Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Văn bản trả lời đơn kiến nghị

LTS: Tuần báo Văn Nghệ xin giới thiệu bài viết của tác giả Hoàng Phương phản hồi đơn kiến nghị của ông Nguyễn Lân Bình là cháu nội của nhân vật Nguyễn Văn Vĩnh trong bài viết “Phạm Quỳnh dưới cái nhìn của Phan Châu Trinh” trên Báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 493, ngày 12/4/2018. Đơn kiến nghị của ông Nguyễn Lân Bình có nhiều điều cần trao đổi, trước mắt, bài viết của tác giả Hoàng Phương nhằm yêu cầu phản hồi kịp thời một số nội dung chưa chính xác trong thư kiến nghị của ông Nguyễn Lân Bình đến các cơ quan đã nhận đơn kiến nghị nêu trên.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC
TP. Hồ Chí Minh, ngày 29-4-2018

Văn bản trả lời đơn kiến nghị

(Theo đơn kiến nghị của cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh 1882 – 1936)

Kính gửi:

- Ông NGUYỄN THIỆN NHÂN – Bí thư Thành ủy TP.HCM.

- Ông NGUYỄN NGỌC THIỆN – Bộ trưởng Bộ VHTT&DL.

- Ông TRƯƠNG MINH TUẤN – Bộ trưởng Bộ TT&TT.

- Ông NGUYỄN CHÍ HIẾU – TBT Tuần báo VĂN NGHỆ TP.HCM.

- Ông NGUYỄN LÂN BÌNH – phòng 303, nhà D1, chung cư 15-17, phố Ngọc Khánh, Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội.

Kính thưa quí ông!

Tôi là Hoàng Phương (HP) – tác giả bài viết “Phạm Quỳnh dưới cái nhìn của Phan Châu Trinh”, được đăng tải trên Tuần báo Văn Nghệ TP.HCM số 493, phát hành ngày thứ năm – 12-4-2018. Ngày 27-4-2018, HP có nhận được: “Đơn kiến nghị – liên quan đến danh dự của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh” của ông Nguyễn Lân Bình gửi đến quí ông đồng thời cũng gửi đến HP.

Lời nói đầu tiên, HP rất vui khi bài viết của mình được đăng tải trên Tuần báo Văn Nghệ TP.HCM lại được bà con Thủ đô quan tâm đón đọc – trong đó có cháu nội của cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Vậy sự thật có đúng như ông Bình – cháu nội rất hiếu thảo của cụ Vĩnh đã rất khéo léo nhấn mạnh cụ Vĩnh là dịch giả nên làm đơn kiến nghị: bài viết của HP có liên quan đến danh dự của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh và cụ Vĩnh có phải chỉ là dịch giả không thôi hay không?

Theo sách “Thành ngữ Điển tích Danh nhân Từ điển” của GS. Trịnh Văn Thanh, NXB Hồn Thiêng ấn hành tháng 7-1966 tại Sài Gòn, trang 881 in rõ (nguyên văn): “… Nếu đứng riêng trên lãnh vực văn học, Nguyễn Văn Vĩnh rất được ca tụng với những công trình văn nghiệp của mình. Tiếc thay, ông lại tham gia vào chính trị, một thứ chính trị vong bản mà thực dân Pháp đã cố tình đưa ra hầu làm lợi khí trong việc thống trị.

Nguyễn Văn Vĩnh đã từng giữ những chức vụ sau đây trong nền hành chính của chính phủ bảo hộ:

- Hội viên Hội Đồng thành phố Hà Nội

- Hội viên Hội đồng Tư vấn Bắc kỳ.

- Hội viên sáng lập của Đại hội Nghị Đông Pháp (từ khi mới thành lập).

Vì lẽ đó, sự nghiệp văn chương của ông bị lu mờ và ông bị các nhà cách mạng lúc bấy giờ cho là tay sai của thực dân; ông bị nghi ngờ là phản lại quyền lợi của dân tộc. Năm 1936, ông cùng một người Pháp sang Lào để khai thác mỏ vàng, rồi mất tại Tchéphone”.

Không chỉ có vậy, sách “Lược truyện các tác giả Việt Nam” của nhóm tác giả: Trần Văn Giáp, Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tường Phượng – NXB Khoa học Xã hội, trang 162-163 viết (nguyên văn): “Nguyễn Văn Vĩnh, hiệu là Tân Nam Tử, sinh ngày 30-4-1882, người làng Phượng Vũ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.

