Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Từ Thi pháp đến Ký hiệu

(Tiếp theo số báo 579, ngày 2-1-2020)

 

Ký hiệu học nằm trong Thi pháp học và Thi pháp học là bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu hình thức của tác phẩm nghệ thuật. Khoa học này đã có từ thời cổ đại, ngày nay nó đang phát triển mạnh mẽ. Vì vậy, chúng tôi không nói đến lịch sử bộ môn này mà chỉ nói đến Thi pháp học qua sự vận dụng vào Việt Nam của Trần Đình Sử và Lã Nguyên. Bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu Thi pháp học hiện nay có thể tìm đọc Dẫn luận Thi pháp học của Trần Đình Sử, NXB Đại học Sư phạm. H.2017 và Thi pháp học của Phạm Ngọc Hiền, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2019. Qua hai công trình này, nhất là Thi pháp học của Phạm Ngọc Hiền trình bày rõ quá trình tiếp nhận Thi pháp học ở Việt Nam thời hiện đại, trên cả hai miền Bắc và Nam trước 1975 cho đến nay, với một thư mục sách tham khảo phong phú, tới 930 tên sách và bài báo.

Qua “bộ lọc Thi pháp Trần Đình Sử” thì văn học Việt Nam trước 1975 được hiểu như sau:

“Vấn đề nổi bật trong giao tiếp là ai nói, nói gì, nói với ai, nói thế nào, vạch ra các yếu tố ấy với trật tự của chúng trong một trào lưu văn học, ta có mô hình giao tiếp của trào lưu ấy (C.G nhấn mạnh). Trong trường hợp văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam… ta nghe được tiếng nói của kẻ chiến thắng, nói về bốn nhân vật – ký hiệu: lãnh tụ anh minh, mẹ vĩ đại, chúng con chiến đấu anh hùng, bên cạnh đó là kẻ thù – bầy thú man rợ, đã khái quát được các nhân vật chính của một nền văn học… Điều thú vị là không chỉ thơ mà cả văn xuôi hiện thực xã hội chủ nghĩa trên các nét lớn đều đặt vừa khít vào cái mô hình giao tiếp đó, nó chính là từ vựng cơ bản trong ngôn ngữ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước 1975. Nói đúng hơn đó là siêu ngôn ngữ của văn học tuyên truyền… Đó là siêu ngôn ngữ của một thời lạm phát các loại ký hiệu để động viên con người, tạo thêm động lực bổ sung khi trong thực tế con người chỉ có thiếu thốn và đau khổ, khi “tiếng hát át tiếng bom”, “một người làm việc bằng hai”, “một ngày bằng hai mươi năm”, “lịch sử chọn ta làm điểm tựa”, “trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa”. Văn học ấy là sản phẩm của trường ký hiệu ấy. Con người đương thời sống và cảm xúc trong dòng thác ký hiệu ấy mà phần nào cách ly với thực tế khắc nghiệt coi mô hình ấy là cuộc sống thật. Theo tôi, không chỉ văn học mà cả hội họa, điêu khắc, sân khấu và đặc biệt âm nhạc, ca khúc thời ấy cũng đều sáng tác theo mô hình giao tiếp này. Bạn sẽ hỏi: Vậy độc giả đương thời có hiểu nền văn học này theo mô hình giao tiếp kia hay không? Tôi nghĩ là họ vẫn hiểu như thế, nhưng xem đấy là chân lý duy nhất đúng và chân thật, đồng thời cảm thấy nó đẹp đẽ và ngọt ngào. Nhưng khi bạn đọc đã có ngữ cảnh khác, một mô hình giao tiếp khác, thì cái mô hình kia mới lộ ra sự khuôn sáo và sơ lược” (Trần Đình Sử. Lời bạt cho Phê bình ký hiệu học của Lã Nguyên. NXB Phụ nữ. H.2018. Trg.400-401).

Đoạn trích hơi dài. Nhưng chúng tôi nghĩ, bạn đọc thà đọc kỹ đoạn trích này (một trang in 13x19cm), còn hơn bỏ công sức ra đọc toàn bộ tác phẩm của Trần Đình Sử, dày phải đến hàng ngàn trang. Riêng Dẫn luận Thi pháp học văn học cũng đã dày 450 trang khổ lớn chữ nhỏ (17x24cm). Vì đoạn trích trên tiêu biểu cho toàn bộ học thuật của Trần Đình Sử, nhất là Thi pháp học. Thiết nghĩ đọc văn, nhất là văn khoa học, càng nên học tập phương pháp của cuộc sống. Dũng mãnh như Trâu chọi Đồ Sơn cũng chỉ sợi thừng xỏ mũi là dắt đi được. Tung chài nắm lấy chóp khiến con tuấn mã phải nắm chắc dây cương, đại loại thế.

