Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Tưởng nhớ nhà văn hóa Phan Ngọc

 

Một nhà văn hóa lớn mới qua đời: Giáo sư Phan Ngọc, sinh năm 1925, quê Yên Thành – Nghệ An, vừa từ trần ngày 28-6-2020, thọ 95 tuổi. Ông thông thạo tiếng Latin, tiếng Hán, các thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức và một số tiếng Đông Nam Á, phần lớn là tự học. Ông đã dịch Tuyển tập kịch Sếch-xpia (dịch chung), Chiến tranh và hòa bình (dịch chung), Sử ký Tư Mã Thiên, Hàn Phi Tử, Heghen (Mỹ học), Đêvít Côpophin… Biên soạn nhiều công trình về từ điển, ngôn ngữ học và văn hóa học. Ông đặc biệt chú ý đến văn hóa Việt Nam. Năm 2013, NXB Văn hóa – Thông tin tái bản cuốn Nền văn hóa mới của Việt Nam. Trong năm 2018, NXB Thế giới và Công ty mega đã xuất bản hai công trình quan trọng: Một thức nhận về văn hóa Việt Nam và Sự tiếp xúc của văn hóa Việt Nam với Pháp. Số lượng công trình của ông có đến hàng chục tác phẩm. Có tác phẩm được in lại nhiều lần như Sử ký Tư Mã Thiên. Ông là cộng tác viên lâu năm, được tin cậy và kính trọng của NXB Văn học. Để thiết thực tưởng nhớ công lao và những nét lớn về tài năng của ông, chúng tôi trân trọng giới thiệu với bạn đọc công trình Sự tiếp xúc của văn hóa Việt Nam với Pháp, xuất bản năm 2018. Cuốn sách ngắn gọn, chỉ có 18 trang khổ 14×20,5cm nhưng chứa đựng những nội dung quan trọng, rất quý giá trong tình hình hội nhập toàn cầu, giao lưu văn hóa hiện nay. Những người đang hoang mang lúng túng hay chủ quan vọng ngoại có thể tìm thấy ở đây những giải đáp thấu tình đạt lý.

So-618--Tuong-nho-nha-van-hoa-Phan-Ngoc---Anh-1

Trong lịch sử, văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp của ba nền văn hóa lớn nhất nhân loại rồi sau đó chuyển sang quan hệ giao lưu bình đẳng. Đó là văn hóa Trung Hoa trong khoảng 1.000 năm, cho đến khi văn hóa Pháp trực tiếp chiếm ưu thế, vào đầu thế kỷ XX, khi thi chữ Hán bị bãi bỏ (1919). Văn hóa Pháp, từ khi Pháp chiếm Nam kỳ làm thuộc địa (1861), cho đến Cách mạng Tháng 8-1945. Văn hóa Nga – Xô viết, từ trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt sôi nổi từ sau 1954 cho đến 1991, cùng với sách báo được chuyển ngữ là tiếng Nga được dạy trong nhà trường và học sinh Việt Nam được gửi sang đào tạo ở Liên Xô cũ. Nhưng tại sao nhà văn hóa Phan Ngọc lại chọn nghiên cứu quan hệ văn hóa Việt – Pháp. Đây là điều rất thú vị. Theo GS. Phan Ngọc thì văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa là đồng chất thuộc phạm trù phương thức sản xuất châu Á (Marx). Vì thế, tuy Nho giáo Việt Nam có nhiều điểm khác với Nho giáo Trung Hoa, nhưng đại thể, văn hóa Việt Nam do dùng văn tự của Trung Hoa – chữ Hán – học nội dung của văn hóa đó – Nho giáo – vẫn chỉ là bản sao, là hình bóng của văn hóa đó. Nội dung học vẫn là Tứ thư, Ngũ kinh. Cách học vẫn là bình văn, tập văn. Thi cử thì vẫn chọn chủ đề trong Bắc sử hay Nam sử… Chủ yếu là vấn đề con người trong xã hội: Tu – Tề – Trị – Bình, Tam cương, Ngũ thường, Kinh bang tế thế v.v… Tuy ảnh hưởng của Nho giáo vẫn còn cho đến ngày nay thể hiện trong nhiều mặt của đời sống xã hội, nhất là trong giáo dục (nhiều Thầy ít thợ, lấy bằng cấp làm tiêu chuẩn tuyển chọn v.v…), nhưng người Việt Nam đã Việt Nam hóa được Nho giáo Trung Quốc. Nho giáo Việt Nam từ Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và kết tinh cao nhất ở Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Với văn hóa Pháp, người Việt Nam cũng đã Việt Nam hóa được, tuy chưa trọn vẹn, cho đến 1945. Trước hết là chữ quốc ngữ. Từ chỗ là công cụ của nhà thờ nhằm Ki-tô hóa người Việt Nam đến công cụ có tính chất bắt buộc của thực dân Pháp nhằm đồng hóa người Việt Nam theo văn hóa Pháp đồng thời là công cụ quản lý xã hội. Năm 1910, Pháp qui định – ở Nam kỳ thuộc địa – phải dùng chữ quốc ngữ trong nền hành chính. Ở Bắc kỳ bãi bỏ thi chữ Hán vào năm 1915 và ở Trung kỳ vào năm 1919. Người Việt lúc đầu chống lại chữ quốc ngữ. Có người tìm cách cải tiến chữ Hán theo âm Hán – Việt thành thứ chữ mới cho người Việt như Nguyễn Trường Tộ. Nhưng cuối cùng, tầng lớp trí thức Nho giáo tiến bộ nhận thấy chữ quốc ngữ là thứ chữ dễ tiếp thu, phổ biến và trong thực tế đã bị người Pháp bắt buộc phải dùng, nên đã trở lại dùng chữ quốc ngữ vào mục đích dân tộc. Phong trào bắt đầu từ miền Trung, lan ra Bắc kỳ với trường Đông Kinh nghĩa thục (1908). Cụ Phan Châu Trinh là linh hồn của phong trào này. Đến 1938, Đảng Cộng sản nhận thấy sự cấp bách phải phổ biến chữ quốc ngữ cho nhân dân nên đã vận động thành lập Hội phổ biến chữ quốc ngữ, mời học giả nổi tiếng cả Tây học lẫn Hán học là Cụ Nguyễn Văn Tố – nguyên chuyên viên của Trường Viễn Đông Bác Cổ – làm Hội trưởng. Nhưng phải đến khi đất nước được độc lập, sau 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra chủ trương cấp bách chống ba thứ giặc: giặc ngoại xâm, giặc đói và giặc dốt, thành lập Nha Bình dân học vụ mà Giám đốc đầu tiên là nhà giáo yêu nước Nguyễn Công Mỹ, em ruột nhà văn Nguyễn Công Hoan, anh ruột nhà cách mạng Lê Văn Lương tức Nguyễn Công Miều – nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội – Liệt sĩ Nguyễn Công Mỹ hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Thân mẫu, vợ và con gái cũng bị bom của thực dân Pháp giết chết (Xem Lê Minh. Nguyễn Công Hoan – nhà văn hiện thực xuất sắc. NXB Thanh niên. H.2003).

