Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Văn bằng và thực tiễn

 

Văn bằng, chứng chỉ… là chứng nhận đã đạt được một mức độ tri thức nhất định. Học vị (Tiến sĩ, Thạc sĩ) là khẳng định khả năng nghiên cứu khoa học thông qua một công trình cụ thể được bảo vệ. Và đây mới là bắt đầu con đường khoa học. Vấn đề là phải xem thực tiễn hoạt động của mỗi người như thế nào. Có người có được văn bằng học vị rồi thì tự mãn tự túc với danh hiệu của mình. Có người tự học mà đạt được trình độ tri thức cao và khả năng hoạt động thực tiễn. Trong thực tế có nhiều văn nghệ sĩ là học sinh miền Nam được tập kết ra Bắc. Họ được đào tạo ở nhiều mức độ khác nhau. Nhiều người tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu từ những năm 60 thế kỷ trước. Có người đã làm báo từ đó đến nay, dày dạn kinh nghiệm. Nếu lại đòi hỏi họ phải có đủ văn bằng chứng chỉ mới được hành nghề thì rất không thực tế.

Thời đại khoa học buộc người ta phải được đào tạo rồi mới làm việc được. Đấy là chiều thuận. Nhưng ngược lại, không phải cứ có văn bằng chứng chỉ học vị học hàm là mọi việc đều tốt đẹp.

Chúng tôi xin nêu một số tình trạng trong các lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo; Sử học và Văn học để bạn đọc thấy được độ vênh giữa văn bằng học vị và thực tiễn hoạt động khoa học.

Chúng tôi xin thưa trước, đây là vấn đề học thuật. Mà học thuật thì phải cụ thể. Song, cụ thể về độ vênh giữa danh và thực thì nó cay đắng lắm. Nhưng đây là vấn đề trách nhiệm, lương tâm lương tri khoa học, là lợi ích của Đất nước, của Dân tộc, của Khoa học… Rất mong được xem là liều thuốc đắng nhỏ bé góp vào công việc chung. Vả làm khoa học là tự nguyện. Tự nguyện ở đây đồng nghĩa với chấp nhận.

Xin nói về giáo dục – đào tạo

Chúng tôi không nói về một “núi sạn” trong 4 bộ SGK lớp 1 mà báo Văn Nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam – số 52 (26-12-2020) đã đăng tải, bài Lỗi của sách và lỗi của người của tác giả Thạch Sơn – một vấn đề đang rất thời sự. Chúng tôi xin bạn đọc cùng xem lại cuốn Ngữ văn 9 được biên soạn, xuất bản trước đây nhiều năm. Tổng chủ biên nguyên là Tổng biên tập NXB Giáo dục. Chủ biên các chủ đề Tiếng Việt, Giảng văn, Tập làm văn là các Giáo sư và nhiều tác giả đồng biên soạn đều là Tiến sĩ, Thạc sĩ… Nếu căn cứ vào học hàm học vị của các tác giả biên soạn thì đây phải là công trình có chất lượng hàng đầu, hạng A đặc biệt. Nhưng thực tế thì sai sót khủng khiếp, có những chỗ sai đến ngớ ngẩn. Cứ thao thao bất tuyệt về hình tượng “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” ở bờ biển phía Đông, biển Hòn Gai… mà không liên tưởng đến Truyện Kiều, “Ngày vui ngắn chẳng đầy gang / Trông ra ác đã ngậm ngang non Đoài”… Tìm hiểu xem từ 1960 trở về trước, ngư dân Việt Nam ở bờ biển phía Đông ra khơi bằng cách nào, vào giờ khắc nào… Và bạn đọc nhớ lại cuộc khẩu chiến giữa Giáo sư chủ biên Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục và Giáo sư Chủ tịch Hội đồng thẩm định. Và chúng ta không biết Giáo sư Chủ tịch Hội đồng thẩm định thẩm định như thế nào mà nên cơ sự hàng “núi sạn” (lỗi) như vậy. Trong rất nhiều vấn đề của Giáo dục – Đào tạo, chúng tôi chỉ nêu lên trường hợp Ngữ văn 9 để bạn đọc được tường. Nhân đây xin nhắc lại, trong Ngữ văn 9 nói trên, chúng tôi chỉ nói đến phần Văn học Việt Nam. Còn phần Văn học nước ngoài do các Giáo sư Phùng Văn Tửu và Đặng Anh Đào biên soạn, chất lượng rất tốt.

