Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Vài lời trao đổi cùng tác giả bài “Luận về cờ”

(Đăng trên tuần báo Văn Nghệ tp. Hồ Chí Minh, số 402, ngày 19-5-2016)

Tôi đã được đọc bài báo “Luận về cờ” của tác giả Nguyễn Văn Thịnh đăng trên Tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh (số 402, ngày 19-5-2016). Bài báo đưa cho tôi niềm vui, được biết thêm nhiều điều thú vị. Tuy nhiên, còn vài điểm tôi xin phép được trao đổi cùng ông Nguyễn.

Trước hết, xin nói về quốc kỳ.

Lá cờ đỏ sao vàng in trên báo, phía dưới in cờ búa liềm, không phải là Quốc kỳ của Việt Nam ngay từ Cách mạng tháng Tám. Đó là Quốc kỳ của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lá cờ này được chính thức xác nhận là Quốc kỳ của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp Quốc hội thống nhất năm 1976. Cùng với việc thay đổi Quốc kỳ, tên nước cũng đã đổi từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hai Quốc kỳ của hai giai đoạn lịch sử, khác nhau ở ngôi sao vàng. Ngôi sao của Quốc kỳ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam do năm đoạn thẳng nối nhau hợp thành. Vì thế cánh sao trông nhọn, khỏe. Còn ngôi sao của Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phải do năm đoạn thẳng nối nhau, nên từng cánh trông bầu bĩnh, đầy đặn.

Thứ hai, xin nói về bài Quốc ca của triều đình nhà Nguyễn thời Pháp thuộc. Xin phép được nói lan man một chút.

Anh-minh-hoa---Vai-loi-trao-doi-cung-tac-gia-bai-Luan-ve-co

Năm 1942, tôi là học trò lớp sơ đẳng trường Tiểu học kiêm bị Thịnh Xá, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh (École primaire complémentaire de Thinh Xa). Trường ở hai nơi. Khu vực chính gồm hai lớp: nhất và nhì anh. Giữa sân trường có cột cờ. Trên đỉnh cột có đóng một thanh ngang, để khi chào cờ thì cùng song song kéo lên hai lá cờ Tam tài và Long tinh. Khu vực thứ hai chỉ có một nhà. Trường dành cho lớp nhì em. Hai lớp sơ đẳng và dự bị thì học nhờ chùa và nhà thánh của làng Thịnh Xá.

Thầy Tống Trần Trinh, Hiệu trưởng (thời ấy gọi là quan đốc Trinh), trực tiếp dạy cho chúng tôi bài Long Vân ca. Thầy dạy, đây là Quốc ca của nước ta (thời ấy). Tôi còn nhớ, thầy đã nói: Quốc ca nước Pháp là bài Marseillaise. Quốc ca của ta là bài Long Vân ca.

Thầy Lê Đức Khâm, dạy lớp nhì anh, thì hướng dẫn chúng tôi hát thế nào cho đúng, cho hay. Ví như hai câu đầu (Kìa núi vàng… định phận) thì phải hát nghiêm trang, thành kính. Mấy câu tiếp sau phải hát mạnh mẽ, tươi vui. Hai câu cuối (Cố yêu nhau… thịnh trị) thì giọng nhỏ dần, trở lại thành kính, nghiêm trang…

Thứ hai nào trường cũng tổ chức lễ chào cờ. Ở khu vực chính, lớp nhất cùng lớp nhì anh hát bài Marseillaise. Khu vực phụ, lớp nhì em cùng lớp ba, lớp tư kéo về đó, hát bài Long Vân ca.

Vì trong nhiều năm hát bài Long Vân ca, nên đến tận bây giờ tôi vẫn thuộc lòng, và vẫn còn giọng để hát được từ đầu chí cuối. Trong trí nhớ của tôi, lời bài hát có chỗ khác với ông Nguyễn. Tôi xin chép lời mà mình thuộc ra đây và có đôi lời giãi bày:

Kìa núi vàng bể bạc. Có sách trời, sách trời định phận
Một lòng ta gầy non sông vững chắc  đã ba ngàn mấy trăm năm
Bắc Nam cùng một nhà,  con Hồng cháu Lạc
Văn minh đào tạo, màu gấm hoa càng đượm
Rạng vẻ dòng giống Tiên Long
Ấy công gây dựng từ xưa đà khó nhọc
Nhớ ơn dày nặng, lòng trung quân đã sẵn
Cố yêu nhau thương nhau một niềm
Nguyện nhà Việt muôn đời thịnh trị.