Đoạn trích trên đặt ra bốn vấn đề:

- Ký hiệu học và văn học.

- Ngôn ngữ của văn học tuyên truyền.

- Lạm phát ký hiệu để động viên con người.

- Ngữ cảnh và giá trị của văn học.

Giải quyết được bốn vấn đề trên là dắt được “con voi lý luận Trần Đình Sử”. Xin được lần lượt.

Ký hiệu (ngôn ngữ) và văn học

Theo Trần Đình Sử, “phê bình ký hiệu học chính là phát hiện, kiến tạo ký hiệu, giải mã ký hiệu, phiên dịch ký hiệu, là giải thích ý nghĩa của các ký hiệu” (Phê bình ký hiệu học. Lời bạt. Sđd. Trg.403).

Hiện nay ký hiệu học được tung hô ghê lắm. Thậm chí những nhà thi pháp học hay ký hiệu học cực đoan còn cho rằng tác giả đã chết. Chỉ còn có văn bản và sự giải mã của nhà ký hiệu học, như phụ đề tên sách của Lã Nguyên: Phê bình ký hiệu học – Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ. Như thế người đọc, trước hết là nhà phê bình, không tìm nghĩa và giá trị, ý nghĩa của ngôn ngữ tác giả tại văn bản, cũng là ký hiệu của tác giả tại văn bản tác phẩm. Mà phải tìm ra ký hiệu của ký hiệu rồi giải thích ý nghĩa cho nó. Ký hiệu trước là của tác giả văn bản. Ký hiệu sau là của nhà phê bình ký hiệu học. Đây chính là con dao hai lưỡi (lưỡi ở hai phía) của phê bình ký hiệu học. Vì sao vậy? Vì ký hiệu do nhà phê bình kiến tạo và sự giải thích ý nghĩa của họ có thể không phản ánh đúng ý nghĩa của tác giả – văn bản, thậm chí rất khác đến đối lập.

Rất rõ ràng, trong toàn bộ thơ của Tố Hữu, Trần Đình Sử và Lã Nguyên trừu xuất hay là kiến tạo ra ký hiệu mới là bốn nhân vật – ký hiệu: lãnh tụ, mẹ, chúng con và kẻ thù, theo đó, ký hiệu này bị lạm phát, không phản ánh đúng bản chất của con người và xã hội như thực tại vốn có (?).

Chúng tôi thiết nghĩ, từ ký hiệu trong đời sống đến ký hiệu trong văn học không phải mới được phát hiện. Con người đã có khái niệm ký hiệu từ xa xưa. Không có lửa tại sao có khói. Như vậy, khói là ký hiệu (hay tín hiệu) cho biết có lửa. Lá cờ Hội hay cờ tang là ký hiệu để loan báo một thông tin. Tiếng nói là ký hiệu để giao tiếp. Chữ viết là ký hiệu cho tiếng nói. Ngày nay người ta có thể mua một quyển sách kèm theo một đĩa CD. Họ có thể đọc. Hoặc nghe đọc. Vậy thì không nên cường điệu hóa ký hiệu học trong văn học. Văn bản tác phẩm là ký hiệu của tác giả gửi thông tin đến cho bạn đọc rồi. Nhà phê bình văn học dù theo trường phái nào cũng nên làm phong phú nhưng phải trung thực cách hiểu về nghĩa – ý nghĩa mà ký hiệu của tác giả (văn bản) đã đưa ra. Nếu lại kiến tạo ra một ký hiệu mới trên nền ký hiệu của văn bản tác phẩm – tức của tác giả, sẽ có hai khả năng. Một là, kiến tạo được ký hiệu mới phản ánh chân thật hệ thống ký hiệu của tác giả – tác phẩm. Hai là, không phản ánh đúng, thậm chí xuyên tạc, áp đặt “ý nghĩa” của nhà phê bình lên ý nghĩa của tác giả – tác phẩm. Trường hợp này thể hiện rất rõ qua Thi pháp – Ký hiệu của Trần Đình Sử – Lã Nguyên với Thơ Tố Hữu và mở rộng ra là văn học hiện thực XHCN Việt Nam trước 1975.

