Tản văn

Tưởng nhớ một người bạn quí

Tôi Vẫn Luôn Nhớ Về Anh, Anh Lê Văn Diện, Tức Ký Giả Lương Ngọc, Quê Quán Ở Lương Hòa Lạc Thuộc Tỉnh Tiền Giang. Trong Thời Chống Mỹ, Ở Nội Thành Sài Gòn – Bấy Giờ Là Thủ Đô Ngụy Quyền – Tôi May Mắn Có Được Nhiều Bạn Quí Ở Trong Làng Báo, Nhưng Chưa Người Nào Uyên Bác, Đa Tài, Có Trí Thông Minh Mẫn Tiệp, Cùng Một Nghị Lực Phi Thường Và Quan Niệm Sống Khác Biệt Như Anh. Những Gì Rất Thực Tôi Viết Về Anh, Ở Trong Bài Này, Không Chỉ Để Tưởng Nhớ Lại Một Người Trí Thức Việt Nam Tiêu Biểu Với Các Đặc Điểm Một Thời Của Những Di Dân Không Ngừng Tìm Hiểu, Vươn Cao Trên Vùng Đất Mới, Nhưng Còn Mong Rằng – Qua Bài Viết Này – Một Số Bạn Đọc Xa, Gần Có Thể Cho Tôi Thêm Những Tư Liệu Về Cuộc Đời Anh Và Về Gia Đình Của Anh Sau Khi Anh Lìa Cõi Đời.

Sau khi Diệm đổ được chừng vài năm thì tôi gặp anh trong những hoạt động báo chí nội thành. Thoạt đầu, thấy anh có cái dáng vẻ là người tầm thường, thuộc loại bất tài và ít kiến thức. Về sau, tôi có cơ hội để tự nhủ rằng những người có hiểu biết rộng và nhiều tài năng thường có dáng vẻ là người tầm thường.

Một lần, thấy anh ngồi dịch thoăn thoắt một bài nghiên cứu trong tạp chí Pháp ra tiếng Việt mà không cần đến tự điển, tôi hơi ngạc nhiên. Nhưng một hôm khác, anh lại dịch từ tiếng Anh, cũng dễ dàng như thế. Thấy tôi đứng nhìn, anh nói: “Tiếng này là ngôn ngữ phổ thông, không biết sử dụng sẽ hạn chế mình nhiều”. Tôi chỉ thực sự ngạc nhiên khi anh đọc báo chữ Hoa và nói tiếng Hoa như một “xì thẩu” chính hiệu. Anh lại biện bạch: “Ở ngay sát nách một nước khổng lồ cỡ đó, suốt mấy ngàn năm va chạm rồi lại hòa hiếu mà không hiểu biết ngôn ngữ của họ, chỉ tổ thiệt hại cho mình”. Khi tôi nói lời thán phục, anh đáp giản dị:

- Có gì mà khen. Thiên hạ có nhiều người biết đến cả chục thứ sinh ngữ. Có người đến vài ba chục, còn tôi thì nhằm nhò gì. Vấn đề là có chịu ngồi lại học hay muốn đi chơi, tán dóc, nhậu nhẹt. Chúng ta nói chuyện học tập Bác Hồ nhưng có khía cạnh tôi thấy Bác có thẩm quyền mà lại nhìn xa mà ít nghe đề cập đến, là thành thạo nhiều ngoại ngữ.

Theo anh, dân tộc chúng ta có một cái thiếu và một cái thừa, thảy đều trầm trọng. Cái thiếu, là vốn kiến thức mới nhất của toàn nhân loại. Tri thức của ta không nhiều, một số lại học từ chương, một số học gạo, một số học cũ. Cái thừa, là xã hội nghèo mà quá lãng phí, trước hết hãy nói về thứ tài sản vô giá, đó là thì giờ.

Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó, anh đã tìm đủ mọi cách để mà học hỏi. Khi học ở trường Mỹ thuật Gia Định, anh là sinh viên xuất sắc. Anh lại theo đuổi kiến trúc song song và cũng là người thiết kế vào loại ưu hạng. Anh cũng đồng thời nghiên cứu cặn kẽ ngành trồng trọt và chế biến cao su, còn dành thì giờ nghiên cứu về địa chất, thủy lợi và cả y khoa… Không có ngành nào mà anh chịu thi để lấy mảnh bằng. Anh chỉ ham được hiểu biết, không mất thì giờ cho việc thi cử, cốt tích lũy cho được nhiều kiến thức. Anh tâm sự: “Người Việt mình còn nỗi đói khát lớn – đói khát kiến thức khoa học”. Và anh thể hiện phần nào được sự bức xúc trong việc thỏa mãn cái nhu cầu ấy.

Khi còn là sinh viên trường Mỹ thuật, một hôm đang ngồi mải mê ghi lại một góc Lăng Ông trên giấy anh bỗng cảm thấy có ai đứng sau lưng mình, hẳn đã khá lâu, theo dõi công việc anh làm. Đến khi quay lại, anh thấy một cô gái nhỏ, tuổi trạc 15, 16, vẻ mặt thánh thiện và thật xinh đẹp. Anh lúng túng với những đường nét dở dang và không quay lại nhìn cô gái nữa. Không chỉ mắc cỡ, anh còn sợ mất thì giờ trau dồi nghề nghiệp. Những khi tan trường, hoặc ngày nghỉ học, anh luôn bắt gặp cô gái đứng nhìn anh vẽ đây đó với sự chăm chú của niềm say mê. Phải gần hai năm thầm lặng, anh mới tìm thấy can đảm cũng như thì giờ nói chuyện với cô. Cô đang học ban tú tài ở trường Marie – Curie. Cô mời anh đến thăm nhà và anh nhận lời, nhưng đến nhà cô anh cảm thấy nỗi xa cách với người con gái và càng dè dặt. Cô là con một chánh tổng đương quyền, giàu có, ở vùng Gia Định, sống trong biệt thự rộng lớn như một dinh cơ. Tuy nhiên, cô gái yêu nghệ thuật đó lại là một người trong sáng, hiền lành, xinh đẹp tuyệt vời nên anh không đủ can đảm để mà dứt khoát, dù anh biết rằng gia đình của cô sẽ không bao giờ chịu chấp nhận anh.

Chua-xe-Truong-Son-1970---Vu-Giang-Huong
Chữa xe – Trường Sơn 1970 – ký họa – Vũ Giáng Hương.

Rồi cuộc Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, tiếp đến là cuộc Nam bộ kháng chiến cuốn hút mọi người yêu nước vào hàng ngũ tấn công quân thù. Anh đã vội đến giã từ người yêu để sớm lên đường giết giặc. Anh chỉ nói được một câu ngắn ngủi: “Hãy quên anh đi”, và người con gái đứng yên, nước mắt tuôn dài. Rồi cô nghẹn ngào nói trong tiếng nấc: “Em vẫn mãi mãi yêu anh”. Họ hôn chiếc hôn chia tay, nụ hôn duy nhất của ba năm trời gặp gỡ, yêu thương và phải cách xa.

Từ đó hai người biền biệt không biết tin nhau. Anh bị chiến trường kéo đi khắp miền sông rạch phía Tây và không muốn gởi thư về cho người yêu dấu vì cảm thấy rõ cách ngăn ở giữa hai người, hơn nửa không muốn có mối liên hệ với một gia đình sống vùng bị tạm chiếm lại đang làm việc cho địch, còn phần cô gái thì làm sao biết được anh dừng bước nơi đâu.