Lời bài hát này tuyệt đối không thể hát theo nhạc Đăng Đàn Cung.

Trong bài viết của ông Nguyễn có đoạn: “Người viết được nghe vị giáo sư lão thành khả kính, người gốc Huế, hát cho nghe một đoạn Quốc ca Đăng Đàn Cung như sau: “Kìa núi vàng biển bạc/ Đã có sách trời định phận/ Một lòng ta gây non sông vững chắc/ Đã ba ngàn mấy trăm năm/ Nước non cùng một nhà con Hồng cháu Lạc/ Văn minh đào tạo màu phấn hoa càng đượm/ Rạng vẻ dòng giống Tiên Long/ Ấy công gây dựng từ xưa đà khó nhọc…”.

Theo ông Nguyễn, đây là lời bản Quốc ca Đăng Đàn Cung. Đúng nó là lời bản Quốc ca triều Nguyễn. Nhưng nhạc của nó không phải là bản Đăng Đàn Cung. Nó có nhạc riêng.

Trước hết, xin có trao đổi về những chỗ khác nhau giữa đoạn Quốc ca vị giáo sư khả kính hát cho ông Nguyễn nghe, so với lời tôi đã chép ra ở phần trên. Nội dung những khác biệt này rất quan trọng:

1. Bản tôi ghi (tạm gọi là bản A), ở câu đầu tiên, lặp hai lần chữ sách trời. Lời hát của vị giáo sư khả kính (tạm gọi là bản B), chỉ là hai chữ đã có. Nó bớt đi một chữ. Tôi thấy từ lặp sách trời thể hiện cái khẳng định quyết liệt sự trường tồn của quốc gia. Nó còn nhấn mạnh Nam quốc sơn hà là thiêng liêng, là bất biến.

2. Câu thứ 3 của bản A: Bắc Nam cùng một nhà. Bản B: Nước non cùng một nhà. Ý chí chống chia cắt, chống đế quốc cướp Nam bộ, tách Nam bộ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, của câu 3 bản B không mạnh mẽ bằng lời bản A.

3. Câu thứ 4 của bản A: Màu gấm hoa. Câu 4 của bản B: Màu phấn hoa. Gấm hoa nói đến vẻ đẹp của non sông gấm vóc. Còn phấn hoa thì chỉ vẻ đẹp do tô vẽ bên ngoài, không nói lên được cái đẹp giàu sang, rực rỡ của Tổ quốc.

Bây giờ, xin phép được trao đổi vấn đề cũng rất quan trọng: Bản nhạc Đăng Đàn Cung có phải là Quốc thiều của triều Nguyễn không?

Đã có nhiều người cho Đăng Đàn Cung là Quốc thiều của triều Nguyễn. Phải chăng do bản nhạc này, trước đó đã được cử hành trong dịp vua Gia Long đăng quang, và sau này đã được dùng trong lễ lên ngôi của vua Bảo Đại?

Phải chăng vì bản này đã nhiều lần được tấu trong một số khánh tiết lớn nhỏ của triều đình?

Phải chăng do cụ Ưng Thiều, một vị trong hoàng tộc đã soạn lời “hiện đại” cho Đăng Đàn Cung? (Dậy dậy dậy mở mắt xem toàn châu/ Đèn khai hóa rạng khắp hoàn cầu…).

Vì thế mà người ta lầm Đăng Đàn Cung là Quốc thiều?

Xét cho đến nơi đến chốn, tất cả những sự việc trên vẫn chưa hội đủ điều kiện để Đăng Đàn Cung là Quốc thiều.