Chắc chắn, về tri thức,về học vấn, các Giáo sư đều là những người có bề dày kinh nghiệm. Vậy thì cách làm việc của các Giáo sư như thế nào mà dẫn đến kết quả đáng buồn như vậy? Còn nhớ năm trước, một Giáo sư Ngôn ngữ học và một Tiến sĩ, biên soạn quyển Từ điển chính tả do NXB Đại học Quốc gia – Hà Nội, ấn hành. Quyển sách ra đời, được một Cử nhân Văn học là ông Hoàng Tuấn Công, nhân viên của Ban Khuyến nông thuộc Sở Nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa chỉ ra rất nhiều sai sót. Sự phản biện của ông Hoàng Tuấn Công là rất thuyết phục, được dư luận bạn đọc đồng tình. Nhà xuất bản trên đã phải thu hồi quyển Từ điển… nọ.

Trong sử học

Cố Chủ tịch Hội KHLSVN và Giáo sư đương kim Phó Chủ tịch là Giáo sư thực thụ. Lại là những người đứng đầu Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Thế nhưng, các GS đã tự đánh mất đi trách nhiệm của một sử gia chân chính.

Cố Giáo sư Chủ tịch Hội đưa ra một tuyên ngôn: Cần phải vượt qua rào cản ý thức hệ để có được sự trung thực lịch sử. Nghĩa là ý thức hệ là rào cản ngăn cản sự tiếp cận lịch sử một cách trung thực. Đây là một sự ngụy biện và hậu quả rất tai hại là nó đang lũng đoạn ngành sử học. Để bảo vệ luận điểm của mình, cần phải đưa ra lịch sử của khái niệm ý thức hệ và bản chất của ý thức hệ của các giai cấp qua các thời đại. Nhưng Giáo sư đã lẩn tránh nội dung này.

Cố Giáo sư đánh giá rất cao Tạ Chí Đại Trường, một người viết sử nguyên là sĩ quan Ngụy và gia đình ông ta rất thâm thù với cách mạng. Thân phụ là một tỉnh trưởng rất ác ôn thời Ngô Đình Diệm. Trong các tác phẩm của mình, tiêu biểu là Nội chiến ở Việt Nam… và Chuyện phiếm sử học, Tạ Chí Đại Trường đã hết lời mỉa mai, xuyên tạc, phỉ báng lịch sử dân tộc. Và rất… gian lận. Chính là Thụy Khuê đã nói lên điều đó trong Vua Gia Long với người Pháp. Càng đề cao Tạ Chí Đại Trường bao nhiêu thì Giáo sư càng chứng tỏ sự tự phủ định mình, phủ định nền sử học cách mạng mà nhờ đó ông có được danh vọng ở ngôi cực phẩm.

Cố Giáo sư Chủ tịch Hội thực sự đã “vượt qua rào cản ý thức hệ” khi đưa ra luận điểm Gia Long có công thống nhất đất nước (!) đã tiêu diệt được triều đại Quang Toản, thu được toàn cõi và lên ngôi Hoàng đế vào năm 1802. Luận điểm này là phản khoa học, phản lịch sử và chỉ là lặp lại cuộc trao đổi của các nhà sử học người Việt ở Paris hồi 1965. Nó chỉ là những quả mơ của Tào Tháo nhằm đánh lạc hướng dư luận và hạ thấp giá trị của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo. Có được đất nước thống nhất hôm nay còn có công của Gia Long nữa kia đấy!