Sáu năm xa cách và một ngày nọ, giữa đường, anh tiếp mấy người từ thành phố vào tham gia kháng chiến. Trong họ có người gần gũi gia đình cô gái, và anh biết được tin người mình yêu…

Hai năm sau khi anh đi, cô gái bị cha ép buộc lấy chồng. Người đến hỏi cô là một đồn trưởng, một sinh viên Pháp, đến tuổi thi hành quân sự và được điều sang chiến trường Việt Nam. Anh chàng đẹp trai rất hào hoa này vẫn thường ghé nhà của người Chánh Tổng dưới quyền, và đã phải lòng cô gái, nên xin cưới cô. Ông Chánh Tổng không mong ước gì hơn, xem đó là ân huệ lớn cho gia đình mình. Cô gái, sống dưới uy quyền của một người cha chuyên chế không dám chối từ nhưng cô tìm cách trì hoãn – lấy cớ là cần phải lấy xong bằng tú tài – hy vọng sẽ có tin tức người yêu để tìm sum họp. Một năm trôi qua. Cô gái thi hỏng, có lẽ là cô muốn vậy. Rồi cô xin hẹn lại một năm khác, nhưng người đồn trưởng không thể chờ lâu và người cha cô không chịu nhượng bộ. Vâng, cô sẽ lấy chồng. Người cha vui mừng sắm sửa cho con mọi thứ xa hoa. Sau ngày Giáng sinh, sẽ là lễ cưới. Buổi sáng ngày Giáng sinh ấy cô xin phép cha cho đi Đà Lạt, như người Sài Gòn xưa nay vẫn tìm đến miền cao nguyên này vào ngày hoa nở và trời giá lạnh. Cô chỉ muốn đi một mình và cô ăn mặc thật đẹp, tự lái chiếc xe du lịch lên ngả Lâm Đồng. Đến đèo Bảo Lộc, có người thấy cô dừng xe ra ngồi bên một bờ đá rất lâu ngắm nhìn núi rừng, có lẽ cô còn hy vọng, lần cuối, nhìn thấy bóng dáng người xưa. Rồi cô quay về, và cô xả hết tốc lực, đổ dốc, lao xuống hố sâu. Người ta tìm thấy xác cô trong chiếc xe hơi bẹp dí và một lá thư tuyệt mệnh. Cô không thể sống với người mà cô không yêu, và cô không muốn phản bội lời hứa của mình với kẻ ra đi…

Chắc anh đã đau khổ nhiều, sau khi biết tin, và cái chết ấy giúp anh nhìn thấy rõ hơn tình yêu ở nơi lòng mình. Anh biết anh không còn yêu được nữa. Đến ngày đình chiến 1954 đất nước bị chia làm hai, anh được trở về Sài Gòn hoạt động và theo ý kiến của những người thân, anh cần phải lập gia đình, phải nuôi con cái là để làm tròn trách nhiệm với cuộc sống này. Nhiều bạn giới thiệu với anh nhiều cô gái trẻ, độc thân, nhưng anh từ chối. Anh muốn tìm một người vợ đã có con sẵn, một người đã bị chồng bỏ hay đã bỏ chồng, hoặc một góa phụ, miễn là có con để anh tiếp tay nuôi dưỡng mà vợ khỏi cần phải sinh đẻ nữa. Điều đó cũng nằm trong cái quan điểm tiết kiệm thì giờ cũng như công sức của anh. Cuối cùng, anh gặp được một góa phụ hiền lành, có hai người con. Đám cưới được tổ chức chu đáo và xong cái lễ thành hôn anh đã là cha của hai đứa trẻ, một trai lên mười lăm tuổi và một gái lên mười tuổi. Anh rất yêu thương, chăm sóc hai người con này như là con đẻ của mình.

Rồi năm 1967 anh bị vào tù, vì hoạt động lại. Tôi cũng bị bắt một lượt với anh. Lúc đưa xuống trại tập trung Tân Hiệp (Biên Hòa) để chịu an trí dài hạn, anh đã tình nguyện làm hỏa đầu quân. Anh thích ăn uống nhiều chăng? Trái lại: Theo anh, khẩu phần của tù hết sức hạn chế và nhiều người lo bếp núc cho tù chỉ nghĩ đến giành phần lớn cho mình, lại quen lãng phí. Anh nói: “Từ đây, tôi nhường khẩu phần của mình cho các anh em”.

