thường xuyên biểu diễn tại Hải Phòng như: Buồn tàn thu, Bến xuân, Thu cô liêu, Cung đàn xưa, Thiên thai, Trương Chi… Phạm Duy cảm phục Văn Cao và đề nghị Kim Tiêu dạy cho mình bài hát Buồn tàn thu mà Phạm Duy rất thích. Ông cũng mong được gặp Văn Cao.

Van-Cao---Pham-Duy

Những ngày sau đó bài hát Buồn tàn thu đã được Phạm Duy biểu diễn và được dân chúng Hải Phòng hoan hô nhiệt liệt. Qua Doãn Tòng và Đỗ Hữu Ích là những người bạn của Văn Cao giới thiệu, Phạm Duy đã tìm đến gặp Văn Cao tại căn nhà nhỏ bên bến Ngự. Hai người nhanh chóng trở thành một đôi bạn có nhiều duyên nợ với nhau trong suốt cuộc đời đầy biến động và thăng trầm… Thấy Phạm Duy có khả năng về âm nhạc, qua tính cách, Văn Cao động viên Phạm Duy sáng tác và khuyên ông nên nghiên cứu và phát triển chất liệu của dân ca cho những sáng tác của mình. Sau này, Phạm Duy đã thành công và nổi tiếng là một nhạc sỹ hàng đầu với những nhạc phẩm trữ tình mang đậm chất dân ca. Không ít những nhạc sỹ thành danh sau này đã chịu ảnh hưởng của ông.

Trong những năm sống ở miền Nam, Phạm Duy có lần được mời sang Mỹ giảng dạy về âm nhạc phương Đông. Trong buổi ra mắt đầu tiên ông đã nói: “… tôi có được vinh dự này, xin cảm ơn một người bạn và cũng là một người thầy của tôi là nhạc sỹ Văn Cao hiện đang sống ở miền Bắc Việt Nam…”.

Sau hơn một tháng diễn tại Hải Phòng, Phạm Duy theo gánh hát Đức Huy tiếp tục cuộc hành trình biểu diễn từ Bắc vào Nam. Phạm Duy chia tay Văn Cao, mang theo trong hành trang một số những nhạc phẩm của Văn Cao để trình diễn.

Như vậy, đầu năm 1944, Phạm Duy mới gặp Văn Cao, khi ấy, những nhạc phẩm: Buồn tàn thu (1939), Thiên thai (1941), Trương Chi (1942), Suối mơ (1942), Thu cô liêu (1942), Bến xuân (1943), Cung đàn xưa (1943) đã ra đời và công diễn tại Hải Phòng.

Cho nên, không thể có chuyện “một vài bài hát Văn Cao sáng tác cùng với Phạm Duy”, như một số tác giả đã đề cập.

2. Đỗ Hữu Ích là một trong những người bạn của Văn Cao ở Hải Phòng như: Doãn Tòng, Trần Liễn, Phạm Đức, Chương Đức Chính, Nguyễn Đình Thi… Gia đình có một xưởng in và một vài cửa hàng buôn bán sách báo, các loại vật tư thiết bị, giấy, mực… phục vụ cho ngành in. Nhiều tác phẩm của Văn Cao được Đỗ Hữu Ích xuất bản, nhưng Văn Cao không bao giờ nhận được tiền nhuận bút. Thậm chí có những tác phẩm của Văn Cao khi phát hành, Đỗ Hữu Ích đã tự ý in thêm tên mình vào để nhận là đồng tác giả. Bị bạn bè và nhiều người lên án Đỗ Hữu Ích thanh minh “Tớ in tên mình vào để có cớ khoe và đi tán gái cho oai thôi mà”.