Luận điểm của cố Giáo sư còn ảnh hưởng đến nghiên cứu văn học. Cho rằng Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh đều yêu nước như nhau nhưng theo cách khác nhau đến nỗi đã tiêu diệt nhau trước khi thống nhất được Đất nước. Và Thơ Việt 1945-1975, nếu đưa vào hệ quy chiếu loại hình tác giả thì Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền đều cùng một chiếu (đồng tịch). Nghĩa là cùng một giá trị hay giá trị ngang nhau (Xem Toàn cảnh Thơ Việt Nam 1945-1975). Năm 2020, Hội Nhà văn Việt Nam long trọng kỷ niệm 100 năm Tố Hữu và Chế Lan Viên và Tô Hoài và Nguyễn Xuân Sanh. Còn Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền thì định đến bao giờ?

Qua vài ví dụ để bạn đọc thấy được công năng của bí thuật vượt qua rào cản ý thức hệ! Và dẫu phải dài dòng cũng mong bạn đọc hạ cố đến người kế tục trung thành. Đó là Giáo sư đương kim Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.

Giáo sư cố cưa sừng làm nghé để chứng minh rằng lợi ích dân tộc là cao hơn ý thức hệ, bằng cách dẫn ra ý thức hệ Nho giáo là chung cho cả Việt Nam và Trung Quốc, thế mà các triều đại Trung Quốc lại sang xâm lược Việt Nam. Và rằng Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa đều là những thực thể chính trị, không nên gọi là Ngụy quân Ngụy quyền, v.v… Thực thể thì đúng rồi. Vì nó là thể thực không phải thể ảo. Nhưng các thực thể này sinh ra từ đâu và bản chất của nó. Các Giáo sư Sử học cũng đưa ra những luận điểm không có tính khoa học. Như cho rằng các Hiệp ước Nhà Nguyễn ký với phương Tây là có giá trị Công pháp quốc tế, chứng tỏ họ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam. Thật là quá ảo tưởng! Các Hiệp ước Pháp ký với Việt Nam hồi đầu, lời lẽ hay ho lắm, một nền hòa bình bất tận… rồi Hoàng đế An Nam thuận nhường cho nước Pháp thế này thế kia. Phải xem lời lẽ ngoại giao và thực tiễn.

Có Giáo sư đánh giá cao tuyên bố của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Ngụy, về chủ quyền đảo Hoàng Sa và từ đó để khẳng định “thực thể chính trị” Quốc gia Việt Nam. Đâu có đơn giản thế. Người Việt đã làm chủ Hoàng Sa từ hàng trăm năm nay, có sở cứ rõ ràng. Ghi nhận phát biểu của Trần Văn Hữu nhưng không vì thế mà khôi phục lại Ngụy quyền Quốc gia Việt Nam. Và cần nhớ đến phong cách ngôn ngữ. Trong hành chính khác trong khoa học khác trong ngoại giao khác trong sử học. Chính sử của mỗi quốc gia có ngôn ngữ của mình, nó không phụ thuộc vào ngôn ngữ của các ngành khoa học khác, các quốc gia khác. Chắc Giáo sư – Phó Chủ tịch Hội không xa lạ gì với những điều sơ đẳng này. Sử Việt Nam trước hết phải cho người Việt Nam. Dân ta phải biết sử ta bằng ngôn ngữ dân tộc ta.

Trở lên để bạn đọc thấy tư duy văn bằng học vị trong Giáo dục – Đào tạo và Sử học. Tiếp theo, chúng tôi sẽ khảo sát trong lĩnh vực văn học, từ sáng tác, biên tập xuất bản đến nghiên cứu – lý luận – phê bình, mong được gặp lại ở kỳ báo sau.

(Còn tiếp)

TRƯỜNG XUÂN
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 630

Ý Kiến bạn đọc