Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Và sự phản bội

Không thể chặt đôi con người Nguyễn Bình Phương. Rằng khi duyệt bài vở cho số Tạp chí mới hoặc khi họp giao ban ở Tổng cục Chính trị thì là Đại tá Tổng biên tập Tạp chí VNQĐ. Còn khi sáng tác thì là nhà văn tự do tung tẩy Phương này không dính gì đến Phương kia. Một nhà văn có lương tri, có lòng tự trọng, tôn trọng bạn đọc không nên ứng xử lập lờ hai mặt. Cùng một tác phẩm nhưng gửi lưu hành ở nước ngoài với tựa đề khác. Như đánh đố nhau. Bản lưu hành ở nước ngoài mang tựa đề Xe lên xe xuống được Thụy Khuê hết lời ca ngợi trong bài viết tại Paris ngày 20-10-2011. Bản in ở trong nước năm 2014, mang tựa đề Mình và Họ, được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải thưởng năm 2015. Đương nhiên Phạm Xuân Nguyên cũng hết lời ca ngợi.

Xem bài của Thụy Khuê thì chỉ khác nhau cái tựa đề. Còn nội dung là một. Đáng nói là Thụy Khuê hết lời đề cao Nguyễn Bình Phương xem nhà văn này có chỗ còn cao tay hơn cả Lỗ Tấn (!) và đặc biệt khai thác triệt để tư tưởng của Nguyễn Bình Phương: Tất cả là thổ phỉ. Chất phỉ là chất của người Việt nguyên thủy mà văn hóa chặt chém trong ẩm thực hay trong cuộc đời hôm nay là một hệ quả lịch sử.

Vấn đề này ở bài trước – Không thể phân biệt – VN TP.HCM số 423 ra ngày 13-10-2016, chúng tôi đã nói về sự xuyên tạc lịch sử của Nguyễn Bình Phương. Quá khứ, hiện tại; huyền thoại – hiện thực; thực dân Pháp – Việt Minh, Cách mạng, quân đội ta và quân xâm lược bành trướng… Thường dân đến quan chức… đều là thổ phỉ. Điều đáng lưu ý là Thụy Khuê đã đẩy sự xuyên tạc đó lên thành một thực tại lịch sử hiện hữu: Một xã hội bị niêm phong, khép kín, bị thiến mất tư tưởng; một xã hội tập thể, con người phải sống trong đời sống đội ngũ mất hết danh vị cá nhân; một xã hội nặc danh thả dàn cho tội ác… nền tảng đầu tiên của mỗi con người là gia đình đã bị hủy diệt vì không người mẹ nào muốn con trải qua nền giáo dục tinh thần chiến thắng… Một xã hội bạo lực từ cổ điển đến hiện tại áp chế con người… Đến mức thế hệ trẻ không ý thức được tội ác trước khi lìa đời!

Bia-sach-Minh-va-Ho

Thủ pháp của Nguyễn Bình Phương và Thụy Khuê là cắt xén lịch sử với giọng triết lí để xóa nhòa ranh giới và bản chất của các loại bạo lực. Cần phải xem xét.

Lịch sử nhân loại cho đến hôm nay vẫn là lịch sử của bạo lực, của các loại bạo lực. Tuy rất nhiều hình thức, chung qui chỉ có hai: Bạo lực phi nghĩa và bạo lực chính nghĩa. Bạo lực của kẻ cướp, của thực dân đế quốc phát xít như Thế chiến II… Và bạo lực của những người không chịu làm nô lệ, quyết đứng lên bảo vệ quyền sống, sự sống của mình bằng mọi giá: Thà hi sinh tất cả! Quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ! (Hồ Chí Minh). Nguyễn Trãi đã nêu lên trong Cáo bình Ngô (thế kỷ XV): Việc nhân nghĩa trước hết là trừ bạo yên dân. Dân tộc Việt Nam không chịu làm nô lệ đã quyết chống lại kẻ giặc ngoại xâm, từ Hai Bà Trưng (năm 40, đầu Công nguyên) đến nay. Đó là bạo lực chính nghĩa. Là rõ ràng như Trắng với Đen (Thu Tứ). Xóa nhòa ranh giới, bản chất bạo lực cách mạng với bạo lực phi nghĩa, kẻ cướp… là sự gian lận với ý đồ rất xấu. Bởi những con người như nhà văn – đại tá Nguyễn Bình Phương không phải thiếu khả năng tư duy và sử liệu để nhận ra điều đó.

Hãy xem họ luận về khoái cảm chặt chém từ ẩm thực đến lịch sử: Văn hóa chặt chém đã thấm vào máu, nằm trong mâm cơm: dân ta mải chặt mà quên sống (Thụy Khuê. Cuộc chiến Việt – Trung trong Xe lên xe xuống, tác phẩm của Nguyễn Bình Phương hay bản Chúc thư trên đỉnh Tà Vần. Paris 20-10-2011).

Sao lại nhắm mắt trước lịch sử như thế?

Thời đại đồ đá, con người sáng tạo nên những mảnh tước, rìu đá…

Thời đại đồ sắt, cho đến hôm nay, con người đã sáng tạo ra vô vàn khí cụ. Nhờ đó mà nghề mộc đã trở thành một nghệ thuật, dựng nên những đền đài cung cấm được xem là di sản văn hóa nhân loại – Cung đình Huế chẳng hạn.

