Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Vài ý trao đổi về bài viết “Giáo sư Phan Ngọc – nợ đời ai trả cho ai” của Võ Văn Hải

(Đăng trên tạp chí Lý luận, phê bình văn học – nghệ thuật số 9-2020) 

 

1. Tôi là một người đọc thường xuyên của tạp chí Lý luận, phê bình văn học – nghệ thuật, chưa hẳn vì uy tín khoa học vượt trội mà vì một duyên do chắc chắn hơn: tạp chí này đã mang đến cho tôi niềm tin về một cách nghĩ, cách tổ chức và cách viết luôn trụ vững ở lề phải của văn hóa, tư tưởng; làm cơ sở, động lực cho sự đấu tranh và phát triển lĩnh vực lý luận, phê bình văn học – nghệ thuật nước nhà. Kỳ vọng của độc giả bao giờ cũng nhiều hơn, cao rộng hơn nhưng rõ ràng trong nhiều năm qua, xét trên những yêu cầu căn bản nhất, tạp chí luôn tròn vai người gác đền, xứng đáng với đồng tiền bát gạo của nhân dân. Lần nghĩ tận căn nguyên đã làm nên một thứ của tin cho cả chế độ, không khó để ghi nhận tài trí và tâm huyết của một tập thể đã thầm lặng chắt chiu, vun đắp, tranh đấu vì lẽ phải, cho tương lai.

Hẳn nhiên, trong không khí cởi mở, dân chủ của đời sống tinh thần con người Việt Nam hôm nay, những biểu hiện bảo thủ, công thức, mòn sáo đã không còn đất sống; thay vào đó là cái mới, cái khác, cái tiến bộ – sản phẩm của khát vọng sáng tạo mãnh liệt cùng với trách nhiệm công dân cao cả. Do vậy, yếu tố chủ quan, chính kiến cá nhân là cần thiết trong xu thế khai phóng, đối thoại, hội nhập trên mọi phương diện đời sống xã hội. Nhưng thiết nghĩ khi mở cửa, cần phải tuyệt đối tôn trọng những nguyên tắc cốt tử, ngõ hầu tránh gió độc cơ hội ùa vào gây nhiễu loạn – dù biết chắc sẽ không thể trở cờ.

Bài viết có tựa đề “Giáo sư Phan Ngọc – nợ đời ai trả cho ai” của tác giả Võ Văn Hải, đăng trên tạp chí Lý luận, phê bình văn học – nghệ thuật số 9-2020 đã gây nên không ít băn khoăn, khó nghĩ. Vì theo thiển ý của tôi, ý đồ của người viết bài này không tương thích với tôn chỉ, mục đích gần như đã thành truyền thống của tạp chí, đó là: công khai, thẳng thắn, chính danh, nhằm đạt tới những xác tín trong học thuật giữa thanh thiên bạch nhật; không bóng gió, úp mở, lập lờ, nhân danh đổi mới để xỏ xiên, ký gửi mã độc, phương hại đến sự an định những giá trị khoa học xã hội và nhân văn đích thực.

2. Tác giả bài viết tỏ ra thực sự am tường về cuộc đời, tài năng, văn nghiệp cũng như số phận của học giả Phan Ngọc, nên đã cung cấp được một số thông tin định lượng có giá trị nhất định. Có thể điểm qua vài ý cụ thể như sau:

- “Riêng lĩnh vực dịch thuật, ông đã từng dịch nhiều tác phẩm kinh điển từ nguyên bản: Thần thoại Hy Lạp (tiếng Hy Lạp), Spactacut (tiếng Ý), Shakespeare và David Copperfield (tiếng Anh), Chiến tranh và hòa bình (tiếng Nga), Mỹ học Hegel (tiếng Đức), Sử ký Tư Mã Thiên (tiếng Hán)… cùng với hàng loạt công trình ở nhiều lĩnh vực khác nhau”;