Văn học tuyên truyền

Trần Đình Sử – Lã Nguyên và hơn thế nữa tỏ ra rất dị ứng với chức năng tuyên truyền của văn học. Quả là sáo chê chích chòe hay hót. Vì Trần Đình Sử đang tuyên truyền Thi pháp học của mình, tuy ông lấy nội dung đó của các nhà Thi pháp học nước ngoài. Và ông tận dụng mọi cơ hội để tuyên truyền: lên lớp cho sinh viên, hướng dẫn các luận án luận văn, soạn giáo trình, viết sách và các bài báo, tổ chức Hội thảo, phát biểu trong Hội nghị, tọa đàm, đưa nội dung tuyên truyền lên blogger của mình, tận dụng từng dòng từng chữ trên trang gấp bìa 1 bìa 4… Sao lại tự hài hước thế nhỉ. Có thể nói tuyên truyền là phương thức tồn tại của con người trong cuộc sống được tổ chức thành xã hội. Tuyên truyền để hiểu biết nhau. Để khẳng định và bảo vệ mình. Để giành được mục đích của mình. Các cá nhân tuyên truyền với nhau. Các cộng đồng đang tuyên truyền cho nhau. Các dân tộc đang tuyên truyền. Các hệ tư tưởng đang tuyên truyền tư tưởng của mình. Các tôn giáo đang tuyên truyền giáo lý và đức tin của họ. Nhà xuất bản Giáo dục đang tuyên truyền bốn bộ sách Giáo khoa (cấp I) mới. Các ông Ngô Trần Ái, Nguyễn Minh Thuyết, Đỗ Đức Thái đang tuyên truyền cho bộ SGK Cánh Diều. PGS.TS Tôn Phương Lan đang tuyên truyền cho đổi mới Phê bình văn học và các tác giả tiên phong như GS.TS Trần Đình Sử… Các bà nội trợ đang tuyên truyền với nhau. Các nhà đầu tư đang tuyên truyền sản phẩm của họ… v.v. và v.v… Vấn đề là xem xét nội dung của tuyên truyền, mục đích của tuyên truyền và trình độ (nghệ thuật) của tuyên truyền. Thông tin và công nghệ thông tin là phương tiện duy nhất của tuyên truyền. Về quan hệ giữa nghệ thuật với tuyên truyền thì ông Trường Chinh đã nói rõ từ năm 1948 rồi. Bây giờ ta hãy xem nhà Thi pháp học – con voi lý luận – Trần Đình Sử hiểu như thế nào về con người – cuộc sống và giá trị tuyên truyền của văn học trước 1975.

Lạm phát ký hiệu để động viên con người

Chúng tôi đặc biệt lưu ý luận điểm sau đây của Trần Đình Sử: “Đó là siêu ngôn ngữ của một thời lạm phát các loại ký hiệu để động viên con người, tạo thêm động lực bổ sung trong khi thực tế con người chỉ có thiếu thốn và đau khổ, khi “tiếng hát át tiếng bom”… (Trần Đình Sử. Lời bạt… Sđd trên).

Chỉ mấy dòng ngắn ngủi nhưng bộc lộ bản chất học thuật của Trần Đình Sử: Hoặc là ông không hiểu gì về cuộc sống chiến đấu, con người Việt Nam trong chiến đấu và văn học cũng đang tham gia vào cuộc chiến đấu đó. Hoặc là ông cố tình hiểu sai, cố tình xuyên tạc con người và cuộc sống và văn học trước 1975. Về ký hiệu (ngôn ngữ) thì nhà văn thời kỳ này đang bất lực về ngôn ngữ, đang rất thiếu hụt ngôn ngữ để diễn tả con người và cuộc sống kháng chiến. Làm sao đủ ngôn từ để phản ánh, ca ngợi những con người chân trần chí thép, chiến đấu anh dũng, hy sinh quả cảm, đến tính mạng cũng hiến dâng nhẹ tựa lông hồng. Chế Lan Viên không hề lạm phát ký hiệu nào mà ông đến với Đảng khi tận mắt chứng kiến sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ trong trận đánh đồn Tà Cơn (Quảng Trị) hồi kháng chiến chống Pháp. Và sau này, biết bao nhiêu tấm gương hy sinh oanh liệt trong kháng chiến chống Mỹ, từ chiến trường “nhằm thẳng quân thù mà bắn” đến trong tù ngục, thà chết để giữ trọn khí tiết người cách mạng. Người Việt Nam của thời đại đó rất thiếu thốn về vật chất, sống và chiến đấu rất gian khổ nhưng không đau khổ! Nếu đau khổ thì không ký hiệu ngôn ngữ nào vực họ đứng lên được. Chỉ có lòng yêu nước và niềm tin mới đem lại cho họ sức mạnh. “Tiếng hát át tiếng bom” là tiếng nói của sức mạnh tinh thần, của ý chí của niềm tin, đâu phải hát to lên cho khỏi sợ! Lịch sử chứng tỏ như thế. Tiếc thay, “con voi lý luận” Trần Đình Sử lại không biết đến hay cố tình không biết đến. Lý Tự Trọng, Lê Hồng Phong đã nói thế nào trước lúc hy sinh. Chị Huỳnh Thị Kiểng hai lần bị chặt chân – chặt cùng một bên chân – nhưng không khuất phục. Anh hùng Nguyễn Văn Thương bị CIA cưa chân sáu lần nhưng không khuất phục. Cuối cùng, một trung tá CIA phải thốt lên: “Ôi! Một sinh vật bằng thép! Chúng tôi đã thua ông!” (Mã Thiện Đồng. Người bị CIA cưa chân sáu lần. Tái bản lần thứ 11. NXB Tổng hợp TP.HCM – 2018). Mọi thủ đoạn tra tấn tinh vi tàn ác của CIA đã không khuất phục được Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Tài – con trai nhà văn Nguyễn Công Hoan, cháu gọi người Cộng sản Anh hùng Lê Văn Lương là chú ruột.