Đương nhiên thiết thực, từ rất sớm nó được ứng dụng vào đời sống, vào bát cơm manh áo. Người đồ tể trong kinh Tứ niệm xứ hay Trần Bình chia thịt (Cổ văn Trung Hoa) là những ví dụ. Con người không phải là con trăn, dù là người cổ đại hay hiện đại, Đông hay Tây… đều không thể ăn một miếng hết cả con trâu con lợn. Tất phải phân ra từng miếng nhỏ cho vừa khẩu độ. Dân nào cũng phải thế.

Cho đến hôm nay, dụng cụ nhà bếp của người Tây thực ra là nhiều hơn người Việt. Người Việt chỉ một con dao pha nhưng người Tây thì nào là các loại dao, kéo, thìa, nĩa…

Người Tây không chặt chém bày ra mâm nhưng họ dùng dao ăn, fuốc xét… tùng xẻo từng miếng trên bàn ăn. Ai hơn kém ai. Công cụ thời đại đồ đồng đồ sắt. Đương nhiên cũng được dùng trong quân sự, trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Khi chưa có súng thì gươm giáo là hiện đại. Máy chém là phát minh của một bác sĩ người Pháp… Không chặt chém nhưng dùng hơi độc, lò thiêu, bom nguyên tử, thuốc độc, chuồng cọp, địa ngục chín hầm; dùng súng cá nhân tàn sát cả một làng như Sơn Mỹ (Quảng Ngãi)… nó có cảm hứng từ đâu?

Mỗi thời đại có những công cụ phương tiện và việc sử dụng phương tiện đó. Vấn đề là ở bản chất của sự sử dụng. Nguồn gốc của giải Nobel? Hai tay nâng khẩu súng dài/ Ngắm đi ngắm lại bắn ai thế này? (Ca binh lính – Hồ Chí Minh).

Nếu một đại tá quân đội mà không biết cầm khẩu súng hướng vào đâu thì quân đội đó còn có ý nghĩa gì?

Nếu “Nguyễn Bình Phương đã tiến thêm một bậc: chiến tranh nghiền nát tất cả tình yêu chỉ để lại tội ác, không cho con người một hy vọng nào. Bình Phương chiếu ống kính vào tội ác của một dân tộc được giáo huấn thường trực trong các bài học chiến thắng và anh hùng, mà bản chất sâu xa chỉ là thổ phỉ. Chiếu vào hậu quả của các chiến thắng từ thời Lý, thời Tây Sơn – Gia Long, đến thời Cách Mạng – Thổ Phỉ, cuộc chiến Việt – Trung…” (Thụy Khuê, bài đã dẫn).

Thì đó là một câu hỏi, một vấn đề khẩn thiết phải được đặt ra. Phải được giải quyết. Bởi nó quan hệ đến sự tồn vong của đất nước từng giờ từng phút.

Bản chất người Việt là thổ phỉ, là mải chặt chém đến quên sống, ham thích bạo lực, hiếu sát chăng?

Có phải Nguyễn Trãi đã viết: Thể lòng trời bắt sát ta đã mở đường hiếu sinh (Bình Ngô đại cáo).

Gần hơn là Quang Trung Nguyễn Huệ, dẫu đại thắng vẫn xưng thần, cầu phong, triều cống… Cốt để giữ sự hòa hiếu, tránh sự binh đao, bởi đấy không phải là cái đức của thiên hạ.

Năm 1946, Hồ Chí Minh cố hết sức tìm con đường hòa bình với Pháp.

Năm 1965, Hồ Chí Minh sẵn sàng trải thảm đỏ cho người Mỹ rút khỏi Việt Nam.

Tháng 2-1979, lại buộc phải cầm súng…

Một đất nước độc lập thống nhất hòa bình. Một làng quê thanh bình. Một mái nhà yên bình để sống, để xây dựng và yêu thương. Hòa bình trong bình đẳng với mọi quốc gia dân tộc… Đó là khát vọng của người Việt Nam từ đầu Công nguyên, từ trận Bạch Đằng (938) đến ngày 30-4-1975 mới thành quả được. Xóa nhòa ranh giới, bản chất của Thiện – Ác, Chính – Tà, chính nghĩa và phi nghĩa… Đó là sự phản bội lại lí tưởng cách mạng, phản bội lại sự nghiệp của cả dân tộc trải qua hơn ngàn năm nay, với bao công sức, máu xương… Những sáng tác như Mình và Họ, Nỗi buồn chiến tranh, Miền hoang, những hoạt động như của Nguyên Ngọc (Quĩ Văn hóa Phan Châu Trinh) hay Phạm Xuân Nguyên (Hội Nhà văn Hà Nội) làm vừa lòng, vui lòng những thế lực thù địch nhưng sẽ làm nản lòng những người đã, đang và sẽ phải bảo vệ nền độc lập, thống nhất cho đất nước này. Đó là vấn đề không thể mơ hồ, đang đặt ra cho bạn đọc, cho những người, những cơ quan có trách nhiệm quản lí văn hóa văn nghệ, quản lí đất nước.

Ai cũng biết Thụy Khuê là nhân vật chống Cộng khét tiếng. Được Thụy Khuê hết lời khen ngợi thì cũng cần phải xem lại. Vì đã có kinh nghiệm. Như vị giáo sư nọ sang Paris được Thụy Khuê đón về nhà cả tháng. Khi về nước thì viết Hồi ký như thế nào cho đến tận hôm nay!

Hà Nội, tháng 10-2016

Nguyễn Văn Lưu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 425

Ý Kiến bạn đọc