- Thế anh ăn gì?

- Ăn những cái gì đã được vứt đi.

Theo anh, các loại rau cải thường được cắt bỏ gốc rễ, ném vào sọt rác. Những gốc rễ đó là bộ phận của cây, nếu không nói là bộ phận quan trọng, tại sao không có giá trị dinh dưỡng? Anh rửa thật sạch các gốc rễ đó, đoạn nào già cỗi thì lột bỏ hết phần ngoài và lấy cái lõi bên trong để luộc chấm mắm. Còn cơm, nấu trong những chiếc chảo lớn vẫn còn phần cháy dưới cùng, thường được nạo bỏ. Nó vẫn là cơm, miễn là chưa cháy thành than, có thể nuôi sống con người. Và anh chỉ ăn các phần cháy ấy. Anh nói:

- Khối lượng thức ăn phải tùy khối lượng công việc. Ở tù, ăn làm gì nhiều? Những kẻ ngoài đời ráng ăn thừa mứa và bắt cơ thể đào thải vất vả, còn làm cái kho dự trữ nặng nề. Tiếp thu đã nhọc, bảo quản càng khó, vấn đề kho bãi ngoài đời đã là một vấn đề lớn, huống gì bắt cơ thể mình gánh phần chứa chấp gian nan. Cứ xem những người béo mập, phục phịch, có ai là sống lâu đâu? Họ phải trả giá cho sự ham ăn của họ.

Về sau, một người bạn thân đã cho tôi biết nguyên nhân khiến anh Lương Ngọc tình nguyện làm người nấu bếp trong tù Tân Hiệp: Khoảng 10 năm trước (cụ thể là ngày 14 tháng 6 năm 1958), tỉnh trưởng Định Tường – tức là Mỹ Tho – của ngụy, tên là Nguyễn Trân tập họp 13 nhà báo vốn từ các vùng kháng chiến trở về Sài Gòn và 3 cán bộ chính trị Việt Cộng để mở một cuộc “đấu lý” kéo dài 6 tiếng đồng hồ trước khi để họ ra về. Anh Lương Ngọc là một trong số các nhà báo đó. Sau này, qua câu chuyện kể với đám bạn bè, có người cũng dự cuộc đấu lý ấy chê anh Lương Ngọc đã quá ham hố ăn uống với các đồng đội trong mấy ngày cùng tập họp. Được nghe nói lại, anh Lương Ngọc rất buồn… Với anh, đó quả là lời vu cáo hết sức tồi tệ, nhằm bôi nhọ anh, một người luôn luôn chia sẻ, chịu sự thiệt thòi trong mọi quan hệ. Nhưng anh làm thinh không phản ứng gì. Chỉ mười năm sau, bị vào lao tù Tân Hiệp, anh mới có dịp cho thấy rằng suốt ba năm, anh đã không xâm phạm đến thực phẩm anh em mà còn trao cả phần mình cho người thiên hạ. Suốt ngày, quần quật dưới bếp phục vụ cơm nước cho trại, tối đến anh phải bị nhốt vào phòng như mọi tù nhân. Thường đêm, thấy anh trằn trọc, loay hoay, tôi hỏi:

- Không ngủ được sao?

- Được chứ. Làm việc cả ngày, tôi rất dễ ngủ. Nhưng ngủ nhiều, có ích gì? Chúng bắt giam giữ chúng ta là để trừng phạt, để những năm tháng trôi qua trong mỗi cuộc đời trở thành vô nghĩa, phí phạm. Nếu ta cũng để ngày giờ trôi đi mà không thu hoạch được gì hữu ích là mắc mưu địch, và là tự phản bội mình.

- Thế anh thu hoạch những gì?

