Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Văn bằng và thực tiễn

(Tiếp theo số báo 630, ngày 21-1-2021)

 

Giữa văn bằng học vị và thực tiễn trong văn học nếu được khảo sát sẽ rút ra những kinh nghiệm cần thiết. Chỉ có thể khảo sát ở lý luận; phê bình và nghiên cứu là những bộ môn gắn với quy luật khoa học, mang tính khoa học. Còn sáng tác là lĩnh vực cực kỳ phong phú, có cơ chế riêng mà khoa học không thể giải thích được một cách thuyết phục. Chẳng hạn thần đồng Trần Đăng Khoa khi mới 8 tuổi đã có câu thơ:

Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng…

Vì vậy, sáng tác hay sáng tạo phải được nghiên cứu một cách tổng hợp, ngoài phạm vi bài này.

Bạn đọc rất mong các nhà khoa học đưa ra được những tư tưởng mới, những khái niệm mới thúc đẩy đời sống khoa học. Phải tôn trọng tự do sáng tạo và cái riêng của nhà khoa học. Nhưng đòi hỏi tư tưởng đó, cái riêng đó phải có cơ sở để ai cũng hiểu được, cũng tin tưởng và vận dụng được. Trên tinh thần đó, các nhà khoa học hay các tác giả đã có học hàm học vị, thậm chí đã có thâm niên hoạt động khoa học, phải đưa ra được luận điểm mới, có cơ sở. Một số luận điểm sau đã không vượt qua được thử thách đó.

Trước hết là tính nhất quán khoa học. Trong khoa học, nếu không nhất quán sẽ sa vào tình trạng như nhà thơ Bút Tre đã viết:

… Ta quyết tiến lên hàng đầu
Hàng đầu chẳng biết đi đâu
Đi đâu chẳng biết hàng đầu cứ đi.

Trong thực tế, có nhà khoa học vẫn biết là họ đang đi đâu nhưng sự đi lại vòng vèo luẩn quẩn như người lạc rừng không biết cách tìm ra phương hướng. Một số trường hợp:

- Giáo sư N.Đ.M trong cuốn Hồi ký tuy chưa xuất bản chính thức nhưng đã đưa lên mạng mà nhiều người ở trong và ngoài nước đều biết. Giáo sư kể lại cuộc gặp nhà thơ Tố Hữu với giọng mỉa mai cay độc. Cho rằng thơ Tố Hữu đã mất giá thảm hại và bây giờ không ai còn viết theo Tố Hữu nữa! Điều đáng nói ở đây là trước đó, Giáo sư không nói như thế. Và quan trọng hơn, luận điểm đó có cơ sở không. Thực tiễn chứng tỏ là luận điểm của Giáo sư hoàn toàn không có cơ sở.

Cũng Giáo sư đó, ở một trường hợp khác, để chứng minh cho luận điểm văn học chỉ có giá trị khi nó được sáng tạo theo quy luật của nghệ thuật. Còn khi làm theo yêu cầu chính trị thì không có giá trị, thậm chí là phản tác dụng. Ông đưa ra luận cứ thế này: Trên đường từ Pháp về bằng tàu thủy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhảy điệu son lá son với thủy thủ Pháp. Điều đó làm cho Quang, một kỹ sư có tài, tự nguyện theo Cụ Hồ về Việt Nam, đã thất vọng và anh ta từ bỏ kháng chiến, kiếm sống bằng nghề sửa xe máy… Đó là sự xuyên tạc trắng trợn đoạn Hồi ký của Tô Hoài, viết lại theo lời kể của GS. Trần Hữu Tước.