Nếu là ký hiệu, là tuyên truyền mà được ký hiệu, được tuyên truyền cho những con người như thế, cho một dân tộc, một sự nghiệp như thế thì dẫu ở ngữ cảnh nào, giá trị nhân văn của nền văn học đó vẫn không thay đổi.

Ngữ cảnh và giá trị văn học

Phần cuối của đoạn trích trên cho thấy quan điểm nghệ thuật của Trần Đình Sử: Khi ngữ cảnh (hoàn cảnh xã hội – hiện thực) thay đổi, khi xuất hiện mô hình giao tiếp mới thì mô hình giao tiếp cũ không còn giá trị. Khi Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh đem đến một hệ thống ký hiệu mới, mô hình giao tiếp mới thì Tố Hữu, Chế Lan Viên cũng… viên tịch! Đấy là quan điểm lấy hình thức nghệ thuật, lấy câu chữ làm cứu cánh chứ không phải giá trị nhân văn. Học thuật của Trần Đình Sử không nằm trong phạm trù “phò chính trừ tà, khuyến thiện trừng ác”, thiết tưởng không cần dài dòng biện biệt.

Chỉ mắc cười chỗ này: Ông cho thơ Tố Hữu có giọng quyền uy và các nhà thơ cách mạng khác cũng có giọng quyền uy, phải có giọng quyền uy (Xem Giáo trình Thi pháp học. Trường ĐHSP TP.HCM – 1993).

“Chỉ có một người cách mạng quyền uy như thế mới nói được tiếng nói quyền uy như thế… vì cách mạng rất cần quyền uy, phải có một tiếng “hô” cho muôn tiếng “ứng”. Quyền uy này không phải là của cá nhân Tố Hữu mà là của cách mạng” (Sđd. Trg.69).

Xin thưa, đã tuyên truyền thì không thể có giọng quyền uy được. Cùng với lạm phát ký hiệu để động viên… quả thực “con voi lý luận Trần Đình Sử” đã sáng tạo ra những cuộn tóc rối tự quấn vào chân mình.

Nhưng cái nguy hiểm nhất của Thi pháp Trần Đình Sử mà Lã Nguyên chỉ là cái bóng, là ở chỗ, nhà phê bình Ký hiệu học phải kiến tạo ra ký hiệu mới rồi giải thích nó mà không phải là giải thích ý nghĩa ở ngay ký hiệu của tác giả được định hình trong văn bản tác phẩm. Đây là chỗ chúng tôi đã nói, là con dao hai lưỡi, là tính hai mặt của Thi pháp Trần Đình Sử.

Thi pháp học chân chính nghiên cứu nghệ thuật sáng tạo của nhà nghệ sĩ thì đời nào cũng phải được trân trọng. Nhưng Thi pháp Trần Đình Sử – Lã Nguyên chỉ nói đến hình thức mà lảng tránh nội dung, thậm chí hiểu sai cả sự thực đời sống – là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm lý thuyết. Có phải “con người đương thời (trước 1975) sống và cảm xúc trong dòng thác ký hiệu ấy mà phần nào cách ly với thực tế khắc nghiệt, coi mô hình ấy là cuộc sống thực”? Cuộc sống tạo ra cảm xúc cho văn học, cho mô hình và ký hiệu hay mô hình và ký hiệu của văn học tạo ra cuộc sống? Hãy đặt Miền hoang (Sương Nguyệt Minh) bên cạnh Chuyện lính Tây Nam (Trung Sĩ), nhất là Mùa chinh chiến ấy (Đoàn Minh Tuấn) xem sự kiến tạo ký hiệu rồi giải nghĩa ký hiệu của Lã Nguyên – Trần Đình Sử đã xuyên tạc đến như thế nào!

Học thuật vô cùng, khiêm tốn lắm may ra… GS.TS.NGND Trần Đình Sử lại rất ngạo mạn. Ví von ngầm cho mình là “con voi lý luận”, khinh bỉ thương hại bạn đồng nghiệp. Một cái lông voi đã thành câu chuyện. Cả một con voi thì… lẽ nào không cúi đầu ngả mũ mà rằng: Thưa GS! Thầy minh lắm ạ!

Đồng Nai Hạ. Mùa Giáng sinh 2019

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 580

Ý Kiến bạn đọc