Năm 1896, 14 tuổi, tốt nghiệp ở trường Thông ngôn rồi làm thư ký tòa sứ ở Lào Cai, Kiến An, Bắc Ninh và ở tòa đốc lý Hà Nội. Năm 1906, được chính phủ thực dân Pháp cử đi dự đấu xảo ở Mác-xây (Pháp), lúc về thôi việc, chuyên kinh doanh, mở nhà in, mở đồn điền. Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút nhiều tờ báo như: Đại Nam đông cổ tùng báo (1907), Notre journal (Báo hàng ngày của chúng ta) (1908 – 1909), Notre revue (Tạp chí của chúng ta) (1910), Lục tỉnh tân văn (1910) do Sne-đe (F.H. Schneider) sáng lập, Đông Dương tạp chí (1913), Trung Bắc tân văn (1915), Học báo (1915), Annam nouveau (An Nam mới) (1931).

Những tờ báo do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương phần nhiều được trợ cấp của chính phủ thực dân Pháp. Năm 1927, cùng E. Vây-rắc ra một loại sách lấy tên là Âu Tây tư tưởng, gồm những sách dịch. Trong tờ Annam nouveau (An Nam mới), Nguyễn Văn Vĩnh ít chú ý đến văn học mà chuyên bàn về chính trị, nhất là thuyết “trực trị” nghĩa là mời chính quyền Pháp cai trị trực tiếp khắp cõi Đông Dương, coi Trung kỳ và Bắc kỳ như Nam kỳ, coi cả ba kỳ như là một thuộc địa hoàn toàn trực thuộc Pháp. Năm 1932, cũng ở tờ báo này, Vĩnh công kích những loại văn mà Vĩnh gọi là “phiến loạn” và nói nhiều câu xúc phạm tới nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu đang bị giam lỏng ở Huế. Thế là một làn sóng công phẫn nổi lên suốt từ Nam chí Bắc, nhiều bài báo chỉ trích Nguyễn Văn Vĩnh, vạch cả cái quá khứ thân Pháp của hắn và đề cao nhà cách mạng Phan Bội Châu.

So-496--Van-ban-tra-loi-don-kien-nghi---Anh-1
Ông Nguyễn Văn Vĩnh (1882 – 1936)

Nguyễn Văn Vĩnh còn được Pháp đưa vào Đại hội đồng kinh tế và lý tài Đông Dương.

Nhưng sau một thời gian hoạt động, hình như vận động trực trị không kết quả, kinh doanh không cạnh tranh nổi với bọn tư sản cá mập Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh bỏ luôn cả nghề làm báo để đi tìm mỏ vàng ở Lào và chết ngày 2-5-1936 ở tỉnh Sê-pôn (Hạ Lào)”.

Chưa hết, theo sách “Đạo làm người từ Lý Thường Kiệt đến Hồ Chí Minh” của cố GS. Trần Văn Giàu – NXB Quân đội Nhân dân ấn hành năm 2006, trang 391, 392, 394 in rõ (nguyên văn): “… đòi hỏi của Pháp đối với chữ quốc ngữ trở nên cao hơn trước. Đòi hỏi ở hai việc lớn:

Thứ nhất là, vào đầu thế kỷ phải dùng chữ quốc ngữ để truyền bá văn hóa Pháp, làm cho người Việt Nam có học, kể cả các nhà nho, nhận thấy thật rõ tính ưu việt của nền văn hóa Pháp, làm cho nhân dân Việt Nam đã phục tùng quyền chính của Pháp thì càng phải thán phục văn hóa Pháp và do đó, bỏ sự học tập văn hóa Tàu mà hướng hẳn về phía học tập văn hóa Pháp, cột Việt Nam vào Pháp bằng dây thừng văn hóa.

Thứ nhì là, bằng quốc ngữ, truyền bá tư tưởng Pháp – Việt hợp tác, truyền bá cái ý xây dựng Đông Dương thành “nước Pháp Viễn Đông”, công nhận nước Pháp là “ông thầy tốt nhất” và bằng lòng theo ông thầy Pháp mãi mãi để học tập. Nhằm mục đích đó, chính quyền thực dân lần lượt cho ra “Đông Dương tạp chí” và “Nam Phong tạp chí”.

Rõ ràng, đang có một sự tranh giành chữ quốc ngữ la-tinh làm vũ khí, tranh giành giữa những người yêu nước và những tay sai trung thành của Pháp. Sau này phe ngụy tán dương câu: “Nước Nam mai sau hay dở cũng ở chữ quốc ngữ” (Nguyễn Văn Vĩnh) và tán dương câu “Chữ quốc ngữ là công cụ kỳ diệu giải thoát về đàng tư tưởng” (Phạm Quỳnh). Nhưng Vĩnh vâng lệnh Pháp dùng chữ quốc ngữ vận động cho “chủ nghĩa Pháp – Việt”, cả hai đều hết lòng cổ vũ văn hóa tư sản Pháp, nhằm cột Việt Nam vào Pháp bằng dây thừng văn hóa chính trị tư sản Pháp, thì “hay dở”, “giải thoát” làm sao?