- Một Giáo sư khác, nguyên Trưởng khoa Ngữ văn của một trường đại học danh tiếng, từng là Tổng chủ biên và Chủ biên nhiều sách giáo khoa bậc trung học. Trước 1987, ông cũng hết lời ngợi ca Tố Hữu và đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thậm chí có cả một công trình ngợi ca Tố Hữu (Thi pháp thơ Tố Hữu – 1987). Ông cũng rất say sưa về thành tựu đưa chính trị vào văn học, không chỉ ở Việt Nam mà là cả nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa thế giới (Một thời đại văn học mới – 1987). Nhưng đến năm 2016, Giáo sư lại đưa ra tư tưởng trái ngược. Cho rằng thành tựu của 30 năm đổi mới lý luận văn học là làm cho Lý luận Nhà nước mất thiêng. Rằng sau khi Liên Xô sụp đổ thì lý luận văn nghệ Mác-xít không còn nơi nương tựa, trở nên bơ vơ. Và đó là điều kỳ diệu mà thời đại ban tặng (Trên đường biên của lý luận văn học – 2016).

Nếu theo dõi hành trình khoa học của Giáo sư này thì thấy cơ sở lý luận của ông đều lấy từ nước ngoài, từ Trường phái hình thức Nga và Bakhtin. Điều đáng nói ở đây không chỉ là sự không nhất quán trong tư tưởng khoa học mà là không có luận cứ khoa học. Nếu lý luận Mác-xít và lý luận Nhà nước về văn học – nghệ thuật đã mất thiêng và đó là điều kỳ diệu của thời đại thì ông phải đưa ra được những luận cứ xác đáng. Điều đó đòi hỏi phải khảo sát lý luận văn nghệ trước Mác; của Mác – Lênin và tiếp theo là của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà văn hóa – Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh… Nhưng Giáo sư đã không chứng tỏ được luận cứ của mình.

- Một Giáo sư – Tiến sĩ khoa học khác tiếp tục luận điểm từ 1990 rằng văn học trước hết, chủ yếu không phải phản ánh hiện thực mà là nghiền ngẫm về hiện thực (Văn học và hiện thực – Tạp chí Văn học số 4 và 5, năm 2018). Rằng sáng tạo của nhà văn là không hề có trong hiện thực. Đề cao chủ thể sáng tạo, sự “kiến tạo hiện thực” của nhà văn. Tư tưởng trên không có gì mới, đã đành. Nhưng nếu nó được xây dựng trên cơ sở khoa học thì còn khả dĩ. Đằng này, Giáo sư đã không đưa ra được những luận cứ xác đáng, thậm chí còn trình bày không trung thực về Nhận thức luận của Lênin. Giáo sư cũng đưa ra luận điểm rất vô căn cứ, rằng thế giới quan Cộng sản đã giáo dục cho các văn nghệ sĩ cái nhìn ngây thơ đơn giản một chiều, nhìn vào đâu cũng thấy “Đất nở hoa”, “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng…”, chỉ thấy cuộc sống toàn một màu hồng hoặc toàn một màu tối… Bởi vì khi nói đến thế giới quan Cộng sản là nói đến vấn đề rộng lớn trong đó phép biện chứng Mác-xít giữ vị trí cốt lõi. Ngày nay người ta đang bàn luận rất nhiều về chủ nghĩa Cộng sản, chủ nghĩa Mác theo nhiều chiều hướng khác nhau. Nhưng có một điểm chung là đều thừa nhận phép biện chứng của Mác, xem đó là một cống hiến vĩ đại của Mác. Ở nước Israel ngày nay họ tôn thờ Enxten và Marx là những con người thiên tài vĩ đại của dân tộc họ. Tư duy hay cái nhìn đơn giản, một chiều, ngây thơ, ấu trĩ… là một trình độ của tư duy mà con người cụ thể ở mọi thời đại, mọi không gian địa lý đều khó vượt qua được. Chính luận điểm của Giáo sư, tuy chỉ qua một câu rất ngắn, về thế giới quan Cộng sản, đã bộc lộ điều đó. Có những người Cộng sản cụ thể nhìn cuộc sống một cách đơn giản, ngây thơ… Nhưng thế giới quan Cộng sản thì… ngay cả Giáo sư cũng chưa hiểu đúng, nói gì…