Phạm Duy gặp Đỗ Hữu Ích lập tức hai người thân nhau ngay vì hai con người này đều có những thú ăn chơi giống nhau và hơn nữa Đỗ Hữu Ích lại có một cô em tên là Đỗ Thị Yến rất xinh đẹp, khiến Phạm Duy mê mẩn. Yến là một thiếu nữ đẹp, đoan trang nổi tiếng ở Hải Phòng, khiến nhiều chàng trai đất cảng ngậm ngùi chịu thua vì không lọt được vào đôi mắt xanh của nàng. Là một người nổi tiếng “sát gái”, từ trước đến nay Phạm Duy tự hào vì chưa bao giờ thất bại trước bất kỳ một thiếu nữ nào một khi mình đã thích. Phạm Duy tuyên bố: “Nếu tớ mà không tán đổ em Yến thì tớ sẽ không còn tên là Phạm Duy Cẩn nữa”. Hơn một tháng lưu diễn ở Hải Phòng, Phạm Duy thường xuyên đến nhà Đỗ Hữu Ích để tán tỉnh cô Yến nhưng mọi cố gắng đều chỉ là “Dã tràng xe cát biển đông” mà thôi. Trong hồi ký của mình (tập 1, chương 18), Phạm Duy đã thú nhận: “… Trong một buổi tối cả nhà đi lánh bom máy bay Mỹ ở ngoại ô, tôi đã leo vào nhà Đỗ Hữu Ích để ăn trộm tấm ảnh và cái áo lót của cô em gái. Đem tấm ảnh vào tới Sài Gòn, Cà Mau rồi đem ra Hà Nội. Nếu không lâm vào cảnh chạy giặc tối thiểu cũng là bốn lần thì chắc chắn tấm ảnh này chưa bị thất lạc…”. Vào Sài Gòn, Phạm Duy giữ lời hứa đã bỏ tên Phạm Duy Cẩn và tên Phạm Duy đã chính thức thành danh cho đến ngày nay.

Vì thân với Đỗ Hữu Ích, biết Đỗ Hữu Ích xuất bản các nhạc phẩm của Văn Cao và nghe Đỗ Hữu Ích nói “mập mờ” khoe rằng, một vài bài hát của Văn Cao có phần lời là của mình làm, khiến Phạm Duy bán tín bán nghi, nhưng vì nể bạn “có cô em gái xinh đẹp một thời say đắm” nên sau này trong hồi ký của mình, Phạm Duy có viết: “… đa số những bản đầu tay của Văn Cao đều đã được Đỗ Hữu Ích giúp đỡ trong phần lời ca…”, sự nhầm lẫn này của Phạm Duy đã khiến không ít độc giả tin vào điều đó…

Văn Cao làm thơ, viết truyện ngắn, vẽ tranh từ 14 – 15 tuổi trước khi sáng tác âm nhạc nên không có lý gì phải nhờ đến Đỗ Hữu Ích làm lời cho ca khúc của mình. Hơn nữa, Đỗ Hữu Ích khi đó chỉ là một nhà buôn, cả cuộc đời không có nổi một bài thơ, một mẩu chuyện nào mà lại dám nhận làm lời cho một vài bài hát của Văn Cao. Thật đáng hổ thẹn.

Phạm Duy có phải là người cướp micro và hát Tiến quân ca trong cuộc mít-tinh ngày 17-8-1945 tại quảng trường Nhà hát Lớn không? Tôi xin khẳng định:

Không có chuyện đó vì:

- Phạm Duy theo gánh hát Đức Huy rời Hải Phòng vào cuối mùa xuân năm 1944 để tiếp tục cuộc hành trình lưu diễn từ Bắc vào Nam. Theo hồi ký của Phạm Duy (tập 2, chương 1): “Vào đầu tháng 3 năm 1945, gánh hát cải lương với cái tên là “Đức Huy – Charlot Miều” đang trong thời gian ghé lại tỉnh lỵ Cà Mau. Trên đường lưu diễn khởi sự từ thành phố Hải Phòng ở miền Bắc cách đây 2 năm, bây giờ gánh hát vào tới một tỉnh cực xa của miền Nam rồi. Coi như lữ khách đã tới cuối con đường xuyên Việt…”. Cũng tại đây, vào ngày 10 tháng 3 năm 1945, nghe tin Nhật đã đảo chính Pháp, Phạm Duy đã vẽ mẫu cho gánh hát may cờ Nhật và bị mật thám Pháp bắt đem về giam tại nhà tù của tỉnh. Sau một ngày thì mới được lính Nhật thả cho về…

Anh-minh-hoa---Van-Cao-va-Pham-Duy---Can-lam-ro-nhung-chuyen-da-bi-tam-sao-that-ban

“… khi gánh hát trở về đóng đô tại rạp Aristo ở Sài Gòn vào giữa năm 1945, tôi bị sưng phổi và phải vào nằm nhà thương để điều trị…” (tập 2, chương 2).