Trước hết, ta cần chú ý đến hiện tượng, trong các khánh tiết lớn nhỏ của triều đình, có rất nhiều bản nhạc được tấu, chứ không riêng gì bản Đăng Đàn Cung. Nhiều bản nhạc trước sau tấu lên để thêm trọng thể, chứ không có bản nào mang biểu tượng hoàng tộc hoặc quốc gia.

Vì, nếu là Quốc thiều, nó phải có một văn bản mang tính pháp quy của triều đình thừa nhận. Cái này Đăng Đàn Cung không có.

Còn nữa, nếu là Quốc thiều thì Đăng Đàn Cung phải có phần lời chính thức, mang tính điển lễ. Lời này sẽ là Quốc ca. Điều này Đăng Đàn Cung cũng không có. Lời bài Quốc ca đã ghi ở phần trên không phải và không thể là lời bản Đăng Đàn Cung.

Đăng Đàn Cung chỉ là một bản nhạc cung đình trong nhiều bản nhạc cung đình. Cũng như nhiều bản nhạc lễ khác, nó đã dần dần đi vào dân gian. Vì thế, người đương thời khá tự do trong việc đặt lời cho Đăng Đàn Cung.

Xin nêu ra một trong số những lời đương thời:

Này bạn này mạnh bước trông về xa
Cùng nghe tiếng gọi tiến lên đường
Mà bao vĩ nhân anh hùng đi chinh phục đã trải ngày xưa
Kìa Trưng nữ, nọ Đinh Tiên Hoàng
Còn in dấu chân gió bụi trên đường thẳm mờ
Noi gương cũ còn lưu, ta cùng một lòng
Ta mạnh bạo cười vui, thẳng tiến lên thành công.

Vì bao lúc bạn đã mơ màng
Trông mong nước Nam cường thịnh và oanh liệt như những thời qua
Cùng chiến đấu bền vững một lòng
Vùi thân hiến cho nghĩa vụ vẻ vang nặng nề
Dù bao sự gian nguy, khiến lòng ngại ngùng
Ta hy vọng tương lai, thẳng tiến lên thành công.

Cùng xây đắp lại cõi sơn hà
Thì ta gắng công rèn luyện, thân càng mạnh và chí càng kiên
Và gìn giữ một mảnh tâm hồn
Ngày qua luôn luôn trong sạch, không vương bụi trần
Ta mạnh bạo cười vui, không lòng ngại ngùng
Ta hy vọng tương lai, thẳng tiến lên thành công.

Chúng tôi không tìm thấy tài liệu nào nói nội các Trần Trọng Kim định lấy nhạc Đăng Đàn Cung soạn lời làm Quốc ca. Nhưng chúng tôi biết thời chính phủ Trần Trọng Kim, do chưa có Quốc ca chính thức nên người ta lấy nhạc của bài Tiếng gọi sinh viên của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, đặt lời mới, lấy tên là Tiếng gọi thanh niên, tạm làm Quốc ca. Trước đó không lâu, bài hát này đã được tổ chức Thanh niên tiền phong, lấy làm bài hát chính thức.

Trở lại bài Long Vân ca, Quốc ca chính thức của triều Nguyễn.

Nội dung bài hát có nhiều chỗ cần được lịch sử ghi nhận:

1. Lời bài hát khẳng định sự trường tồn của Việt Nam. Giữa lúc nước ta đang bị đô hộ, các quốc hiệu từ xưa đều bị xóa bỏ. Đất nước bị cắt rời, chỉ còn là những bộ phận của cái xứ Đông Dương thuộc Pháp. Nhưng Long Vân ca đã lấy ngay tứ bài thơ thần từng vang dội trên sông Như Nguyệt trong cuộc kháng Tống, để khẳng định sự trường tồn của đất nước. Nam quốc sơn hà, núi vàng biển bạc của ta, là thiêng liêng, muôn đời không thể đổi thay, vì đã được khẳng định trong sách trời.

2. Lời bài hát khẳng định Việt Nam là một đất nước thống nhất, trọn vẹn. Bọn đô hộ chia nước ta ra ba phần, với ba chế độ cai trị khác nhau. Nam bộ thì bị cắt hẳn làm thuộc địa của chúng, ở đó triều đình mất toàn bộ chủ quyền. Nhưng Long Vân ca phản bác sự việc đó. Bài hát khẳng định “Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc”.