- Một trường hợp rất thú vị về lý luận văn học là luận điểm chủ nghĩa hiện thực phải đạo. Tác giả của luận điểm này là người được đào tạo bài bản ở Liên Xô cũ. Học hàm học vị đáng là bậc thầy của nhiều Giáo sư – Tiến sĩ. Từ Liên Xô về nước, ông đã có ngay chuyên luận về Mai-a-cốp-xki. Khi Liên Xô làm “pê-rê-trôi-ka” (cải tổ), thì ông có ngay câu chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là của giả. Rằng cứ dắt một con bò đực sang Liên Xô rồi dắt về là nó cũng thành Phó Tiến sĩ! (ngang với Tiến sĩ). Có lẽ đó là khởi đầu cho một học trò của ông sau này, trong Những mảnh đời đen trắng, giễu cợt “những con bò đực của chủ nghĩa xã hội”. Đỉnh cao đổi mới lý luận của vị Giáo sư – Tiến sĩ này là luận điểm Chủ nghĩa hiện thực phải đạo. Viết cho phải đạo chứ thực lòng thì… Ông có lần bỗ bã: Đó là câu chấm hết cho văn học hiện thực XHCN ở Việt Nam. Sau này ông chuyên tâm vào triết học, về quan hệ văn hóa Đông – Tây, được bạn đọc chú ý. Nhưng điều đáng nói ở đây là, một bậc đàn anh của ông, cũng người đất Lam – Hồng, cố GS. Phan Ngọc, đưa ra luận điểm ngược lại và có cơ sở xác đáng: Qua một số tác phẩm văn học cách mạng và kháng chiến, nhất là ba truyện ngắn Một lần tới Thủ đô (Trần Đăng), Đôi mắt (Nam Cao), Làng (Kim Lân), ông nhận thấy: “Tôi không thấy ta thua kém về mặt nghệ thuật, còn về nội dung mỗi nước có những vấn đề riêng của nước mình khó lòng so sánh được (Một thức nhận về văn hóa Việt Nam. NXB Thế giới. H.2018. Trg.438).

Những trường hợp nêu trên cho thấy tình trạng y phục bất xứng kỳ đức trong quan hệ giữa văn bằng học vị và thực tiễn khoa học. Chúng tôi rất trân trọng các Giáo sư – Tiến sĩ đã được giới khoa học vinh danh. Những bất cập mà chúng tôi nêu trên hy vọng chỉ là những trường hợp ngoại lệ trong hành trình khoa học của các vị. Điều chúng tôi muốn nói ở đây là, phàm là một nhà khoa học đã có danh vọng, có văn bằng, học hàm học vị, khi đưa ra một luận điểm khoa học, ở bất cứ phạm vi mức độ học thuật nào, đều phải có sở cứ xác đáng. Về phía tiếp nhận, trước hết là tiếp nhận nội dung học thuật. Nếu bị cớm ngợp trước danh vị, học vị học hàm của tác giả, rất dễ bị ngộ nhận.

Lý luận văn học hiện đang là vấn đề rất sôi nổi. Chúng tôi rất vui mừng về khuynh hướng các nhà lý luận đang vận dụng kết hợp lý luận bên ngoài và thực tiễn văn học trong nước để nêu lên và giải quyết các vấn đề lý luận rất bức thiết. Có thể kể một số công trình: Tư tưởng và phong cách nhà văn – Những vấn đề lý luận và thực tiễn của GS. Trần Đăng Suyền. NXB Đại học Sư phạm. H.2020; Nhận diện và lý giải các hiện tượng văn học – nghệ thuật. PGS-TS Phan Trọng Thưởng. NXB Văn học. H.2019; Thi pháp tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Bùi Việt Thắng. NXB Hội Nhà văn. H.2018; Thơ Việt trên hành trình đổi mới. PGS-TS Trần Mạnh Tiến. NXB Hội Nhà văn. H.2019, v.v… Bạn đọc đang kỳ vọng vào khuynh hướng này.