“… Vào đầu tháng 8-1945, ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng, tôi nghe tin từ Hà Nội đưa vào: Một mặt trận chính trị mang cái tên là “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh” đứng ra kêu gọi dân chúng làm cuộc tổng khởi nghĩa…” … “tới ngày 19-8-1945 có tin Cách mạng do Việt minh lãnh đạo đã thành công ở miền Bắc…” ( tập 2, chương 3).

Như vậy có thể khẳng định, trong những ngày Cách mạng Tháng 8 lịch sử, Phạm Duy không có mặt tại Hà Nội.

Vậy mà! Không hiểu vì sao, nhà văn Thụy Khuê (sống và làm việc tại Pháp đã từng đọc rất kỹ cuốn Hồi ký Phạm Duy mà vẫn còn cố tình gắn cho Phạm Duy là người đã “buông lá cờ đỏ sao vàng (trên bao lơn Nhà hát Lớn) và xuống cướp loa phóng thanh hát (bài Tiến quân ca).

Việc Thụy Khuê trích dẫn hồi ký của nhạc sỹ Văn Cao về bài Tiến quân ca in trên Tạp chí Sông Hương số 26 tháng 7&8 năm 1987 để gắn cho Phạm Duy là người có công tham gia trực tiếp trong những ngày Cách mạng Tháng 8. Điều mà chính Phạm Duy cũng không dám nghĩ đến. Vì đây là vấn đề thuộc về lịch sử của dân tộc.

Tôi xin trích dẫn một vài đoạn trong hồi ký của nhạc sỹ Văn Cao mà Thụy Khuê đã sử dụng:

“Tin từ Hải Phòng lên cho biết mẹ tôi, các em và các cháu đang đói khổ. Bà đưa các đứa nhỏ ấy từ Nam Định ra Hải Phòng, dọc đường đã lạc mất đứa cháu con anh cả tôi. Nó mới lên ba. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Có thể nó đã nằm ở dọc đường trong đám người chết đói năm ấy. Các anh tôi cũng đang chờ tôi giúp đỡ. Năm ấy rét sớm hơn mọi năm. Tôi ngủ với cả quần áo. Có đêm tôi phải đốt dần bản thảo và ký họa để sưởi. Đêm năm ấy cũng dài hơn mọi năm. Những ngày đói của tôi bắt đầu.

Căn gác được thêm một người ở. Anh Ph.D. là bạn thân của tôi từ Hải Phòng lên. Anh mới nhận nhiệm vụ làm giao thông của tổ chức giữa hai tỉnh Hà Nội và Hải Phòng. Từ lâu, tôi vẫn biết Ph.D. là người của đoàn thể, và thường chú ý giúp đỡ tôi… Lần này Ph.D. lên ở với tôi vào giữa lúc tôi đã muốn bỏ tất cả hội họa, thơ ca, âm nhạc, bỏ tất cả giấc mơ sáng tạo thường đêm đêm đan mãi đan mãi cái vành mũ triền miên trên đầu như một vòng ánh sáng thần thánh.

Một hôm Ph.D. nói với tôi:

- Văn có nhớ anh Vũ Quý không? Anh ấy vẫn ở Hà Nội. Văn có muốn gặp anh ấy không?

Tôi biết đồng chí Vũ Quý trong những ngày còn là vận động viên bơi lội của Hải Phòng. Chúng tôi thường tập luyện hàng ngày trên sông Cấm. Từ khi biết anh bị mật thám bắt hụt, tôi hết sức khâm phục. Thế là người cộng sản ấy vẫn hoạt động tại Hà Nội. Anh ấy vẫn còn nhớ đến tôi.

Tôi đã gặp lại đồng chí Vũ Quý. Anh là người vẫn theo dõi những hoạt động nghệ thuật của tôi từ mấy năm qua, và thường khuyến khích tôi sáng tác những bài hát yêu như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca, Tiếng rừng, và một số ca khúc khác…

Những ngày ấy nhìn Ph.D. mỗi lần anh đóng gói đi xa và lắng nghe tiếng còi tàu ngoài ga Hàng Cỏ để chờ một chuyến tàu đêm. Dưới ngọn đèn dầu bộ mặt ngăm ngăm của anh chỉ thấy ánh lên đôi mắt sâu và trầm lặng.

