Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Vài nhân vật “Giang hồ, hảo hớn” nổi tiếng trong dân gian Nam bộ thời Pháp thuộc

 

Từ những năm sau giữa thế kỷ XIX đến ngày nước Việt Nam độc lập (1945), Nam kỳ (Nam bộ ngày nay) là đất thuộc địa của “mẫu quốc” Pháp bởi các hòa ước Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất 1874) ký giữa triều đình Huế với thực dân Pháp. Từ đó, người Tây lang sa đã áp đặt chế độ cai trị ở Nam kỳ như là một tỉnh, hạt của nước Pháp. Sau những cuộc đàn áp đẫm máu các phong trào khởi nghĩa, tình hình chung của Nam kỳ tạm yên ắng, xã hội đã có sự thay đổi, phát triển nhất định dưới sự cai quản của người Pháp và các quan lại cấp dưới bù nhìn người địa phương…Môi trường mới đã sản sinh ra những nhân vật “giang hồ” độc đáo, nổi tiếng trong xã hội Nam bộ lúc bấy giờ. Đặc biệt các nhân vật này còn được các tác giả dân gian khuyết danh sáng tác những truyện thơ ca ngợi khí phách “giang hồ, hảo hớn”, lan truyền, rất phổ biến trong giới bình dân ngày ấy như: Cậu Hai Miêng, Thầy Thông Chánh, Sáu Trọng, Sáu Nhỏ…

Cậu Hai Miêng

Cậu Hai Miêng tên thật là Huỳnh Công Miêng, con trai của Huỳnh Công Tấn, kẻ phản bội đã dẫn quân Pháp tập kích giết anh hùng Trương Định ở “Đám lá tối trời” thuộc Tân Hòa – Gò Công (1864). Huỳnh Công Tấn chết vì bệnh lúc 37 tuổi. Con trai của Tấn – Huỳnh Công Miêng – thường gọi là cậu Hai Miêng, được Pháp cho du học tại Alger (Angiêri). Ở nước ngoài, Miêng học hành không ra gì, chỉ giỏi ăn chơi đàng điếm. Khi trở về nước, Miêng được cử theo làm phụ tá cho Tổng đốc Trần Bá Lộc, một tên tay sai khét tiếng của thực dân Pháp. Năm 1887, Lộc kéo quân ra miền Trung đánh dẹp phong trào khởi nghĩa, yêu nước của Mai Xuân Thưởng…Trong các cuộc lùng sục, càn quét hơn 2 tháng, Lộc đã thẳng tay đàn áp dã man, khủng bố giết chóc nhiều dân lành vô tội đến nỗi bọn Pháp cũng phải lắc đầu kinh hãi! Những hành động tàn ác của Tổng Lộc khiến Hai Miêng bất mãn. Miêng bỏ không theo Lộc nữa, trở về dân dã. Từ đó, Miêng sống giang hồ, xài tiền như nước và thường làm những việc nghĩa hiệp “giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha”. Cuộc đời Hai Miêng ngắn ngủi, Miêng chết vào khoảng năm 1890, thọ 38 tuổi. Bài thơ “Khóc cậu Hai Miêng” của Lê Quang Chiểu (năm 1903) có đoạn: Số hệ làm ai hỡi cậu Miêng/Ba mươi tám tuổi dõi huỳnh tuyền/Sao lờ Bến Nghé xiêu người ngõ/Khói tỏa cầu Kho thảm vợ hiền. Những giai thoại ăn chơi, tiêu pha mà thiên hạ đã đặt vè: Cậu Hai cậu chớ có lo/Hết tiền cậu xuống dưới kho lấy xài. Cậu Hai Miêng là một nhân vật như thế nào mà được giới bình dân nhắc nhở, tán dương? Qua nội dung trong thơ, vè Cậu Hai Miêng, ta có thể thấy được mặt trái thối nát của xã hội đương thời. Câu chuyện Bảy Danh, Tám Hổ, Ba Ngà chơi me ở nhà Chệt Lù thua đến 3 ngàn đồng, tìm đến năn nỉ cậu Hai Miêng nhờ gỡ gạc giùm. Miêng liền cho người gọi Chệt Lù đến để “gầy sòng”. Miêng thắng hơn 4 ngàn bạc và trả lại tiền cho 3 tên đã thua. Thực dân Pháp ngày ấy bề ngoài giả vờ “khai hóa” văn minh cho dân bản địa nhưng thực chất bên trong chúng chủ trương – bần cùng hóa và ngu dân. Mấy câu vè dưới đây cho thấy, thực dân Pháp thời đó đã dung túng cho tệ nạn cờ bạc: “Nào là bông vụ đông người/Nào là lúc lắc, kẻ thời bầu cua/Vui chơi từ sáng đến trưa/Bài cào, tứ sắc cũng đua chơi bời”… Cậu Hai Miêng còn có hành động bênh vực kẻ cô thế như trường hợp một cô gái làng chơi bị bọn ma cô hà hiếp: Nàng kia lời mới giãi bày/Tôi là gái ở mé ngoài làng trên/Nhơn tôi ra chợ đổi tiền/Chàng này chọc ghẹo rất nên thẹn thùa/Tôi muốn cho hắn phải chừa/Cho nên phải quấy hơn thua giãi bày/Chẳng dè mặt dạn mày dày/Theo ghẹo mỗi ngày nói việc ong hoa/Tôi đây xấu hổ thay là/Mắng chàng mấy tiếng kẻo mà chẳng kiêng/Chẳng dè hắn xáp đến liền/Đánh tôi tàn ác rất nên dữ dằn. Cậu Hai Miêng đã cho tên “đầu gấu” số má kia một trận nên thân. Hắn đã phải xin cậu tha tội! Thái độ đàn anh, giang hồ hảo hớn trọng nghĩa khinh tài đã khiến dân gian bình dân ngưỡng mộ cậu Hai Miêng!?