Thực trạng y phục bất xứng kỳ đức trong lý luận văn học cũng như trong khoa học nói chung, là một thực tế xưa nay không hiếm. Do trình độ tư duy một phần, do tính cơ hội cả chính trị và học thuật, một phần do sự dễ dãi (chủ quan) hoặc cả nể, hoặc tham cầu… đều hạn chế sự sáng tạo khoa học. Vì thế cần nhận diện để khắc phục, bổ sung cho nhau để cùng xây dựng một đời sống học thuật lành mạnh. Là cái nhìn của một cá thể, không tránh khỏi sai sót, mong bạn đọc chỉ giáo cho những điều khiếm khuyết.

Xin khảo sát phần Nghiên cứu văn học, qua các trường hợp sau:

Câu “Truyện Kiều còn… nước ta còn”:

Từ sau Đổi Mới đến nay nhiều người trở lại ca ngợi cụ Phạm Thượng Chi (*), hầu hết đều dẫn câu “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn” mà không chua xuất xứ. Cũng có người chua rõ xuất xứ nhưng lại trích dẫn không đầy đủ… Trong loạt bài viết nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày mất của Nguyễn Du, gồm 7 bài của 7 tác giả đều là các Giáo sư – Tiến sĩ, Phó Giáo sư – Tiến sĩ và Tiến sĩ (Tạp chí LLPBVHNT, số tháng 9-2020) thì có 5 bài dẫn câu Truyện Kiều còn… với tinh thần ca ngợi. Người dẫn nhiều nhất là Giáo sư Chủ tịch Hội Kiều học (3 lần). Thứ hai là một Đại lão Giáo sư khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm (2 lần). Ba tác giả khác dẫn 1 lần. Chỉ có 2 tác giả không dẫn, là PGS.TS Nguyễn Trường Lịch và Nguyên An. Tác giả Nguyên An thực ra là Tiến sĩ Văn học, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ở đây ông đã khôn ngoan tự giấu mình…

Chúng tôi không bình luận về các bài viết mà chỉ khảo sát thao tác của người nghiên cứu. Tục ngữ Việt Nam có câu Nói có sách mách có chứng. GS. Hà Minh Đức hồi tưởng lại, Thầy học của ông, GS. Đặng Thai Mai, căn dặn ông: Một tư liệu mà không có xuất xứ thì vô giá trị.

Bởi vậy, khi dẫn câu “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” cần phải đưa ra xuất xứ của nó.

Trong nghiên cứu khoa học, một tư liệu được trích dẫn phải có đủ hai điều kiện:

- Phải có xuất xứ rõ ràng.

- Nội dung phải phù hợp với chủ đề đang biện luận, với ý định của nhà nghiên cứu, để chứng tỏ luận điểm của họ đã có người đồng thuận.

Như vậy, nếu trích dẫn câu của cụ Thượng Chi, phải đưa ra xuất xứ và nội dung câu đó là phù hợp, xác đáng để ca ngợi Truyện Kiều.

Về xuất xứ của câu trích dẫn:

Câu trích dẫn trên là ở bài diễn văn của cụ Thượng Chi nhân ngày giỗ Nguyễn Du, năm 1924, được đăng lại trên Nam Phong số 86 tháng 9-1924. Và câu đầy đủ như sau:

“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn. Có gì mà lo, có gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ”.

Tại sao lâu nay các nhà nghiên cứu chỉ dẫn ra có nửa trên câu của cụ Thượng Chi?

Rất thú vị là Giáo sư Chủ tịch Hội Kiều học cho biết, câu dẫn đó là của Hoài Thanh trong bài mở đầu cho Thi nhân Việt Nam (Tạp chí đã dẫn. Trg.77).

Như thế là bắt đầu từ Hoài Thanh, năm 1941 đến nay, những người yêu Truyện Kiều và cụ Thượng Chi chỉ dẫn lại câu của Hoài Thanh.