Anh rất tôn trọng những phút tôi ngồi vào bàn với tập bản thảo và chờ đợi những âm thanh của từng câu nhạc được nhắc đi nhắc lại. Anh là người chứng kiến sự ra đời của bài “Tiến quân ca”…

Ngày 17 tháng 8 năm 1945, tôi đến dự cuộc mít-tinh của công chức Hà Nội. Lá cờ đỏ sao vàng được thả từ bao lơn Nhà hát Lớn xuống. Bài “Tiến quân ca” đã nổ như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Chung quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất lên vang theo những đoạn sôi nổi. Ở những cánh tay áo mọi người, những băng cờ đỏ sao vàng đã thay những băng vàng của chính phủ Trần Trọng Kim. Trong một lúc, những tờ bướm in bài “Tiến quân ca” được phát cho từng người trong hàng ngũ các công chức dự mít-tinh.

Tôi đứng lẫn vào đám đông quần chúng trước cửa Nhà hát Lớn. Tôi đã nghe giọng hát quen thuộc của bạn tôi, anh Ph.D. qua loa phóng thanh. Anh là người đã buông lá cờ đỏ sao vàng trên kia và xuống cướp loa phóng thanh hát. Con người trầm lặng ấy đã có sức hấp dẫn hàng vạn quần chúng ngày hôm đó, cũng là người hát trước quần chúng lần đầu tiên, và cũng là một lần duy nhất”…

Nhạc sỹ Văn Cao viết hồi ký “Tại sao tôi viết Tiến quân ca?” vào ngày 7-7-1976 tại Hà Nội. Mùa thu năm 1987, bạn bè ở Huế, báo Sông Hương mời ông vào chơi và muốn xin ông một bài viết để in vào dịp Cách mạng Tháng 8. Vào Huế, ông đã gửi Tạp chí Sông Hương vài bài thơ sáng tác trong thời gian lưu lại chơi cùng bạn bè và “Bài Tiến quân ca” đã được ông lược bỏ đi bốn chữ “Tại sao tôi viết…” cho gọn. Sông Hương đã đăng “Bài Tiến quân ca” vào số 26, tháng 7&8/ 1987. Đây là bản hồi ký đầy đủ và đã được in lần đầu trên Tạp chí Sông Hương.

Sau này, theo yêu cầu của báo Nhân Dân, là tờ báo ra hàng ngày, số trang hạn chế nên bài hồi ký “Tại sao tôi viết Tiến quân ca” đã được Văn Cao rút gọn lại.

Một nhân vật trong hồi ký mà Văn Cao viết tắt nguyên là chữ “Ph.Đ”. Do lỗi đánh máy, Sông Hương in mất dấu thành “Ph.D”. Vì vậy mới có chuyện để nhà văn Thụy Khuê suy diễn thành Phạm Duy…

Thụy Khuê ở nước ngoài, đã tiếp xúc Phạm Duy nhiều lần, từng gặp gỡ nhiều những nhân vật có tên tuổi trong và ngoài nước để phỏng vấn… Đó là công việc cần thiết của một nhà văn cho những sáng tác. Nghiên cứu tư liệu phục vụ cho những trang viết của mình, đặc biệt là những tư liệu liên quan tới những nhân vật nổi tiếng có gắn với những sự kiện lịch sử của Dân tộc thì cần thiết phải có một cái tâm trong sáng, trung thực, khách quan và thận trọng trong từng trang viết. Việc một nhà văn “nổi tiếng” như Thụy Khuê chẳng nhẽ lại không hiểu?

“Ph.Đ” là Phạm Đức – người làng Kim Liên, Hà Nội. Một làng nghề có truyền thống cắt tóc. Gia đình Phạm Đức có một tiệm cắt tóc tại Hải Phòng. Phạm Đức người bé nhỏ, điềm đạm, có nước da ngăm đen nên bạn bè thường gọi là Đức đen. Phạm Đức yêu âm nhạc, biết đánh đàn piano (sau này ông thường lên thăm cha tôi tại 108 Yết Kiêu, bao giờ cũng có quà cho anh em tôi. Những lúc cha tôi vắng nhà, lại thấy ông ngồi vào cây đàn của cha tôi đánh một cách say sưa. Ông cũng thường kể cho tôi nhiều trò nghịch ngợm của ông và cha tôi hồi nhỏ ở Hải Phòng).