- “Giáo sư Đặng Thai Mai đã “ủy nhiệm” cho ông trợ giảng, lên lớp thay mình tại Đại học Văn khoa từ 1955 – khi cụ là Giám đốc, Hiệu trưởng; sau đó, ông còn đứng lớp thay cho 6 giáo sư bậc thầy ở 6 bộ môn khác nhau”;

- “Học giả Phan Ngọc đã nhận được Giải thưởng Nhà nước đợt đầu, năm 2001, khi ông đã ở tuổi “cổ lai hy”, là giải thưởng danh giá thứ nhì, sau giải Hồ Chí Minh. Trước đó vài chục năm, ông cũng được “trả lại nhiều thứ”. Đó cũng là niềm an ủi cho ông, cho giới trí thức, cho cả mọi người Việt Nam yêu quý ông”.

Mục đích có vẻ đầy thiện chí cũng đã được nêu lên trực tiếp: “Bài viết nhỏ này chỉ thiên về tưởng nhớ, luyến tiếc cùng với hy vọng rằng tâm nguyện của ông về một cách bảo vệ văn hóa nước nhà, một trong nhiều sớ trình của ông, đã được trình làng trên vài chục năm nay, sẽ không mãi mãi theo ông về chốn non bồng nước nhược”. Tuy nhiên, nội dung triển khai của bài viết lại không đơn giản chỉ tập trung thể hiện thái độ trân trọng và niềm ngưỡng vọng, tiếc thương trước một tài năng, một nhân cách mà còn chứa đầy ẩn ý, có thể kích hoạt những cảm nhận trái chiều rời rạc, xa xôi nhưng nếu gộp lại sẽ thành một sự ngộ nhận, hoài nghi về không khí dân chủ và lẽ công bằng trong đời sống văn học – nghệ thuật hiện nay.

Tiêu đề bài viết là một câu hỏi tu từ: “Giáo sư Phan Ngọc – nợ đời ai trả cho ai”. Và sau 5 trang biện giải quanh co, “cây kim trong bọc” cũng đã lòi ra: “Phải chăng NXB vẫn còn “nợ” tác giả? Còn chúng ta có nợ ông? Hãy hình dung một con tằm được sinh ra trên một cành dâu sum suê trong vườn Ngự uyển, số phận run rủi đưa về một gác xép tằn tiện với lá dâu khô, “không cầu xin một ân huệ nào”, rồi lặng lẽ nhả ra vô số tơ vàng, lụa ngọc, để lại cho dân, nước một tài sản trí tuệ cùng một nhân cách lớn lao, góp phần làm rạng danh trí tuệ người Việt trên thế giới, rồi lặng lẽ về đất với một Hiệu bụt như thế như thế – để biết “nợ” ông những gì”.

Lạ nhỉ, chẳng lẽ người đọc tìm đến với tạp chí Lý luận, phê bình văn học – nghệ thuật trung ương lại phải mục kích chuyện đòi nợ thuê? Câu hỏi lơ lửng hờn trách ấy chỉ có thể buông ra vào lúc khác, ở nơi khác, trong bối cảnh khác, với những đối tượng và ý đồ khác. Còn trên diễn đàn chính thống mang trọng trách khẳng định, định hướng, dự báo này, cần thiết hơn cả là sự rõ ràng, tách bạch giữa đúng với sai, thật với giả, tốt với xấu. “Nợ” gì? “Đời” nào? “Ai” là ai? Hẳn nhiên, những khái niệm chung chung, mơ hồ cùng với điệp từ “ai” phiếm chỉ trong câu nghi vấn kia sẽ là tín hiệu dọn đường, khơi nguồn cho bao khuất tất, ẩn ức tuôn ra. Đặt trong tương quan với ý tưởng được nêu trực tiếp – “chỉ thiên về tưởng nhớ, luyến tiếc” – thật khó xác định đâu là chủ đích của người viết.