Câu đầy đủ của cụ Thượng Chi là ở bài diễn thuyết năm 1924, như đã dẫn. Bỏ đi nửa câu sau làm thay đổi hẳn nội dung câu văn cũng là tư tưởng của Phạm Thượng Chi.

Về nội dung của câu trích dẫn:

- Câu trích dẫn của Hoài Thanh năm 1941 là chưa đầy đủ. Khi đọc lên, bạn đọc cảm nhận nó chỉ đơn thuần là câu chuyện văn hóa, ngôn ngữ, là giá trị to lớn của Truyện Kiều, như là bảo đảm cho sự tồn vong của Đất Nước. Phải nói người viết, ở riêng câu này, là một bậc văn bút kỳ tài, lão luyện.

Nhưng về học thuật, về lịch sử, câu đó không đúng. Nó mang một dụng ý khác. Điều đó, ngay từ 1924, cụ Ngô Đức Kế đã vạch rõ. Nhiều người sau này đã phân tích làm sáng rõ hơn.

- Câu đầy đủ như đã dẫn trên, lộ rõ mục đích chính trị của cụ Thượng Chi: Truyện Kiều còn… Nước ta còn. Có gì mà lo. Có gì mà sợ. Còn điều chi nữa mà ngờ.

Câu này hoàn toàn đối lập với câu cụ viết trong bài Truyện Kiều, năm 1919, in lại trong Thượng Chi văn tập (1942). Đại ý: Bao giờ trên dải đất Đông Dương còn có người Việt Nam ở, người Việt Nam còn nói tiếng Việt thì Truyện Kiều còn có người đọc. Thì anh linh cụ Tiên Điền còn phảng phất mãi với núi sông… (Truyện Kiều. Thượng Chi văn tập. NXB Văn học. H.2006).

Như vậy, tư tưởng chính trị của Phạm Thượng Chi từ 1919 đến 1924 có sự thay đổi rất lớn. Tại sao lại thay đổi và thay đổi như thế nào, đến mức nào, phải xem Tiểu luận bằng tiếng Pháp 1922-1932 mới thấy rõ. Để thấy rõ hơn nữa, phải xem các văn bản của Phủ Toàn quyền Đông Dương giao cho Phạm Thượng Chi làm báo Nam Phong do cố GS. Huỳnh Văn Tòng khai thác được ở Thư viện Pháp quốc hải ngoại (Pháp), từ 1967, đã cung cấp cho GS. Nguyễn Văn Trung công bố trong các công trình Chủ đích Nam Phong và Trường hợp Phạm Quỳnh. NXB Nam Sơn, Sài Gòn, tháng 3-1975.

Qua các bài viết của cụ Ngô Đức Kế (1924), cụ Huỳnh Thúc Kháng (1930), của GS. Nguyễn Văn Trung (1975), của Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan trên Tạp chí Văn học số 1 và số 9 – 1965 thì bài diễn thuyết của Phạm Thượng Chi năm 1924 chỉ là mượn Truyện Kiều, đề cao Truyện Kiều để đánh lạc hướng phong trào chống Pháp.

Như vậy, về xuất xứ, câu “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”

là không thể tin cậy. Chỉ là cắt xén, làm sai lệch chủ đích của cụ Phạm Thượng Chi.

PGS.TS. Nguyễn Trường Lịch và tác giả Nguyên An đã rất tỉnh táo. Vẫn có thể ca ngợi Truyện Kiều mà không cần dẫn câu của Phạm Thượng Chi.