Thầy Thông Chánh

Theo nhà nghiên cứu dân gian Trần Dũng (Hội VHNT Trà Vinh) thì thầy Thông Chánh tên thật là Nguyễn Văn Chánh, còn gọi là Nguyễn Trung Chánh, sinh khoảng năm 1850 tại Trà Vinh, trong một gia đình theo đạo Công giáo. Khi thực dân Pháp chiếm Nam kỳ, thầy được mời ra làm thông ngôn cho Pháp do thầy biết chữ Tây. Thầy Thông Chánh tỏ ra là một công chức tận tụy, mẫn cán. Vợ thầy rất đẹp khiến tên Biện lý Jaboin say đắm, rắp tâm chiếm đoạt. Quá uất ức, thầy đã dùng súng giết chết tên quan háo sắc ngày 14 tháng 5 năm 1893 (theo Sơn Nam). Thầy bị Tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19 tháng 6 năm 1893 và bị xử tử ngày 8 tháng 1 năm 1894 tại Trà Vinh. Thầy Thông Chánh là một nhân vật có thật, qua truyện thơ được hư cấu thêm những tình tiết, sự kiện hấp dẫn làm nổi bật hình tượng chủ nghĩa anh hùng cá nhân hay còn gọi là “anh hùng hảo hớn” rất được người bình dân đương thời ngưỡng mộ. Theo nội dung truyện thơ, thầy Thông Chánh bắn Biện lý Jaboin vào ngày Chánh Chung (Quốc khánh Pháp – 14 tháng 7). Thực tế ngày bắn là 14 tháng 5 năm 1893. Theo các nhà nghiên cứu thì tác giả truyện thơ cố tình cài đặt thời gian lùi lại hai tháng trùng ngày 14/7, nhằm mục đích: Thứ nhất, tiếng súng bắn Tây xảy ra ngày Quốc khánh Tây (Pháp) sẽ có tiếng vang lớn. Thứ hai, tác giả tạo ra không gian hợp lý, có nhiều tên thực dân khắp Nam kỳ về Trà Vinh dự tiệc, tạo cơ hội cho thầy Thông Chánh ra tay hành sự:

… Lang Sa bày tiệc châu thành,
Ăn lễ “Toa-dết” gọi là Chánh Chung…
… Thầy Thông thiệt lẹ như cờ,
Bắn quan Biện lý suối vàng vong thân.
Trúng nhằm ông Chánh Vĩnh Long,
Trúng ngay bắp vế điệu về nhà thương.
… Trúng nhằm ông Đốc Cần Thơ,
Bây giờ lại trúng Chánh tòa Bạc Liêu.
… Khá khen cây súng tài cao,
Người Nam không trúng, trúng nhằm người Tây…

Sáu Trọng

Sáu Trọng tên tục gọi của Lê Văn Trọng. Sau nhiều năm bỏ nhà đi hoang, Sáu Trọng trở về thăm quê và cưới Hai Đẩu một cô gái hàng xóm bán rong chè, cháo làm vợ. Hai người lên Sài Gòn sinh sống. Sau đó, Sáu Trọng đi làm bồi bàn cho hàng tàu Ăng-lê. Ở nhà, Hai Đẩu sanh tâm trắc nết, ngoại tình lăng nhăng, sau khi bỏ chồng cũ lấy viên ký lục người Pháp tên là Be-Bo. Hai Đẩu theo Be-Bo chuyển về Trà Vinh. Sáu Trọng tìm đến mong răn dạy vợ nhưng bị vợ vu oan là ăn trộm khiến anh phải ngồi tù 3 tháng. Ra tù, Sáu Trọng lại bị Hai Đẩu mướn tay anh chị là Năm Tị ám hại. Năm Tị cũng là dân giang hồ lãng tử, anh ta không giết Sáu Trọng và kể lại mọi chuyện Sáu Trọng nghe. Sáu Trọng liền xuống Trà Vinh giết chết người vợ phản bội, rồi nạp mình chịu án tử. Đoạn Sáu Trọng ung dung đến đầu thú với nhà cầm quyền:

… Sáu Trọng khí khái muôn vàn,
Thưa rằng nó đứa lăng loàn chẳng sai.
Nên tôi xé thịt phân thây,
Răn loài ác phụ sau này chừa đi…
… Trọng còn nói tiếng Lang Sa:
Quan trên dạy chém tôi mà đội ơn
Tử sanh lòng mỗ chi sờn,
Nào tôi có chịu kêu oan làm gì…

Truyện thơ là những áng văn chương dân gian mô tả những nhân vật “độc đáo” được sản sinh ra bởi chế độ thuộc địa, có số phận “công dân” hạng 2 chẳng vinh quang gì! Nội dung truyện thơ – ý ca ngợi những con người bình dân, khẳng khái, trọng nghĩa khinh tài, ân oán rạch ròi, sẵn sàng trừng trị những kẻ gian ác, phản trắc đi ngược lại luân thường đạo lý! Truyện thơ cũng hàm ý tố cáo xã hội thời đó với những tên quan lại thực dân ác ôn, dâm đãng thích rượu ngon gái đẹp, bọn chúng đã phá nát những tập quán, văn hóa bình dân đã bao đời ngự trị sau lũy tre làng, đấy cũng là bi kịch của một xã hội bị nô dịch bởi thứ văn hóa chuộng hình thức, lố lăng, hoàn toàn xa lạ với bản chất, truyền thống tốt đẹp của người Việt. Ngày nay, dưới ánh sáng của chế độ mới, thanh niên ta luôn được sự giáo dục, bồi dưỡng về mặt tinh thần của Đảng và Nhà nước, sống nhân văn, lành mạnh và lạc quan trong một xã hội phát triển vì quyền con người. Những thầy Thông Chánh, Sáu Trọng, Hai Miêng chỉ còn là những chuyện kể về những số phận nghiệt ngã dưới chế độ của bọn thực dân, phong kiến đã từng cai trị, đè đầu cưỡi cổ nhân dân ta. Và Cách mạng do Đảng của Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo đã giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ, lầm than, xây dựng cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc cho đến ngày hôm nay và mãi mãi muôn đời sau…

HOÀNG THÁM
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 37

Ý Kiến bạn đọc