Văn Cao, Phạm Đức, Doãn Tòng, Đỗ Hữu Ích, Chương Đức Chính, Tín híp, Trần Liễn… chơi thân với nhau từ khi còn học tiểu học (sau này thêm Nguyễn Đình Thi). Đây cũng là những người được ông Vũ Quý, một cán bộ Cách mạng hoạt động bí mật tại Hải Phòng giác ngộ, đưa vào tổ chức Thanh niên cứu quốc từ năm 1942. Về sau, những người bạn này đều tham gia vào đội Danh dự Việt minh (đội trừ gian) do Văn Cao phụ trách. Đội trừ gian được Văn Cao thành lập cuối năm 1944, hoạt động bí mật tại Hà Nội và Hải Phòng dưới sự chỉ đạo của ông Vũ Quý (lúc đó là quyền Bí thư Đảng bộ Hà Nội) cùng ông Lê Nghĩa (sau này là Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam).

… Ngày 17-8-1945, đội Danh dự Việt minh của Văn Cao được giao nhiệm vụ bảo vệ và phá cuộc biểu tình của công chức Hà Nội do chính quyền bù nhìn của thủ tướng Trần Trọng Kim tổ chức tại quảng trường Nhà hát Lớn. Biến cuộc biểu tình đó thành cuộc mít-tinh biểu dương lực lượng của quần chúng nhân dân Hà Nội, ủng hộ Mặt trận Việt minh. Văn Cao phân công nhiệm vụ cho các đồng chí của mình. Ông giao vũ khí của mình cho Phạm Đức và phân công Phạm Đức trèo lên gác Nhà hát Lớn để treo lá cờ đỏ sao vàng trên bao lơn.

Kể lại cho tôi nghe sự kiện này, tôi thấy giọng cha tôi nghèn nghẹn: “… Bố bất ngờ nhất là việc bác Đức đen nhẩy xuống cướp loa phóng thanh, hát vang bài Tiến quân ca. Và hàng vạn quần chúng nhân dân cùng đồng thanh hát ầm vang cả quảng trường. Nước mắt bố trào ra… Vậy mà, sau này vẫn có người tranh công nhận là người treo cờ hôm đó”. Cha tôi lặng đi. Chén rượu trên tay run rẩy…

Trước ngày cha tôi mất ít lâu, một cán bộ của ngành an ninh đến gặp cha tôi: “Phạm Duy có đặt vấn đề xin được trở về thăm quê hương. Theo anh, ta nên xử lý thế nào?”. Cha tôi trầm ngâm một lát rồi nói: “Phạm Duy là một nhạc sỹ có tên tuổi, có nhiều đóng góp cho nền âm nhạc nước ta. Không thể phủ nhận được những tác phẩm của ông ta trong nửa đầu của cuộc kháng chiến. Nó là một thằng bạn cũ của tôi. Tôi hiểu nó. Giờ đây Phạm Duy đã gần 80 tuổi rồi, còn làm gì được nữa đâu!..”.

Năm 2000. Mùa xuân. Phạm Duy mới được về nước. Ông đến thăm gia đình tôi rồi xuống Nghĩa trang Mai Dịch thắp hương cho cha tôi. Những ngày sau đó, ông thường đến nhà vợ chồng tôi tại căn phòng nhỏ ở 102 – Lê Duẩn. Qua những chuyện cha tôi và một số bạn bè của ông (từng có những mối quan hệ với Phạm Duy hồi còn ở Hải Phòng và trong kháng chiến) từng đã kể cho tôi. Tôi hỏi lại Phạm Duy. Ông đã vui vẻ xác nhận một cách chân tình. Ông không hề giấu giếm và còn khoe với tôi nhiều chuyện…

Tôi ký họa một bức chân dung ông vào cuốn sổ tay, rồi đưa ông xem. Trầm ngâm một lát, ông lấy bút, ghi mấy chữ lưu bút vào cạnh bức chân dung:

“Đã tưởng có ngày như Lưu Nguyễn về trần, cùng Văn Cao giã biệt Thiên thai. Nhưng con cá hồng này đành một mình ngược sông về suối, là con suối mơ của Văn Cao đấy!

Giờ này con chim Việt Văn Cao bay lửng nơi tiên, hãy ngó nhìn con cá Phạm Duy về suối”.

Văn Cao – Phạm Duy là thế đấy!

Kỳ Sơn – Những ngày mưa
tháng 7/2017

Văn Thao
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 464

Ý Kiến bạn đọc