Từ đây trở đi, chữ quốc ngữ trở thành ngôn ngữ chính thức của quốc gia. Sau chữ viết là quá trình tiếp thu chủ nghĩa duy lý của nền văn hóa Tây phương với ba tính chất quan trọng: tính phân tích, tính duy lý, tính phê phán mà văn hóa Nho giáo không có được.

GS. Phan Ngọc chỉ mới khảo sát quá trình tiếp xúc của văn hóa Việt Nam với Pháp đến 1940. Nguyên nhân dẫn đến thành công của quá trình Việt hóa trên tất cả các lĩnh vực, từ Phật giáo, Nho giáo cho đến văn hóa phương Tây, theo GS. Phan Ngọc, đó là:

“… trong việc tiếp thu tư tưởng từ ngoài vào, Việt Nam đã không bỏ mất bản sắc văn hóa của mình, do đó các tư tưởng dù là Khổng giáo, tư tưởng tư sản Pháp, tư tưởng vô sản đều trải qua một độ khúc xạ (L.N nhấn mạnh). Không phải ngay lập tức Việt Nam đã tìm được độ khúc xạ đúng. Nhưng cuối cùng đã tìm được. Và khi đã tìm được thì đạp bằng mọi trở lực. Vĩ đại thay đất nước ấy. Việt Nam” (Sự tiếp xúc của văn hóa Việt Nam với Pháp. NXB Khoa học xã hội và Omega+. H.2018. Trg.84).

Điều rất thú vị, có giá trị nghiên cứu rất cao là GS. Phan Ngọc đã khảo sát sự tiếp thu Khổng giáo của Hồ Chí Minh, tức là đã tìm ra được độ khúc xạ có giá trị phương pháp luận: “Đây là độ khúc xạ cho phép chủ nghĩa Marx – Lenin sẽ còn chiến thắng trên dải đất chữ S mà nó đã chiến thắng. Đây là bảo vệ tính trong sáng của chủ nghĩa Marx – Lenin đầy sáng tạo” (Phan Ngọc. Sự tiếp xúc… Sđd. Trg.83).