Về nội dung, câu nói của Phạm Thượng Chi là không có cơ sở khoa học và lịch sử. Nhưng vì sao từ bấy đến nay người ta vẫn truyền tụng và ca ngợi hết lời, như vị Chủ tịch Hội Kiều học hay vị Đại lão Giáo sư nói trên. Đây chính là ma lực văn bút của cụ Thượng Chi. Câu văn, về hình thức, âm điệu, nhịp điệu vang lên như một danh ngôn. Nó càng hấp dẫn khi Truyện Kiều đúng là một áng văn bất hủ. Có thể nói, bút lực, bút pháp của cụ Phạm Thượng Chi là vào hàng cao thủ, kỳ thủ. Nhưng vấn đề cơ bản, quyết định lại là ở nội dung. Vì thế, khái niệm hình thức mang tính nội dung là chưa đủ để tiếp cận bản chất tư tưởng của chủ thể sáng tạo. Tư tưởng của nhà văn phải tìm trong toàn bộ tác phẩm của họ, trong các quan hệ xã hội của họ, trong bối cảnh xã hội mà họ đang sống và viết.

Chúng tôi xem việc trích dẫn câu “Truyện Kiều còn…” trong gần một thế kỷ qua (1924-2020) là một ví dụ rất điển hình, có giá trị kinh điển trong nghiên cứu văn học. Là điển hình cho sự nghiên cứu không khoa học.

Vì thế, chúng tôi không phân tích sâu công trình Toàn cảnh Thơ Việt Nam 1945-1975 (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 2019). Bởi nó cũng vi phạm những nguyên tắc nghiên cứu như các Giáo sư ở Hội Kiều học. Chúng tôi chỉ xin lưu ý, đặc biệt lưu ý bạn đọc và bạn đồng nghiệp về trạng thái vô thức tập thể trong nghiên cứu và phê bình văn học. Tác giả công trình Toàn cảnh Thơ… tỏ ra rất cầu thị. Tổ chức một cuộc Tọa đàm, mời 27 vị khách là GS-TS; PGS-TS; TS… xin góp ý cho bản thảo. Nhưng không có một ý kiến phản biện nào. Thậm chí, đến đỉnh điểm của công trình, là vận dụng thi pháp loại hình tác giả để khái quát Thơ Việt Nam 1945-1975 mà tiêu biểu là Hồ Chí Minh – Tố Hữu – Chế Lan Viên – Vũ Hoàng Chương – Bùi Giáng – Thanh Tâm Tuyền. Không có một phản biện nào. Có thể là một trạng thái vô thức tập thể, cùng nhìn lại mà cũng chẳng thấy… Hoặc cùng một ý thức rất “siêu việt”: Im lặng là vàng! (Ngạn ngữ phương Tây). Hoặc đều cùng thiết thực: Giúp người cũng nghĩ khi người giúp ta… Nhưng dù ở trạng thái nào cũng đều bất cập với tinh thần khoa học.

Phê bình văn học cũng có nhiều điểm chung với nghiên cứu khoa học nên chúng tôi không khảo sát riêng. Chúng tôi chỉ xin nêu một ví dụ có giá trị kinh điển hơn cả câu Truyện Kiều còn… Rất đương đại và rất thời sự. Đó là sự biên tập, nghiên cứu, bình luận (phê bình) quyển Hồi ức tuổi thơ Tôi và làng tôi do NXB Hội Nhà văn in lần đầu năm 2018, lần sau vào năm 2019 và NXB Thanh Hóa in lần thứ ba năm 2020. Có thông tin được đề cử Giải thưởng Nhà nước. Hơn 40 tác giả và cơ quan báo chí, Đài phát thanh… đều rất nhất trí đánh giá rất cao tác phẩm này. Có ngay một Luận văn với tựa đề Tâm thức văn hóa làng trong Tôi và làng tôi đã được bảo vệ thành công, do đương kim PGS.TS Viện trưởng Viện Văn học làm Chủ tịch Hội đồng chấm luận án. Không có ý kiến phản biện nào trước một đoạn văn “cực điểm” như thế này:

So-631--Van-bang-va-thuc-tien---Anh-1

“Ông Khếnh hàng xóm, cũng đi dân công như bố tôi, khi thu dọn chiến trường nhặt được một đôi giày cao cổ của Tây. Ông khoe: “Hôm thu dọn chiến trường tau nhặt được đôi giày này đó, tau giấu đi mang về làm kỷ niệm. Lúc đó, bên trong một chiếc giày vẫn còn nguyên khúc chân của một thằng Tây. Chiếc giày này đây”. Ông chỉ tay vào một trong hai chiếc giày chiến lợi phẩm với vẻ mặt đầy kiêu hãnh. Tôi trố mắt nhìn, tôi thấy sợ, khi mường tượng trong đầu, khúc chân to đùng của thằng Tây vẫn còn nằm nguyên vẹn trong đó” (Tôi và làng tôi. NXB Thanh Hóa. 2020. Trg.42).