Pháp ra sức chống lại trào lưu cách mạng dân tộc Việt Nam đang đi vào một giai đoạn mới, trong đó Pháp muốn giao cho chữ quốc ngữ, cho Vĩnh, Quỳnh và bè lũ một vai trò chính trị như trước kia quốc ngữ đã phải đóng, để cho kẻ xâm lược chống kháng chiến, chống sĩ phu Cần Vương…

Ngô Đức Kế đánh giá thấp cái gọi là đóng góp của bọn Vĩnh, Quỳnh và bè lũ. Cụ nói rằng “công trạng” của chúng nó có bao nhiêu đâu? Chúng là bọn “văn chương láo nháo, nhân vật nhố nhăng”, “bọn bốc cát bùn, lượm rơm rác, sú với nước lã, xoa trên mặt đất” chớ có “xây nền quốc văn” đâu nào. Cụ Ngô Đức Kế đánh giá “công trạng” xây dựng nền quốc văn của Phạm Quỳnh theo cái phương châm mà người châu Âu tiến bộ hay áp dụng: “Tiếng và chữ của một dân tộc là cái gươm và cái thuẫn của dân tộc ấy”; sự phát triển của tiếng và chữ của một dân tộc quyết không thể tách rời cuộc đấu tranh để bảo vệ tự do của dân tộc đó. Tách rời ra khỏi cuộc đấu tranh cho tự do của dân tộc thì tiếng nói và chữ viết làm sao phát triển được, huống chi bọn Vĩnh, Quỳnh đem dùng tiếng nói và chữ viết để làm cho chính quyền thực dân được vững bền hơn, thì có công trạng gì? Tội lỗi chớ công trạng sao được?”. Đấy, cố GS. Trần Văn Giàu đã viết sử sách là như vậy.

Rõ ràng, dịch giả hay nhà báo, hay cộng sự đắc lực được thực dân Pháp tin dùng… sử sách của chế độ cũ lẫn sử sách của chế độ ta, HP trích dẫn đúng nguyên văn, không có gì để ông Bình gọi là: “Hoàng Phương viết sai về dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, là sự xúc phạm nghiêm trọng, gây tổn thất nặng nề về danh dự, vốn là thứ mà sinh thời, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh coi là đạo đức và nhân cách của mỗi thằng người”(?!). Theo tôi, lỗi này thủ phạm chính là ông Nguyên Ngọc…

Đạo đức ở đời của một con người Việt Nam bình thường: Cụ Nguyễn Văn Vĩnh, 82 năm nay đã nằm yên dưới ba tấc đất, thì nên để cụ nằm yên mới là con người có đạo đức. Ngược lại, nhà văn Nguyên Ngọc (có lúc sống mãi trong lòng chúng tôi với những tác phẩm: “Đất nước đứng lên”, “Rừng xà nu”…). Sau ngày thống nhất đất nước, Nguyên Ngọc vẫn là “cây đa, cây đề” trong lòng chúng tôi. Ông là Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng Biên tập Tuần báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, ông được thưởng Huân chương Hồ Chí Minh… Có lẽ, thời tuổi trẻ bao cấp cuộc sống khó khăn vất vả trăm bề, lại quá nhiệt tình với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Bác Hồ nên ông mới có những tác phẩm xuất sắc như vừa nêu. Nay đất nước đã hòa bình, độc lập, thống nhất. Sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã mang lại hiệu quả tích cực, cuộc sống khá hơn, tươi đẹp hơn, việc hưởng thụ cũng dồi dào hơn so với thời chiến tranh nên tiếc tuổi thanh xuân đã qua chăng? Nguyên Ngọc quay ngoắt 180 độ, đòi đa nguyên đa đảng, ông tuyên bố ly khai ra khỏi Hội Nhà văn Việt Nam; ông tùy tiện thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập” và coi như người đứng đầu QVHPCT! Theo HP: Nếu trao giải “Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại” cho Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Khôi… hoặc cho nhạc sĩ Phạm Tuyên là phù hợp và xứng đáng hơn là trao cho các cụ Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Tạ Chí Đại Trường, Keith Weller Taylor…

Riêng các cụ: Vĩnh, Ký, Quỳnh… sử sách đã viết quá nhiều, người cầm bút chân chính không được phép bẻ cong ngòi bút viết sai sự thật. Còn viết đúng sự thật như sử sách đã ghi chép chỉ làm linh hồn các cụ và con cháu các cụ tủi thân, đau lòng. HP không muốn điều này, song Nguyên Ngọc đã buộc HP phải làm như vậy. Vậy mà, ông Nguyễn Lân Bình cho rằng: “Tác giả HP thật sự là kẻ thiếu văn hóa và vô chính trị” thì… oan cho HP quá phải không thưa quí vị lãnh đạo và ông Nguyễn Lân Bình?!