- Nhiều lắm. Tôi chia mỗi tối ra thành ba phần. Phần giữa là ngủ. Phần cuối, thường đêm quá dài không sao ngủ hết, tôi dậy thật sớm, bấy giờ không khí im lặng, ít bụi, tôi ngồi thiền định và hít thở theo nội công. Thở, tức là sống. Hết thở, là chết. Do đó luyện thở cho sâu, cho mạnh, điều hòa khắp các cơ năng là điều tối cần, và giữ cho óc tập trung để được minh mẫn. Còn cái chặng đầu thì tôi suy nghĩ về những công việc sẽ làm một khi ra tù. Ở tù, không thể là sự lãng phí.

- Thế các công việc mà anh sẽ làm…

Anh nói:

- Nhiều lắm. Chúng ta không thể cứ sống thờ ơ như những con người xa lạ trên quê hương mình, nơi mà bao người lớp trước đã đổ mồ hôi và cả máu xương để tạo dựng nên. Không chỉ việc bảo vệ nó nhưng mình còn phải không ngừng tìm cách để phát huy nó, để bồi dưỡng nó, sao cho quê hương của mình đẹp hơn, mạnh hơn, càng ngày càng phong phú hơn, nếu không thì bọn chúng ta chỉ là một lũ vô ơn.

Theo anh, miền Nam là xứ nóng nên không cần phải quan tâm quá nhiều cái mặc mà nên lo trước cái ăn. Cơm gạo, thức ăn, cùng với chất đốt là ba đề tài mà anh suy nghĩ trong nhiều loại đề tài khác. Ruộng đất miền Nam mênh mông, thừa sức cung cấp cái ăn cho xứ sở này và xuất khẩu nữa. Trên cơ sở những hiểu biết vốn có từ lâu của mình, anh đã nghĩ đến một loại thuốc trừ sâu rầy phá hoại mùa màng hết sức công hiệu, chỉ dùng toàn những vật liệu dễ tìm trong nước, khỏi phải nhập những hóa chất tốn nhiều ngoại tệ. Đồng thời những thuốc của anh có tính xúc tác và cả bồi bổ, tăng trưởng hoa màu gấp bội mà không gây nên một tác hại nào.

- Về những thức ăn – anh nói – hàng năm chúng ta có một nguồn cá mênh mông khỏi phải nuôi dưỡng cũng như đánh bắt công phu. Sẽ đào ở Đồng Tháp Mười một cái hồ lớn rộng nhiều trăm mẫu, để hứng cá ở Biển Hồ hằng năm theo nước tràn về. Đất được vét lên, đắp ở quanh hồ sẽ trồng toàn dừa, đấy là chợ cá khổng lồ… Có thể chuyên chở đi khắp các nơi bằng những trực thăng… Còn chất đốt đã có sẵn với khối lượng lớn vô cùng, nếu biết khai thác cho có kế hoạch. Đó là than bùn ở U Minh, đào lên cho vào máy xay, pha trộn một tỷ lệ nhỏ lưu huỳnh rồi đem ép thành từng thỏi như viên gạch thẻ, có một sức nóng rất lớn, rất là tiện dụng và không quá đắt.

Nhiều bạn tù nghe anh nói đã không ngăn được nụ cười chế nhạo, một số tỏ ra thán phục, còn tôi – vốn không hiểu gì về những chuyện này – nên phải làm thinh, nhưng vẫn quí trọng tấm lòng của anh trước những vấn đề lớn lao của xã hội mình.

Cuối năm 1970 thì tôi ra tù, lần tù thứ ba trong 5 lần tù của thời chống Mỹ. Anh được tự do trước tôi khoảng chừng nửa năm, và nghe tin anh vẫn khỏe, tôi lấy làm mừng. Phải mấy tháng sau tôi mới đến thăm anh được và trong câu chuyện trao đổi, nghe anh than phiền về những bất công ở trong đời sống, tôi buột miệng nói:

- Mấy tiếng “công bằng” ta đề cập đến hàng ngày, nhưng có dễ gì thực hiện được đâu. Tôi nghĩ trước hết là điều kiện sống. Thử xem, như trời nóng gắt, cả đám vào ngồi trong một phòng nhỏ có chiếc máy lạnh thì chỉ những kẻ ngồi gần chiếc máy là hưởng được nhiều lạnh nhất. Và đó là lớp đặc lợi, đặc quyền. Còn đám ngồi xa, ở các góc phòng là lớp nghèo khổ, ít học, những kẻ không thế, không lực ở trong cuộc sống. Ngoài ra, cái văn hóa sống cũng tạo không ít bất công. Thông thường khi gặp một kẻ tồi tệ, khốn nạn người ta lớn tiếng mắng là “đồ chó!” hay “đồ chó đẻ!” nhưng không nghĩ rằng như thế là đã xúc phạm đến chó một cách nặng nề vì chó là vật thuần thục của người vào loại lâu đời hơn hết, là loài có nghĩa, có tình đặc biệt với bao tấm gương tốt đẹp đã được loài người ghi nhận, tôn vinh.

Những điều tôi nói về chó chừng như có làm cho anh thêm vui. Không ngờ sau đó một tuần anh đến thăm tôi và trao tôi một xấp khá dày gồm các tài liệu rất thực về chó mà anh sưu tầm, biểu dương bản chất thông minh và tính có nghĩa của giống loài này. Sau mấy tuần lễ đọc xong gần 200 trang chuyện chó, do những điều kiện giới hạn nhất định tôi đành tiếc rẻ gác lại những chuyện về chó nước ngoài để chọn những chuyện về chó Việt Nam – những chó của đất Tiền Giang xinh đẹp, kiên cường, quê hương của anh và những con chó yêu quí của gia đình anh, ở Lương Hòa Lạc, để viết tác phẩm Con chó hào hùng ấn hành vào giữa tháng 3 của năm 1973. Hẳn nhiên trong lời nói đầu, tôi có ghi rõ nội dung tác phẩm đã được xuất xứ từ đâu.

Đã lâu, do bị bận rộn nhiều việc, tôi không có dịp gặp anh. Độ ba bốn năm sau ngày Giải phóng, một hôm anh đến thăm tôi và nét mặt anh đượm vẻ u buồn. Chợ cá khổng lồ cho toàn miền Nam không thể thực hiện, vì bây giờ Khơme Đỏ đang uy hiếp vùng biên giới Tây Nam. Than bùn ở vùng U Minh thì từ nhiều tháng đã bị những kẻ phá rừng đốt cháy, ngầm trong lòng đất, mà không được sự dập tắt kịp thời. “Một sự lãng phí không lường được hết hậu quả” – anh chép miệng than.

- Còn thuốc trị sâu rầy?

- Tôi đã chế xong, phải mất hai năm thí nghiệm ở nhiều đám lúa ngoại thành. Kết quả khả quan ngoài sự chờ đợi. Tôi nhờ ông bạn đem xuống một tỉnh miền Tây, trình bày sản phẩm, đề nghị hợp tác sản xuất để tăng vụ mùa. Các lãnh đạo tỉnh bèn cho thí nghiệm, thấy kết quả tốt, rất là tán thưởng. Tôi được người ta lên đón bằng chiếc xe hơi 4 chỗ vào loại sang nhất và ở tại một khách sạn vào cỡ nhiều sao với những bữa ăn thịnh soạn. Thật lòng tôi không muốn sự ưu đãi tốn kém của dân như vậy. Rồi tôi được tỉnh giao cho một số chuyên viên ở ngành công tác cùng bàn phương án tiến hành. Những người này yêu cầu tôi viết cụ thể công thức của mình để đưa cấp trên xét duyệt. Qua những cung cách làm việc với họ tôi thấy ngờ vực, vì bạn hiểu rõ tôi hoàn toàn không vụ lợi, song những sáng chế của tôi cần được bảo đảm giá trị của nó. Tôi chỉ ghi mười chất liệu – và là thứ yếu – trong tổng số mười lăm chất tạo ra thành phẩm. Ghi xong, họ bảo tôi hãy về nhà chờ đợi, bao giờ được tin sẽ có giấy mời và mua cho tôi cái vé xe đò. Lúc xuống thì nào tiếp đón, liên hoan, khi về thì lạnh như tiền, không có một lời ơn nghĩa – dẫu là khách sáo. Tôi hiểu rằng cái giấy mời mà họ hứa gởi cho tôi dẫu chờ đến Tết Ma-rốc cũng không thấy được. Vì họ tưởng đã nắm được công thức và sẽ tha hồ khai thác để mà thủ lợi, còn tôi, sẽ chẳng bao giờ quay lại, cho dầu rước bằng kiệu vàng.