Ngoài ra, trong toàn bộ bài viết, có đến khoảng 75 dấu ngoặc kép đã được sử dụng. Mục đích biểu đạt của những tín hiệu cú pháp này rất đa dạng: lúc thì bình thường (để khu biệt các trích dẫn, dẫn chứng, nhận định, khái niệm…), lúc lại không bình thường (nhằm diễn giải những hàm ngôn, ẩn ý có chủ đích). Chưa bàn tới nội dung bên trong những ngoặc kép ấy, riêng về hình thức thôi, tần số xuất hiện dày đặc như vậy – chẳng rõ vô tình hay hữu ý – đã gây nên một thứ hỏa mù, đủ sức làm nhiễu loạn trường tiếp nhận; đến mức khó phân định chỗ nào là nghiêm cẩn chỗ nào là cợt đùa, chỗ nào là hiển ngôn chỗ nào là hàm ngôn, chỗ nào là chính kiến chỗ nào là tà kiến. Đơn cử một ví dụ: trong khi đang viện dẫn lập luận của Phan Ngọc về cái gọi là Nguyên lý công lao, phê phán kiểu ngồi trên mình ngựa để cai trị thiên hạ, người viết lại chèn thâm ý của mình vào, qua mấy câu “ca dao mới” đầy ngụ ý, trĩu nặng định kiến: “Làm thơ thì biết làm thơ / Sang làm kinh tế lơ mơ làng màng”, “Quan đần, dân khổ”; kèm theo lời bình: quan lạc nghề, võ thành văn, văn thành võ – dân còn khổ hơn. Rõ ràng, trong giọng điệu, câu chữ vừa được nêu ra, phần dân thì ít, phần gian thì nhiều hơn!

Nhiều thông tin có thể đã xuất hiện lúc trà dư tửu hậu cao hứng với đồng hương đồng khói hoặc khi thì thụp ở quán cóc, vỉa hè – nghĩa là chưa từng được kiểm chứng một cách khách quan – cũng được vơ vào bài viết:

- “… trên vài chục năm trước, một tờ báo đã giật một “tít” đậm, cảnh cáo: “70% giáo sư và tiến sĩ nước ta không thành thạo một ngoại ngữ nào”.

- “Chưa kể đến việc phổ cập, chạy đua, bán mua bằng cấp vẫn đang là quốc nạn; rồi tỉ lệ số trường đại học và số lượng Tiến sĩ trên dân số là lớn nhất thế giới nhưng số lượng công trình khoa học tầm cỡ thế giới lại là nghịch đảo”.

- “Chuyên viên, dù là “chính”, “phụ” hay “cao cấp” thì vẫn là “chuyên viên”, là bánh xe bị động, là toa tàu. Ngữ cảnh gợi nhớ hình ảnh “tí hon” điều khiển “khổng lồ”, hài, lộn xộn; gợi nhớ những câu thơ Xuân Sách vẽ chân dung cụ Bắc Hà: “Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên / Chia xôi, chia thịt lại chia quyền / Việc làng việc nước là như vậy / Lộn xộn cho nên phải tắt đèn” (Cụ Bắc Hà là cụ nào nhỉ?).

Đem đối khớp với mục đích tưởng nhớ, luyến tiếc thì những dòng trữ tình ngoại đề này hoàn toàn lạc điệu. Để thừa nhận một người, lại phủ nhận trăm người – liệu đó có phải là cách hành xử khiêm cung của bậc thức giả? Vậy nên, dù có ngụy trang cỡ nào, độc giả vẫn nhận ra đằng sau giọng giễu nhại, mỉa mai kia là sự hả hê, tủm tỉm trong cảm giác đã tìm được một chút thắng lợi tinh thần.