Đó là niềm tin có cơ sở khoa học vào chủ nghĩa Marx – Lenin – Hồ Chí Minh. Nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với khoa học xã hội và nhân văn hiện nay. Trong khi các giáo sư đầu ngành về văn học như Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà v.v… Các nhà văn như Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Hoàng Ngọc Hiến v.v… Các giáo sư sử học như Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng v.v… tỏ ra đã sụp đổ niềm tin vào chủ nghĩa Marx – Lenin – Hồ Chí Minh, một sự sụp đổ theo hiệu ứng domino chứ không phải từ tự thân nhận thức, bởi họ không đưa ra được cơ sở khoa học vững chắc cho tư tưởng của họ. GS. Phan Ngọc có đưa ra một chi tiết độc đáo và sâu sắc: toàn bộ tư tưởng của Khổng Tử tựu trung ở chữ Thời. Chữ Thời ở đây nghĩa là phải hành động phù hợp với hoàn cảnh xã hội, tình huống cụ thể. Phải uyển chuyển, không cứng nhắc, máy móc. Câu danh ngôn của Khổng Tử được truyền tụng đến nay là Dĩ hòa vi quý tùy thời chấp trung. Cụ Hồ nói: Dĩ bất biến ứng vạn biến. Nếu chỉ biết “đẽo cày giữa đường”, “ôm cây chờ thỏ”… thì không thành tựu được gì cả (*).

Thực ra, như chính GS. Phan Ngọc cho biết thì từ thời Mạnh Tử, thầy Mạnh cũng đã cho Khổng Tử là “ông Thánh của chữ Thời” (Sđd. Trg.78). Thiệu Ung đời Tống cũng cho rằng 64 quẻ trong Kinh Dịch tựu trung lại cũng chỉ ở một chữ Thời (Dịch Kinh lục thập tứ quái nhất ngôn dĩ tế chi, viết: Thời. Theo dịch giả Ông Văn Tùng).

“Để hiểu chữ Thời phải có chữ Trí. Nhưng chữ Trí này không hề có tính chất cơ hội mà xuất phát từ một nguyên lý bất biến”. Bác nói:

“Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”. Điều mà mình không muốn thì đừng làm với người khác. Triết lý phương Tây quả đã có một câu đúng từng chữ trong triết lý đạo Khổng: “Ne fais à autrui ce que tu ne voudrais pas qu’on te fit” (Phan Ngọc… Sđd. Trg.78).

Điều này rất có ý nghĩa, nói chung, và đặc biệt là với các nhà học giả ưa… vọng ngoại!

Một công trình khác cũng có ý nghĩa quan trọng của GS. Phan Ngọc là Một thức nhận về văn hóa Việt Nam, bản in lần thứ ba, NXB Khoa học xã hội và Omega+. H.2018, chúng tôi sẽ giới thiệu sau.

Chúng tôi rất kính trọng GS. Phan Ngọc ở hai điều sau:

- Bằng con đường tự học mà ông đã đạt đến học vấn rất cao: “… một kho tri thức khổng lồ. Ông gần như thông thạo cả nền văn hóa nhân loại, từ cổ đại cho đến hiện đại” (Hồn Việt số 152, tháng 10-2020). Ông thông thạo các thứ tiếng Latin, Anh, Pháp, Đức, Nga, Hoa… Đã dịch được những tác giả cổ điển của nhân loại sang tiếng Việt. Thật đáng khâm phục!

- Dù là con nhà đại quan, thân phụ là cụ Phan Võ từng làm Thượng thư dưới triều Nguyễn nhưng ông đã từ bỏ cái học cũ, tiếp cận với tư duy mới của văn hóa châu Âu mà văn hóa Pháp là tiêu biểu. Nhờ vậy, ông đã tiếp cận được học thuyết Marx – Lenin và tin tưởng vững chắc trên cơ sở khoa học. Điều đáng quí hơn là từ văn hóa Âu – Tây, từ chủ nghĩa Marx – Lenin, ông đã trở lại tìm hiểu nền văn hóa dân tộc, nhận ra những giá trị quý báu của truyền thống văn hóa dân tộc cũng như những hạn chế của nó trên con đường xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là đôi dòng tóm tắt về công trình Một thức nhận về văn hóa Việt Nam.

GS. Phan Ngọc là tấm gương sáng ngời về lao động khoa học, về niềm tin vào chân lý khi đã tìm thấy cơ sở khoa học, và một lòng yêu quý vô biên đối với Tổ quốc, dân tộc và văn hóa dân tộc.

Chúng tôi xin lỗi trước anh linh GS. Phan Ngọc. Vì thực ra, trên danh chính ngôn thuận, ông mới được phong học hàm Phó Giáo sư năm 1992 và Giải thưởng Nhà nước về Khoa học công nghệ năm 2001. Nhưng chúng tôi thấy ông xứng đáng là bậc thầy của nhiều giáo sư thực thụ khác.

Hà Nội, tháng 10-2020

Lưu Nguyễn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 618

——————————
(*) Xưa có người thấy con thỏ chạy đâm đầu vào gốc cây, anh ta bắt được con thỏ. Từ đó, hôm nào cũng ra canh gốc cây chờ bắt thỏ, nhưng không được nữa. Anh ta vẫn cứ chờ, cho đến chết (Tích cổ bên Trung Quốc. Nguyễn Du có sử dụng trong Truyện Kiều, câu 328).

Ý Kiến bạn đọc