Còn Tạ Chí Đại Trường, sinh năm 1938 tại Nha Trang nhưng quê gốc ở Bình Định, là con trai ông Tạ Chương Phùng, cựu Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định. Theo truyền thống của cha mình, năm 1964, Tạ Chí Đại Trường nhập ngũ, phục vụ trong quân đội của chế độ cũ từ năm 1964 cho tới năm 1974 với quân hàm đại úy. Sau năm 1975, ông trải qua giai đoạn học tập cải tạo đến năm 1981. Một người cầm súng 10 năm phục vụ cho ngụy quyền Sài Gòn, 6 năm học tập cải tạo, hơn 10 năm định cư ở Hoa Kỳ. Vậy ông đứng chỗ nào để có thể viết lịch sử cho dân tộc Việt Nam qua 3 cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại một cách khách quan? Có lẽ ông ấy viết quân sử cho quân đội ngụy thì chắc ăn hơn. Người như vậy lại được ông Nguyên Ngọc nhân danh QVHPCT trao giải thì thật hết biết.

Còn Keith Weller Taylor (KWT) – một cựu chiến binh Mỹ trên chiến trường Việt Nam? HP rất đồng tình với ông Nguyễn Đình Vân Tiên – hậu duệ của cụ Nguyễn Đình Chiểu: “Nguyên Ngọc thay mặt QVHPCT ca tụng KWT hết lời: “Keith Weller Taylor là một trong những nhà Việt Nam học nổi tiếng nhất, cả ở Việt Nam, cả ở nước ngoài”. Nguyên Ngọc nói tâng bốc thế thôi, chứ ở Việt Nam có bao lăm người biết KWT là ai.

KWT thường bác bỏ quan điểm sử học của Việt Nam (trước kia cũng như hiện nay), cho đó là sử học dân tộc chủ nghĩa, sử học chính trị hóa. Thực ra, KWT dưới lớp áo “sử gia”, đã sử dụng sử học để phục vụ những quan điểm chính trị sai trái, xuyên tạc lịch sử Việt Nam, biện minh cho chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Thế nhưng, trong diễn văn nói trên, Nguyên Ngọc thay mặt cho QVHPCT, ca ngợi KWT là “một người thật sự yêu đất nước này, muốn hiểu nó tận cùng như hiểu chính mình, để cho đất nước anh hùng mà khổ đau này sống thật đàng hoàng trong thế giới xiết bao khó nhọc ngày nay” và “cảm ơn KWT vì tình yêu chân chính và nỗ lực trằn trọc của ông cho khoa học lịch sử Việt Nam, cho Việt Nam”.

Nguyên Ngọc có biết ai là những người đã gây ra khổ đau cho đất nước này không?

Thật là mỉa mai khi Nguyên Ngọc tâng bốc KWT là “người thật sự yêu đất nước này”. Phải chăng KWT yêu theo kiểu Nguyên Ngọc đang yêu? Phan Châu Trinh là chí sĩ hy sinh trọn đời mình cho dân cho nước. Không ai có thể lợi dụng tên tuổi cụ để làm chuyện phản quốc!” (tongiaovadantoc.com).

Còn việc đặt tên đường ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay theo tôi còn tồn tại nhiều bất hợp lý đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu, trao đổi, trong đó có các tên đường đặt trước giải phóng hoặc mới đặt sau này như đường Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Vĩnh Ký… chẳng hạn. Luật pháp là do Quốc hội ban hành, có thể hôm nay qui định như thế này, song ngày mai có thể thay đổi, không nghiêm trọng, nặng nề như ông Bình đặt vấn đề…

Dẫu sao ông Bình cũng là người cháu nội rất hiếu thảo, đã nóng lòng bảo vệ danh dự uy tín cho ông nội mình; còn ông nội mình là người như thế nào đã có sử sách ghi chép.
Trước khi dứt lời, tôi xin chúc quí ông dồi dào sức khỏe, hạnh phúc.

NGƯỜI LÀM VĂN BẢN
HOÀNG PHƯƠNG

Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 496

Ý Kiến bạn đọc