- Nhưng anh tạo ra sản phẩm để giúp đồng bào.

- Đúng vậy. Để giúp đồng bào, chớ không để giúp cho bọn đầu cơ, tham nhũng, trục lợi bất chính. Chỉ hợp tác được với những kẻ xấu khi nào chúng ta đã có ưu thế hơn hẳn. Tưởng nói thêm rằng những sự thử nghiệm vừa qua, dầu là khá tốt nhưng chỉ mới là bước đầu. Tôi cần theo dõi kỹ hơn để giúp năng suất của lúa tăng cao và cái giá thành của thuốc, dầu cũng đã thấp, nhưng cần phải thấp hơn nữa, để người nông dân thu lợi nhiều hơn. Ở một đất nước nông nghiệp, bao nhiêu ngàn năm sống nhờ hạt gạo nông dân, giữ vững độc lập cũng nhờ xương máu nông dân là chính, mà không lo lắng trước hết cho cái khối lượng nông dân đông đảo thì bao giờ mới ngóc đầu lên được? Thực sự, hễ nói yêu nước mà không sớm có biện pháp lo cho nông dân thì chẳng những là vong ơn mà còn là chuyện nói nhảm.

Một thời gian sau, tôi đến thăm anh. Anh ngồi xếp bằng theo lối thiền định, giữa một đống sách, trong cái chòi nhỏ lợp tôn, đôi mắt nhắm nghiền, im lặng như một pho tượng. Tôi phải đằng hắng rất lớn anh mới mở mắt. Anh mời tôi ngồi. Tôi thấy trên mặt đi-văng anh đang tọa thiền có lỗ hổng lớn. Anh vội giải thích:

- Đi-văng này cũ quá rồi, chỗ ấy đã bị mục nát. Bỏ đi thì cũng lãng phí, vá lại thì cũng uổng công, thôi thì để vậy mà dùng. Nhưng tôi sẽ không để lỗ hổng ấy trở thành vô dụng mà đặt ngay dưới đấy một cái can xăng mười lít. Khi mình cảm thấy đã suy yếu rồi, thì mình sẽ đến tọa thiền trên lỗ hổng ấy. Cái chết xuất hiện sẽ bắt đầu từ đôi chân, bấy giờ cặp chân lạnh trước rồi dần lên bụng, lên ngực, lên đầu. Khi lên tới bụng mình sẽ còn đủ thì giờ để cầm hộp quẹt, châm một ngòi lửa cuối cùng cho số xăng kia.

Anh tính chết trong tư thế tọa thiền vẫn gọn gàng hơn, nếu cần chôn cất thì cái áo quan cũng không tốn quá nhiều gỗ, chỉ thêm lãng phí, mà nếu xăng kia đủ thiêu cháy mình thì đỡ khiêng lên đến tận An Lạc, hay xuống tận dưới Đồi Viễn, thiêu xác, chỉ thêm mất tiền. Anh dừng lại, nhìn tôi nói tiếp:

- Ở trên lợp tôn, tường thì bằng gạch, bên ngoài có vạt sân nhỏ, như thế tránh được hỏa hoạn lây lan sang nhà đồng bào…

Anh đã dự tính được hết trong cái chu kỳ khép kín đời mình, và anh đặc biệt quan tâm chống điều lãng phí trong mọi lãnh vực, kể cả học tập, tình yêu, gia đình, và hợp tác ngoài xã hội cũng như lúc phải vĩnh viễn giã từ sự sống để trở về lại cuộc đời cát bụi.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 457

Ý Kiến bạn đọc