Hơn nửa sau bài viết, tác giả dành để trình bày theo hướng cổ súy cho quan điểm của Phan Ngọc về vấn đề văn hóa: “Tôi nói đến một cách bảo vệ văn hóa có hiệu lực, ít nhất nó bảo vệ chế độ quân chủ Trung Quốc trên 3 ngàn năm, và chế độ quân chủ Việt Nam trên 1 ngàn năm. Cách bảo vệ của nó thành công đến mức nền văn hóa ấy bền vững bất chấp những biến động trong hạ tầng kinh tế. Cách bảo vệ của nó thành công đến mức nó không lệ thuộc vào ông vua, nói chung tối đại đa số ông vua đều dưới mức bình thường; không lệ thuộc vào ông quan, nói chung các ông quan tốt thì rất hiếm, trái lại các ông quan hư hỏng lại rất nhiều”. Đi kèm theo quan điểm có phần kỳ quặc vừa trích là các nguyên lý đậm màu sắc chủ quan: nguyên lý “chính trị không phải là thống soái trong làng xã vì sẽ gây tai họa khi người cai trị là nhu nhược hay hư hỏng”, nguyên lý công lao, nguyên lý về học vấn, nguyên lý tuổi tác.

Thật không khó nhận ra ở đây quá nhiều điểm tỏ rõ sự lệch lạc, rối rắm, nhầm lẫn đến mức tệ hại, sai quan điểm. Trong xu thế hội nhập vào thế giới hiện đại, lấy công bằng, công khai, dân chủ, bình đẳng, tự do làm tiêu chí để đo lường sự phát triển, tiến bộ xã hội, vậy mà có người công khai đề cao cái gọi là “cách bảo vệ văn hóa” theo kiểu chuyên chế, áp đặt, tàn bạo của chế độ quân chủ Trung Quốc và Việt Nam – thì quả là không thể hiểu nổi! Trong lý thuyết về kinh tế chính trị chính thống ở nước ta hiện nay, không thể cắt nghĩa được tình trạng “nền văn hóa ấy bền vững bất chấp những biến động trong hạ tầng kinh tế”. Chưa tính đến những thông tin không hề đơn nghĩa như: “Những chuyện liên quan đến học vấn thì học vấn giải quyết, và ở đây ông tiến sĩ 20 tuổi vẫn ngồi cao hơn ông Tể tướng 72 tuổi”, cách đặt vấn đề đầy thâm ý của tác giả bài viết sẽ dẫn đến một ngộ nhận hết sức nguy hại: xã hội hiện nay không khác gì thời trước, vua-quan “tối đại đa số dưới mức trung bình”, nên phương cách tốt nhất để giữ vững chế độ là khôi phục lại trật tự phong kiến để dễ bề trấn áp, thu phục, bắt dân đen câm họng, không dám lên tiếng. Theo hướng diễn giải này, bao nhiêu nước mắt, máu xương nhân dân đã đổ ra vì sự nghiệp Cách mạng để thay trời đổi đất, đánh đổi độc lập tự do có nguy cơ trở nên vô nghĩa!

3. Xin được nhắc lại: Khi nêu ý kiến trao đổi về bài viết của tác giả Võ Văn Hải, tôi không nhằm mục đích minh định đúng – sai, bởi việc đó thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của người khác, cấp khác. Chỉ băn khoăn một nỗi: lập trường, quan điểm tiếp cận và cách trình bày vấn đề theo kiểu quá chủ quan, cực đoan như thế ít nhiều sẽ phương hại đến việc chung, việc lớn. Sự hớ hênh, hoặc biểu hiện ưu ái, đặc cách trong lĩnh vực tiếp nhận – phê bình không hề vô thưởng vô phạt, vô hại; hoàn toàn có thể nảy sinh những hệ lụy khó lường, trước tiên là ảnh hưởng đến tôn chỉ, mục đích, uy tín của tạp chí Lý luận, phê bình văn học – nghệ thuật.

Tháng 10/2020

Trọng Vĩnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 619

Ý Kiến bạn đọc