3. Lời bài hát khẳng định người Việt chúng ta là một dân tộc văn minh. Thực dân cho chúng ta là một dân tộc bán khai, cần có sự dạy bảo mở mang của chúng. Nhưng Long Vân ca chỉ rõ, dân tộc ta, dòng giống con Rồng cháu Tiên, đã có ba nghìn mấy trăm năm lịch sử oai hùng vẻ vang, có nền văn minh riêng.

4. Sau hết, Long Vân ca kêu gọi toàn dân đoàn kết: Cố yêu nhau thương nhau một niềm, để cùng nguyện đưa đất nước đến muôn đời thịnh trị.

5. Trong hoàn cảnh bị đô hộ, nhưng toàn bài hát, không có một chữ nào, một ý nào, xa cũng như gần, ca ngợi mẫu quốc Đại Pháp. Ngược lại, nó đã khơi gợi lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Một cách kín đáo, nó kêu gọi mọi người đứng lên cứu nước. Vì, chỉ có giành được quyền tự chủ, nhà Việt mới có thể muôn đời thịnh trị.

Có thể nhiều người còn băn khoăn với câu “Nhớ ơn dày nặng, lòng trung quân đã sẵn”. Nghĩ về chế độ phong kiến, ấn tượng trong đầu óc số đông người hiện thời, là nó lạc hậu, nó bảo thủ, nó phản động. Chính quyền quân chủ đã như thế, sao bài hát lại khuyên người ta trung quân!

Chỗ này cần ngẫm nghĩ cả bề rộng lẫn bề sâu của hiện tượng.

Chúng ta đừng quên, Long Vân ca là Quốc ca của một quốc gia phong kiến, lúc bấy giờ tạm thời bị mất nước. Nhưng trước đó, nó đã có ngót nghìn năm độc lập. Suốt thời kỳ độc lập, hệ tư tưởng chính thống, nhằm xây dựng nền tảng tư tưởng cho quốc gia, là Nho giáo, nhập từ Tàu sang. Tam cương, ngũ thường là rường cột của Nho giáo. Tam cương là Quân, Sư, Phụ. Quân đứng đầu tam cương.

Quân tiêu biểu cho quốc. Bởi vậy, trung quân, gắn liền với ái quốc. Hình ảnh vua là hình ảnh của đất nước, đã thành nếp nghĩ của người Việt ta thời phong kiến, nhất là trong tầng lớp sĩ phu. “Nam quốc sơn hà, Nam đế cư”.

Lại nữa, khi nói đến trung quân, người ta chỉ nghĩ đến trung với các vị minh quân, đã đưa ấm no cho bách tính, đã làm rạng rỡ giống nòi. Đó là các vị hoàng đế như Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông… Không bao giờ người xưa bảo phải trung với lũ hôn quân bạo chúa. Vậy trung quân là có điều kiện. Triều đình và tướng sĩ đời Tiền Lê đã đồng thanh phế bỏ con của Lê ngọa triều, tôn tướng quân Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế. Các triều đại kế tiếp và sĩ phu Đại Việt coi việc này là hợp lẽ trời.

Trong tình cảnh đất nước đang bị đô hộ, ba vị anh quân, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, vì hoạt động cứu nước đã bị bọn thống trị lưu đày. Nếu chấp nhận suy nghĩ của người xưa, thì trung quân trong lời ca có ý nghĩa tích cực. Phải chăng nó kín đáo kêu gọi mọi người phải nhớ Ơn dày nặng của nước, phải tỏ lòng trung quân là hành động yêu nước, phải đoàn kết Cố yêu nhau thương nhau một lòng, để đất nước trở lại độc lập, tự do, nhà Việt muôn đời thịnh trị.

Có mấy suy nghĩ nông cạn, kính xin trao đổi cùng các bạn gần xa.

Đinh Nho Hoan
(Giáo viên hưu trí, xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 421

Ý Kiến bạn đọc