Đoạn văn trên có 110 chữ, đúng 10 dòng, chiếm hơn 1/3 trang in khổ 14×20,5cm. Đầy trang là 28 dòng. Một đoạn văn không phải quá ngắn. Một nội dung không phải quá nhạt nhẽo vô thưởng vô phạt. Một ý nghĩa không bó gọn trong truyền thống nhân văn – văn hóa dân tộc. Vậy mà không một ai đọc ra. Từ người biên tập lần in đầu, nhà văn danh tiếng Tạ Duy Anh, đến người biên tập bản in lần thứ ba, Thạc sĩ Lê Phương Quý. Bản in lần thứ ba có sửa chữa bổ sung. Duy đoạn văn trên không thay đổi. Như vậy, nếu không phải là trạng thái vô thức tập thể thì còn đáng ngại hơn nhiều. Chúng tôi không dám bình luận vì đoạn văn trên không đa nghĩa, tiềm ẩn, không cần soi chồng văn bản, thấu thị xuyên tầng. Nó sẽ sinh nghĩa và là nghĩa xấu, phản nhân văn. Có lẽ, chỉ nhà thơ Trần Nhuận Minh mới “giải” được trạng thái vô thức tập thể này, qua câu chuyện của ông: Ngày còn dạy học, ông đến thăm nhà một học sinh; em ngoan, học giỏi nhưng nhà rất nghèo. Gia đình mời ông ở lại ăn cơm. Rất đạm bạc. Thức ăn chỉ có mỗi bát canh cua. Không có mâm mà bày ra mẹt. Đang ăn vui vẻ, bỗng con nhái trên vách nhà rơi vào bát canh. Mọi người rất lúng túng. Thầy giáo Minh bình tĩnh gắp con nhái vất đi và thản nhiên múc canh chan cơm ăn ngon lành… Miếng ăn đáng trân trọng biết bao! Vì người mà ăn! (Trần Nhuận Minh và… Đối thoại văn chương…). Chúng tôi nghĩ, đời sống văn học hiện nay, cả sáng tác, biên tập xuất bản, nghiên cứu, lý luận, phê bình cần phải nhanh chóng thoát ra khỏi trạng thái vô thức. Tuy chưa nhiều, nhưng nó đã xuất hiện, mà đôi giày chiến lợi phẩm trong Tôi và làng tôi là một báo động khẩn cấp, một S.O.S!

Hãy can đảm như thầy giáo Minh, thận trọng lấy khúc chân của thằng Tây ra khỏi đôi giày chiến lợi phẩm, chôn cất nó cho mồ yên mả đẹp. Vì biết đâu thằng Tây đó chẳng là con một gia đình thiện lương hay người Phi nghèo khổ bị bắt lính sang Đông Dương. Người Việt có thể rất nghèo nhưng không bất lương. Đó là truyền thống văn hóa của dân tộc. Theo tác giả Nguyễn Văn Học trên VN TP.HCM, số 629, thì Tôi và làng tôi có gần 200 lỗi biên tập. Rất mong các nhà khoa bảng hiện đại lưu ý.

Tháng 1-2021

TRƯỜNG XUÂN
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 631

——————–
(*) Phạm Thượng Chi tức Phạm Quỳnh, chủ bút Nam Phong (1917-1934) và Thượng thư bộ Lại của Nam Triều trước 1945.

Ý Kiến bạn đọc